KHẢO SÁT VẤN ĐỀ VĂN HÓA DOANH NGHIỆP TẠI CÁC CÔNG TY CỔ PHẦN VIỆT NAM TRÊN ĐỊA BÀN TRUNG TÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - Pdf 30

KHẢO SÁT VẤN ĐỀ VĂN HÓA DOANH NGHIỆP TẠI
CÁC CÔNG TY CỔ PHẦN VIỆT NAM TRÊN ĐỊA BÀN
TRUNG TÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
MỤC LỤC
Trang
Danh mục các chữ viết tắt viii
Danh mục các bảng ix
Danh mục các hình x
Danh mục phụ lục xi
CHƯƠNG 1 1
MỞ ĐẦU 1
1.1.Đặt vấn đề 1
1.2.Mục tiêu nghiên cứu 2
1.2.1.Mục tiêu tổng thể 2
1.2.2.Mục tiêu cụ thể 3
1.3.Phạm vi nghiên cứu 3
1.4.Cấu trúc của khóa luận 3
CHƯƠNG 2 5
TỒNG QUAN VỀ CÁC CÔNG TY CỔ PHẦN Ở KHU VỰC TRUNG TÂM
TP.HCM VÀ TÌNH HÌNH VHDN CỦA CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM KỂ
TỪ NĂM 1990 ĐẾN NAY 5
2.1.Tổng quan về các Công ty Cổ phần Việt Nam ở địa bàn khu vực trung tâm TP.HCM 5
2.2. Đặc điểm VHDN của các DN của 2 cường quốc kinh tế Mỹ và Nhật Bản 6
2.3. Đặc điểm VHDN của các DN Việt Nam 7
2.2.1.VHDN với sự ảnh hưởng của văn hóa dân tộc 7
2.2.2. Xu hướng phát triển chủ yếu của VHDN từ những năm 90 của thế kỷ XX đến nay 9
2.2.3.Những đặc điểm VHDN của các DN Việt Nam thời kỳ hội nhập 9
CHƯƠNG 3 11
NỘI DUNG NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP KHẢO SÁT TÌNH HÌNH VHDN
TẠI CÁC CỔ PHẦN Ở KHU VỰC TRUNG TÂM TP.HCM 11

4.7.4.Nhận xét 73
4.8.Mối quan hệ giữa các yếu tố tạo nên VHDN và sức mạnh VHDN 74
4.8.1.Mối quan hệ giữa yếu tố Biểu trưng văn hóa và tính đồng thuận của VHDN 74
4.8.2.Mối quan hệ giữa những yếu tố tạo thành VHDN với sức mạnh văn hóa của DN. .77
4.9. Các biện pháp xây dựng nền VHDN mạnh đối với các Công ty Cổ phần Việt Nam ở
Khu vực Trung tâm TP.HCM 80
4.9.1.Xây dựng hệ thống chuẩn mực đạo đức 80
4.9.2.Xây dựng “Khung Logic” cho các dự án xây dựng VHDN 83
4.9.3.Khung Logic Xây dựng VHDN cho Công ty Cổ phần nghiên cứu thị trường và tổ
chức sự kiện MRD, viết tắt MRD.JSC thông qua chương trình xây dựng và quán triệt hệ
thống các giá trị của DN 84
CHƯƠNG 5 92
KẾt luẬn - kiẾn nghỊ 92
5.1.Kết luận 92
5.1.1.Điểm mạnh 92
5.1.2.Hạn chế 92
5.2. Kiến nghị 93
5.2.1.Đối với Chính phủ và các Hiệp hội DN ở TP.HCM 93
5.2.2.Đối với sinh viên mới tốt nghiệp và những người đang kiếm việc làm 93
TÀI LIỆU THAM KHẢO 95
PHỤ LỤC 88
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
TP.HCM Thành Phố Hồ Chí Minh
VHDN Văn Hóa Doanh Nghiệp
Sở KH & ĐT Sở Kế Hoạch và Đầu Tư
DN Doanh nghiệp
viii
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1. Tỷ Lệ Về Số Lượng và Tổng Số Vốn Của Công ty Cổ phần và Các DN
Thuộc Các Loại Hình Còn Lại Của Các Quận Trung Tâm TP.HCM So Với Toàn

Hình 3.3. Phân Loại VHDN Theo Deal và Kennedy 23
Hình 4.1. Cách Mã Hóa Bảng Câu Hỏi 51
