Stress nghề nghiệp của người lao động trong các doanh nghiệp tư nhân trên địa bàn thành phố hà nội - Pdf 30



ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Nguyễn Thị Hƣờng

STRESS NGHỀ NGHIỆP CỦA NGƢỜI LAO ĐỘNG
TRONG CÁC DOANH NGHIỆP TƢ NHÂN TRÊN ĐỊA
BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC HÀ NỘI - 2014 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN


Tôi cũng xin cam đoan rằng các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn
gốc.

Hà Nội, ngày 19 tháng 11 năm 2014
NGUYỄN THỊ HƢỜNG

LỜI CẢM ƠN
Trước hết, tôi xin bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc nhất với PGS.TS Nguyễn Sinh Phúc
– người thầy đã trực tiếp hướng dẫn tôi thực hiện đề tài này. Thầy đã luôn quan tâm, chỉ
bảo, truyền đạt tri thức và góp ý cho tôi nhiều ý tưởng hay, hướng nghiên cứu mới để
hoàn thiện luận văn.
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến ban lãnh đạo các công ty cùng toàn thể 200
người lao động thuộc các công ty liên quan máy tính , máy in,, máy văn phòng, trên địa
bàn quận Thanh Xuân, Quận Cầu Giấy, Quận Hai Bà Trưng… thuộc thành phố Hà Nội,
đã nhiệt tình hỗ trợ, tham gia khảo sát và trả lời phỏng vấn của tôi, để tôi có những số
DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1: Cách tính điểm thang đo DASS 42 [47] 47
Bảng 2.2: Đặc điểm chung của khách thể nghiên cứu 48
Bảng 2.3: Đặc điểm công việc và số năm công tác 49
Bảng 3.1: Bảng tự đánh giá mức độ nhận thức về stress 51
Bảng 3.2 Nhận thức về stress nghề nghiệp của người lao động 52
Bảng 3.3 Nhận thức về phương thức ứng phó với stress nghề nghiệp 53
Bảng 3.4: Biểu hiện SNN về mặt nhận thức, cảm xúc 54
Bảng 3.5: Biểu hiện SNN về mặt hành vi, ứng xử 57
Bảng 3.6: Tự đánh giá về mức độ stress (%) 59
Bảng 3.7: Tự đánh giá mức độ SNN của người lao động 60
Bảng 3.8: Mức độ SNN theo phiếu trắc nghiệm DASS 42 61
Bảng 3.9. Nhóm nguyên nhân bản chất công việc: 63
Bảng 3.10. Nhóm nguyên nhân từ môi trường lao động 63
Bảng 3.11.Nhóm nguyên nhân từ bản thân người lao động 63
Bảng 3.12: Phương thức ứng phó với SNN 65
Bảng 3.13 : Một số phương thức ứng phó tập trung vào vấn đề (%) 66
Bảng 3.14: Các phương thức tập trung vào cảm xúc 68
Bảng 3.14: Biện pháp phòng ngừa SNN 71
Bảng 3.15: Các phương thức phòng ngừa SNN 72
Bảng 3.16 Những gì doanh nghiệp cần làm để giảm SNN 76
Bảng 3.17: Tỷ lệ có SNN giữa nam và nữ (theo DASS 42): 78
Bảng 3.18: Tỷ lệ có SNN giữa nam và nữ (theo sự tự đánh giá): 80
Bảng 3.19. Biểu hiện nhận thức, cảm xúc (tính theo %) 81
Bảng 3.20. Hành vi, ứng xử khi có SNN (tính theo %) 83
Bảng 3.21. Các phương thức lựa chọn ứng phó SNN (tính theo %) 84
Bảng 3.22: Tỷ lệ % mức độ SNN và học vấn (theo DASS) 85

1.3. Những biểu hiện stress nghề nghiệp 26
1.3.1. Biểu hiện về nhận thức: 30
1.3.2. Biểu hiện về cảm xúc: 27
1.3.3. Biểu hiện về hành vi ứng xử. 28
1.4. Các yếu tố liên quan đến stress nghề nghiệp 29
1.4.1. Yếu tố bên ngoài 29
1.4.2. Yếu tố bên trong và mối quan hệ với stress nghề nghiệp 34
1.5. Các phƣơng thức ứng phó với stress nghề nghiệp 36
1.6. Các phƣơng thức phòng ngừa stress nghề nghiệp 39
Chƣơng II TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
44
2.1. Các giai đoạn nghiên cứu 44
2.1.1. Nghiên cứu về mặt lý luận 44
2.1.2. Tổ chức nghiên cứu về mặt thực tiễn 44
2.2. Phƣơng pháp nghiên cứu 44
2.2.1. Phương pháp phân tích tài liệu, văn bản 44
2.2.2. Phương pháp điều tra bảng hỏi 44 2
2.2.3. Phương pháp phỏng vấn sâu 46
2.2.4. Phương pháp trắc nghiệm bằng thang đo DASS 42 47
2.2.5. Phương pháp thống kê toán học để xử lý số liệu 47
2.2.6. Sơ lược về một vài số liệu chung của khách thể nghiên cứu 48