Hình 4.2. Cách Mã Hóa Dữ Liệu Trong Excel 52
Hình 4.3. Cách Mã Hóa Các Câu Hỏi Trong Excel 53
Hình 4.4. Câu Trả Lời Được 2 Điểm Biểu Trưng VHDN 56
Hình 4.5. Câu Trả Lời Được 1 Điểm Biểu Trưng VHDN 57
Hình 4.6 Câu Trả Lời Không Có Điểm Biểu Trưng VHDN 58
Hình 4.7. Câu Trả Lời Được 1 Điểm Hệ Thống Chuẩn Mực Đạo Đức 59
Hình 4.8. Câu Trả Lời Không Có Điểm Hệ Thống Chuẩn Mực Đạo Đức 60
Hình 4.9. Câu Trả Lời Không Có Điểm Hệ Thống Chuẩn Mực Đạo Đức 60
Hình 4.10 Câu Trả Lời Được 1 Về Cách Nhìn Nhận VHDN Của Công ty 61
Hình 4.11. Câu Trả Lời Không Có Điểm Về Cách Nhìn Nhận VHDN 62
Hình 4.12. Bảng Khảo sát Thể Hiện Phong Cách Lãnh Đạo Nhất Quán 63
Hình 4.13. Bảng Khảo sát Thể Hiện Phong Cách Lãnh Đạo Không Nhất Quán 64
x
DANH MỤC PHỤ LỤC
Phụ Lục 1: Danh Sách Các Công ty Cổ phần Khảo Sát
Phụ Lục 2: Bảng Câu Hỏi Khảo Sát
v
xi
CHƯƠNG 1
MỞ ĐẦU
1.1.Đặt vấn đề
Ở Việt Nam, đặc biệt trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh, hàng năm có
đến hàng ngàn DN mới được thành lập. Theo số liệu thống kê của Sở Kế Hoạch và
Đầu Tư TP.HCM, năm 2007, số DN đăng ký kinh doanh mới là 24.165. Trong 6
tháng đầu năm 2008, số DN mới thành lập là 13.355. So với các loại hình DN khác
hiện nay ở nước ta, thì loại hình DN là Công ty Cổ phần (hình thức pháp lý liên kết
các nhà đầu tư, các chủ thể kinh doanh cùng nhau hùn vốn để thành lập và tổ chức vận
hành Công ty theo những mục đích nhất định) có nhiều lợi thế hơn hẳn. Lợi thế hơn

đặc trưng cho từng Công ty. Qua đó nâng cao sức cạnh tranh cho các DN Việt Nam
trong giai đoạn hội nhập kinh tế với sự cạnh tranh khốc liệt của các hãng hàng đầu thế
giới, khi yếu tố văn hóa dần lấn át yếu tố công nghệ trong việc tạo ra lợi thế cạnh
tranh. Đó là lý do người làm đề tài chọn đề tài: “KHẢO SÁT VẤN ĐỀ VĂN HÓA
DOANH NGHIỆP TẠI CÁC CÔNG TY CỔ PHẦN VIỆT NAM TRÊN ĐỊA BÀN
TRUNG TÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH” làm bài luận văn tốt nghiệp cử nhân
chuyên ngành Quản trị kinh doanh khóa học 2004 – 2008 của trường Đại học Nông
Lâm TP.HCM.
1.2.Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1.Mục tiêu tổng thể
Kết quả của cuộc khảo sát sẽ rất hữu ích cho các hiệp hội DN ở TP.HCM nhìn
lại thực trạng VHDN của các thành viên và có những biện pháp hiệu quả để xây dựng
nền VHDN mạnh, đáp ứng được những đòi hỏi của thời đại. Tự các DN sẽ có cái nhìn
nghiêm túc về tầm quan trọng của VHDN và việc xây dựng bản sắc riêng cho tổ chức
của mình. Trên cơ sở nền VHDN mạnh, các DN tạo dựng môi trường kinh doanh
2
thuận lợi, thu hút được nhân lực, thu hút đầu tư và tạo niềm tin từ phía khách hàng, đối
tác. Dựa trên sự đồng thuận nội bộ, các nhà quản trị vạch ra chiến lược phát triển dài
hạn và bến vững cho DN mình.
1.2.2.Mục tiêu cụ thể
- Đánh giá sức mạnh VHDN của các Công ty Cổ phần Việt Nam ở khu vực
trung tâm TP.HCM.
- Phân tích đặc điểm chung VHDN của các Công ty.
- Tìm mối liên hệ giữa sức mạnh văn hóa của các DN với các yếu tố tạo nên
VHDN.
- Trên cơ sở đó, phải đưa ra những nhận định và giải pháp để xây dựng nền văn
hóa mạnh cho các Công ty Cổ phần Việt Nam ở khu vực trung tâm Thành Phố
nói riêng và các DN Thành Phố Hồ Chí Minh nói chung.
1.3.Phạm vi nghiên cứu
Đề tài khảo sát vấn đề VHDN của các Công ty Cổ phần Việt Nam trên địa bàn

và sức mạnh VHDN.
Chương 5 đưa ra kết luận về tình hình VHDN của các Công ty Cổ phần Việt
Nam khu vực trung tâm TP.HCM. Đồng thời, đưa ra những kiến nghị để giúp các
Công ty Cổ phần nói riêng và các DN Việt Nam trên địa bàn TP.HCM nói chung xây
dựng nền VHDN mạnh và mang bản sắc riêng cho từng DN. Phần kiến nghị dành cho:
(1) Chính phủ, (2) Các Hiệp hội DN, (3) Các DN, (4) Sinh viên mới ra trường và
những người đang kiếm việc làm.
4
CHƯƠNG 2
TỒNG QUAN VỀ CÁC CÔNG TY CỔ PHẦN Ở KHU
VỰC TRUNG TÂM TP.HCM VÀ TÌNH HÌNH VHDN
CỦA CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM KỂ TỪ NĂM
1990 ĐẾN NAY.
2.1.Tổng quan về các Công ty Cổ phần Việt Nam ở địa bàn khu vực trung tâm
TP.HCM
Bảng 2.1. Tỷ lệ về số lượng và tổng số vốn của Công ty Cổ phần và các DN thuộc các
loại hình còn so của các quận trung tâm TP.HCM so với toàn TP.HCM.
Địa bàn Công ty Cổ phần Các loại hình còn lại
Số lượng Vốn (tỷ đồng) Số lượng Vốn (tỷ đồng)
Quận 1 1.482 114.002 11.549 40.339
Quận 3 853 40.300 6.377 23.100
Quận 5 318 11.973 5.695 11.946
=> Trung Tâm TP 2.653 166.275 23.621 75.385
TP.HCM 10.137 338.891 118.324 283.317
Q1 /T P.HCM 14,62% 33,64% 9,8% 14,24%
Q3 /T P.HCM 8,41% 11,89% 5,39% 8,15%
Q5 /T P.HCM 3,14% 3,53% 4,81% 4,22%
TT TP / TP.HCM 26,17% 49,06% 19,96% 26,61%
(Nguồn: Sở KH & ĐT TP.HCM)
Bảng 2.2 : Tỷ lệ về số lượng và tổng số vốn của Công ty Cổ phần so với DN của tất cả

đúng đắn để phát triển và quảng bá thương hiệu của doanh nghiệp mình. Điều đó có
thể thấy rõ khi chúng ta quan sát mô hình quản lý doanh nghiệp Nhật Bản. Một mặt,
người Nhật tiếp thu cách quản lý doanh nghiệp và kỹ thuật tiên tiến của Mỹ; mặt khác,
các doanh nghiệp Nhật đã chú trọng thích đáng đến việc xây dựng văn hóa doanh
nghiệp, làm cho bản sắc văn hóa dân tộc hòa quyện trong văn hóa doanh nghiệp.
Ai cũng biết sau thế chiến thứ hai, trong khi tiếp thu ở quy mô lớn hệ thống lý
luận quản lý tiên tiến của Mỹ và châu Âu, Nhật Bản đã biết gạt bỏ chủ nghĩa cá nhân
và chủ nghĩa tự do vốn là cơ sở của lý luận quản lý Âu, Mỹ để giữ lại văn hóa quản lý
kiểu gia tộc. Vì sao vậy? Vì chủ nghĩa tự do và chủ nghĩa cá nhân xung đột với văn
hóa truyền thống của Nhật Bản. Văn hóa Nhật Bản suy cho cùng hòa đồng gắn bó mật
thiết với tinh thần “trung thành hiếu đễ” của Khổng Tử. Với sự lựa chọn khôn ngoan
6
đó, các doanh nghiệp Nhật Bản đã làm cho văn hóa doanh nghiệp hòa nhập với bản
sắc văn hóa dân tộc, sáng tạo ra hệ thống quản lý độc đáo kiểu Nhật Bản. Cốt lõi của
quản lý Nhật Bản là chế độ làm việc suốt đời, trật tự công lao hằng năm, công đoàn
nằm trong nội bộ doanh nghiệp. Đây thực sự là ba bí quyết lớn của quản lý Nhật Bản.
Rõ ràng, một trong những nguyên nhân làm cho các công ty lớn của Nhật phát triển
mạnh mẽ chính là họ biết gắn công nghệ, kỹ thuật, cách thức quản lý doanh nghiệp
hiện đại với văn hóa Nhật vốn lấy trung hiếu làm gốc.
So với châu Âu, văn hóa doanh nghiệp nước Mỹ cũng có những điểm khác biệt.
Mặc dù đa số người Mỹ là người Anh và người châu Âu di cư, nhưng khi sang lục địa
mới, họ nuôi dưỡng trong mình chí tiến thủ mạnh mẽ, tinh thần chú trọng thực tế cộng
với tinh thần trách nhiệm nghiêm túc. Tất cả những điều đó đã tạo nên một bản sắc văn
hóa mới – bản sắc văn hóa Mỹ. Người Mỹ cho rằng, ai cũng có quyền lợi hưởng cuộc
sống hạnh phúc tự do bằng sức lao động chính đáng của họ. Bản sắc văn hóa Mỹ làm
cho người ta học được chữ tín trong khế ước và tất cả mọi người đều bình đẳng về cơ
hội phát triển: ai nhanh hơn, thức thời hơn, giỏi cạnh tranh hơn thì người đó giành
thắng lợi. Có thể nói, ý thức suy tôn tự do, chú trọng hiệu quả thực tế, phóng khoáng,
khuyến khích phấn đấu cá nhân đã trở thành nhịp điệu chung của văn hóa doanh
nghiệp nước Mỹ. Đây là những bài học kinh nghiệm hết sức quý báu cho các nước

lý kinh doanh DN cần phải được tổ chức lại trên các phương diện và giải quyết hài hòa
các mối quan hệ: quan hệ thiên nhiên với con người, quan hệ giữa con người với con
người, giữa cá nhân với cộng đồng, giữa dân tộc và nhân loại…
Ngày nay, DN Việt Nam đang đứng trước những cơ hội mới. Toàn cầu hóa
kinh tế đòi hỏi việc xây dựng VHDN phải có những bước tính khôn ngoan, lựa chọn
sáng suốt. Không thể để xảy ra tình trạng quốc tế hóa VHDN, mà phải trên cơ sở văn
hóa Việt Nam để thu hút lấy tinh hoa của nhân loại, sáng tạo ra VHDN tiên tiến nhưng
phù hợp với tình hình và bản sắc văn hóa Việt Nam.
(Mai Hải Anh, 2007. Văn hóa doanh nghiệp Việt Nam trước những đòi của
thực tiển, Tạp chí cộng sản số 13: trang 5)
8
2.2.2. Xu hướng phát triển chủ yếu của VHDN từ những năm 90 của thế kỷ XX
đến nay
Từ cái nhìn vĩ mô, có thể thấy quá trình xác lập và xây dựng VHDN không
ngừng thay đổi theo sự phát triển của thời đại và của dân tộc. Từ những năm 90 của
thế kỷ XX đến nay có 4 xu hướng phát triển chủ yếu của VHDN:
- Tôn trọng con người với tư cách là chủ thể hành vi, coi trọng tính tích cực và
tính năng động của con người trong kinh doanh, coi việc nâng cao tố chất của con
người là điều kiện quan trọng đầu tiên của phát triển DN;
- Coi trọng chiến lược phát triển và mục tiêu cơ bản của DN để bồi dưỡng ý
thức VHDN cho toàn thể công nhân viên chức;
- Coi trọng việc quản lý môi trường vật chất và tinh thần của DN, tạo ra một
không gian văn hóa tốt đẹp, bồi dưỡng ý thức tập thể và tinh thần đoàn kết nhằm cống
hiến sức lực và trí tuệ cho DN;
- Coi trọng vai trò tham gia quản lý của công nhân viên chức, khích lệ tinh thần
trách nhiệm của tất cả các thành viên trong DN.
(Mai Hải Anh, 2007. Văn hóa doanh nghiệp Việt Nam trước những đòi của
thực tiển, Tạp chí cộng sản số 13: trang 5)
2.2.3.Những đặc điểm VHDN của các DN Việt Nam thời kỳ hội nhập
Trong giai đoạn hội nhập kinh tế thế giới hiện nay, VHDN Việt Nam có 4 đặc

trong DN chấp thuận, có ảnh hưởng trực tiếp đến hành động và việc ra quỵết định
hàng ngày của từng người và hướng dẫn cho những thành viên mới tôn trọng và làm
theo. Chính vì vậy chúng được coi là bản sắc văn hóa của DN.(Nguyễn Mạnh Quân,
Giáo trình đạo đức kinh doanh và văn hóa doanh nghiệp, 2007)
b.Đặc điểm của VHDN
- Thứ nhất, văn hóa liên quan đến nhận thức: Các cá nhân nhận thức được trong
phạm vi Công ty. Cho dù các thành viên của DN có trình độ hiểu biết khác nhau, công
tác ở các vị trí khác nhau, họ luôn có xu hướng mô tả văn hóa theo cách thức tương tự.
Đó là sự chia sẽ về VHDN.
- Thứ hai, VHDN có tính thực chứng. VHDN đề cập đến cách thức các thành
viên nhận thức về DN. Có nghĩa là, nhận thức đó sẽ mô tả hệ thống các ý nghĩa và giá
trị của tổ chức.
3.1.2.Đánh giá tính chất mạnh, yếu của VHDN
Mỗi DN đều có văn hóa đặc trưng, nhưng không phải các VHDN đều có thể
gây ảnh hưởng giống nhau đối với thành viên của DN. VHDN có thể khác nhau đáng
kể về sức mạnh tương đối của chúng. VHDN mạnh thường được đặc trưng bởi một
phong cách riêng với những yếu tố khác biệt với những tổ chức khác tuy vô hình
nhưng rất dễ nhận ra như bầu không khí bên trong tổ chức, sự nhiệt tình trong lao động
và sự tinh tế trong mối quan hệ con người. Trong những tổ chức như vậy, các giá trị
chủ đạo được mọi thành viên trong tổ chức cùng chia sẽ và kiên quyết duy trì. VHDN
mạnh có ảnh hưởng lớn hơn đối với các thành viên so với các VHDN yếu, do mức độ
chấp nhận các giá trị chủ đạo và quyết tâm thực hiện của thành viên tổ chức cao hơn,
họ cam kết và gắn bó chặc chẽ hơn đối với các giá trị này.
Để minh họa cho sự tác động của các yếu tố văn hóa đến các thành viên trong
một doanh nghiệp, người làm đề tài lấy trường hợp Tập đoàn Công Nghệ Tinh Vân.
Tinh Vân tự hào không chỉ chuyên nghiệp trong lĩnh vực CNTT mà còn vì một nền
văn hóa phong phú, có bản sắc riêng, đồng thời là tình cảm yêu mến bền lâu trong lòng
mỗi thành viên Tinh Vân. Từ những ngày mới thành lập, văn hóa công ty đã được Ban
lãnh đạo Tinh Vân chú trọng, bởi trước hết, họ là những người rất coi trọng các giá trị
tinh thần và mong muốn xây dựng cho các nhân viên của mình một nền văn hóa phong

“Người lính kinh doanh” là đặc trưng VHDN của Mai Linh. Màu xanh chủ đạo thể
hiện tinh thần của những anh lính cụ Hồ đoàn kết, lạc quan và bất khuất. Trong văn
hóa Mai Linh có văn hóa nụ cười, xuất phát từ nụ cười người lính trong chiến tranh:
Mưa bom bão đạn, lòng thanh thản/ Nhạt muối vơi cơm, miệng vẫn cười. Với Mai
Linh, văn hoá nụ cười thể hiện sự vui vẻ, chân thành và cũng là biểu hiện của sự tự tin,
tự trọng và tấm lòng tôn trọng khách hàng. Nói một cách ngắn gọn, văn hoá của Mai
Linh bắt đầu từ con người, từ đạo đức của con người, từ dịch vụ phục vụ con người
với tiêu chí an toàn là trên hết. Sự đồng lòng tôn trọng khách hàng đã được truyền lại
từ những người lãnh đạo mẫu mực. Trong gia đình Mai Linh, nguyên tắc ứng xử từ
13
trên xuống dưới đều được thống nhất trên cơ sở tình yêu thương, xây dựng và hiểu
biết, thông cảm lẫn nhau. Có rất nhiều câu chuyện hay thể hiện lòng trung thực của
nhân viên Mai Linh được truyền miệng hoặc đưa lên mạng Internet. Trong hoạt động sản xuất
kinh doanh, Công ty cổ phần Mai Linh luôn luôn ý thức thực hiện trách nhiệm tri ân của mình đối với xã hội. Mỗi cán bộ, nhân viên công ty
luôn sẵn sàng tham gia vào các hoạt động xã hội. Công ty thường xuyên tự tổ chức các phong trào nhân
các ngày lễ lớn, hoặc phong trào do các tổ chức, ban ngành đoàn thể phát động: Hiến
máu nhân đạo, Lá lành đùm lá rác, Ủng hộ, gây quỹ giúp đỡ nạn nhân chất độc da
cam. Vào mỗi dịp Lễ, Tết, sinh nhật công ty tất cả nhân viên đều được tặng quà.
Trong công ty, những người lãnh đạo của Mai Linh như là những người anh, người
chú trong gia đình, biết lắng nghe, chia sẽ nguyện vọng của nhân viên, chân tình chỉ ra
cái sai và có biện pháp đào tạo. Trên ai hết, những người lãnh đạo chính là những tấm
gương mẫu mực. Cũng chính nhờ sự đồng lòng đó mà Mai Linh phát triển lớn mạnh
như ngày hôm nay. Mai Linh không còn là công ty chuyên về dịch vụ taxi mà đã trở
thành một tập đoàn bao bao gồm 75 công ty thành viên, hoạt động trong các lĩnh vực:
Vận tải, Du lịch, Đào tạo, Tài chính, Xây dựng, thương Mại, Tư vấn & quản lý,
CNTT & truyền thông với tổng số vốn điều lệ 380 tỷ đồng và hơn 10.000 nhân viên.
Địa bàn kinh doanh của Mai linh trải dài từ Bắc vào Nam.
Ngược lại, ở những Công ty không có sự phân biệt rõ ràng điều gì là quan
trọng, điều gì không thì VHDN đựoc coi là yếu. Người quản lý ở những DN như vậy ít
chịu ảnh hưởng bởi các giá trị chủ đạo. Việc ra quyết định thiếu nhất quán bởi chúng

VHDN của một Công ty tồn tại ở hai cấp độ:
a.Các biểu trưng trực quan
Biểu trưng trực quan của là bề nổi của VHDN, là những gì mọi người có thể dễ
dàng nhìn thấy, nghe thấy, sờ thấy như phong cách, sắc màu kiểu dáng kiến trúc, hành
vi, trang phục, biểu tượng, lễ nghi, ngôn ngữ…Những biểu trưng trực quan điển hình
là:
- Kiến trúc đặc trưng: Những kiến trúc đặc trưng của một DN gồm kiến trúc
ngoại thất và thiết kế nội thất công sở.
15
Phần lớn những Công ty thành đạt hoặc đang phát triển muốn gây ấn tượng đối
với mọi người về sự khác biệt, thành công và sức mnh của họ ằng những công trình
kiến trúc đặc biệt và đồ sộ. Những công trình kiến trúc công trình này được sử dụng
như biểu tượng và hình ảnh về Công ty. Những thiết kế nội thất cũng rất được các
Công ty, tổ chức quan tâm. Từ những vấn đề rất lớn như tiêu chuẩn hóa về màu sắc,
kiểu dáng của bao bì đặc trưng, thiết kế nội thất như mặt bằng, quầy, bàn ghế, phòng,
giá để hàng, lối đi, loại dịch vụ, trang phục…đến những chi tiết nhỏ nhặt như đồ ăn,
công tắc điện, thiết bị và ví trí của chúng trong phòng vệ sinh…Tất cả đều được sử
dụng để tạo ấn tượng thân quen, thiện chí, và được quan tâm. Thiết kế kiến trúc được
các DN rất quan tâm là vì những lý do sau:
+ Kiến trúc ngoại thất có thể ảnh hưởng quan trọng đến hành vi con
người về phương diện cách thức giao tiếp, phản ứng và thực hiện công việc.
+ Công trình kiến trúc có thể được coi là một linh vật biểu thị một ý
nghĩa, giá trị nào đó của một tổ chức, DN.
+ Kiểu dáng kết cấu có thể được coi là biểu tượng cho phương châm
chiến lược của DN.
+ Công trình kiến trúc trở thành một bộ phận hữ cơ trong các sản phẩm
của Công ty.
+ Trong mỗi công trình kiến trúc đều chứa đựng những giá trị lịch sử
gắn liền với sự ra đời và trưởng thành của DN, các thế hệ nhân viên.
- Nghi lễ

- Giai thoại
Giai thoại thường được thêu dệt từ những sự kiện có thực được mọi thành viên
trong DN cùng chia sẽ, và nhắc lạ với những thành viên mới. Nhiều mẩu chuyện kể về
những nhân vật anh hùng của DN như những mẫu hình lý tưởng về những chuẩn mực
và giá trị VHDN. Một số khác có thể biến thành huyền thoại chứa đựng những giá trị
và niềm tin trong DN và không được chứng minh bằng các bằng chứng thực tế. Các
mẫu chuyện có tác dụng duy trì sức sống cho các giá trị ban đầu của DN và giúp thống
nhất về nhận thức của tất cả mọi thành viên.
Minh họa giai thoại VHDN: Tại Công ty Mỹ 3M (Minesota Mining &
Manufacturing), những người lãnh đạo cấp cao của Công ty luôn tìm cách làm sống
động những mẫu chuyện về những đề án sáng tạo đã từng bị những người lãnh đạo bõ
lỡ. Một người hùng trong mẫu chuyện đã âm thầm theo đuổi một đề án như vậy và đã
chứng minh được sự sai lầm của những người lãnh đạo bằng việc đưa ra một sản phẩm
mới rất thành công. Những mẫu chuyện này đã được nhắc di nhắc lại bởi các thế hệ
những người lãnh đạo cao cấp của Công ty nhằm nhấn mạnh tinh thần làm chủ ở Công
ty 3M và gửi đến cán bộ cong nhân viên của Công ty một thông điệp rằng, nếu bị thất
vọng và cảm thấy chán nản, thì họ cần hiểu rằng họ không phải là những người đầu
tiên và cần phải biết vượt qua những khó khăn, thất bại trong quá trình sáng tạo.
- Biểu tượng
17

Trích đoạn Phân loại phong cách lãnh đạo Phân loại VHDN
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status