Chƣơng
3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 51
3.1. Thực trạng stress nghề nghiệp của ngƣời lao động 51
3.1.1 Nhận thức về stress và stress nghề nghiệp 51
3.1.2. Biểu hiện stress nghề nghiệp về mặt nhận thức, cảm xúc, hành vi 54

quả trải dài cùng những năm sau đó, Việt Nam cũng không thể tránh khỏi ảnh
hưởng của suy thoái kinh tế chung đó. Chính những khó khăn về kinh tế
như thế ảnh hưởng đến cuộc sống của nhiều người lao động, và của nhiều
doanh nghiệp nói chung, các doanh nghiệp tư nhân nói riêng. Theo ước tính
của nhiều chương trình nghiên cứu, thì từ đầu năm 2011 đến 2013, có đến hơn
48.089 doanh nghiệp tư nhân phá sản, giải thể. Vậy sự suy thoái kinh tế đó có
phải là nguyên nhân tạo ra nhiều áp lực hơn với người lao động hay không?
Stress của người lao động trong các doanh nghiệp tư nhân trên địa bàn Thành
Phố Hà Nội diễn ra ở mức độ nào, và những người lao động ấy đã biết các
phương thức ứng phó với những stress mà họ đang gặp hàng ngày, hàng giờ hay
chưa?
Stress là vấn đề đã được nghiên cứu từ rất lâu trong các ngành Sinh lý
học, Y học và cả Tâm lý học, nhưng những công trình nghiên cứu về stress
nghề nghiệp ở Việt Nam vẫn còn chưa nhiều, điểm qua có những công trình
nghiên cứu trong ngành dệt may, trong ngành điều dưỡng, trong trường học,
nghiên cứu stress nghề nghiệp với cán bộ quản lý… Luận văn này sẽ nghiên cứu
thực trạng stress nghề nghiệp của người lao động trong các doanh nghiệp tư
nhân trên địa bàn thành phố Hà Nội. Từ đó có thể đưa ra một kết quả về stress 4
trong các doanh nghiệp tư nhân, xem xét xem đâu là yếu tố ảnh hưởng đến mức
độ stress của họ, để một phần nào đó đưa ra những kiến nghị giúp các doanh
nghiệp tư nhân có thể có biện pháp ổn định tâm lý nhân viên, cán bộ của
chính doanh nghiệp mình, giúp phần tạo nên bầu không khí tâm lý thoải mái, để
người lao động yên tâm làm việc, và tránh được những căng thẳng không cần
thiết.
2. Mục đích nghiên cứu
Đánh giá được thực trạng stress nghề nghiệp của người lao động trong
các doanh nghiệp tư nhân trên địa bàn thành phố Hà Nội, từ đó có thể đề xuất

+ Tìm hiểu xem sự khác nhau trong lựa chọn các phương thức ứng phó
với stress của từng nhóm đối tượng (nam và nữ; học vấn; thâm niên công tác…)
+ Đề xuất phương thức phòng ngừa stress.
7. Giới hạn và phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu trên 200 người lao động thuộc các doanh nghiệp làm trong
lĩnh vực máy tính, máy in, máy văn phòng thuộc các quận Thanh Xuân, Cầu
Giấy, Hai Bà Trưng…. trên địa bàn thành phố Hà Nội. Nghĩa là chỉ nghiên cứu
trên những lao động trong nhóm ngành nghề máy tính, máy in, máy văn phòng,
mà không nghiên cứu trên các ngành nghề khác.
Đề tài chỉ nghiên cứu khía cạnh distress và những ảnh hưởng tiêu cực của
nó đến những người lao động trong ngành máy tính, máy in, máy văn phòng.
8. Phƣơng
pháp nghiên cứu
- Phương pháp phân tích tài liệu, văn bản
- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
- Phương pháp trắc nghiệm
- Phương pháp phỏng vấn sâu
- Phương pháp xử lý số liệu bằng thống kê toán học. 6
Chƣơng I
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ STRESS VÀ STRESS NGHỀ NGHIỆP CỦA
NGƢỜI LAO ĐỘNG
1.1. Tổng quan các nghiên cứu về stress nghề nghiệp trong nƣớc và trên thế
giới
1.1.1. Những nghiên cứu về stress nghề nghiệp ở nƣớc ngoài
Từ rất xa xưa, stress đã là một đối tượng được nghiên cứu, khi ấy, stress
được xem như thủ phạm gây ra bệnh tật ở con người về mặt tinh thần, cảm xúc.
Và bệnh do rối loạn tinh thần, rối loạn cảm xúc cũng đã được quan tâm rất cao.

Ấn Độ (700 năm TCN) cũng lý giải ba nguồn gốc của những bệnh tật về tinh
thần con người đó là do các nguyên nhân: do thiên nhiên, do xã hội và do bản
thân (mặt cảm xúc, tín ngưỡng, quan điểm, lòng tin…). Thì chính những cái bản
thân ở đây là yếu tố tâm lý. Đó là stress, những căng thẳng được con người cảm
nhận. Như vậy, yếu tố stress không chỉ được nghiên cứu sớm ở Trung Quốc, mà
còn được nghiên cứu ở Ấn độ, dù nó chưa chính thức ra đời với tên gọi “stress”
như hiện nay.
Các nhà stress học hiện đại đã và đang kế thừa, phát huy những quan điểm
truyền thống về stress đó. Tác giả Cllaude Benard (1859) cho rằng “những thay
đổi của môi trường bên ngoài sẽ không ảnh hưởng đến cơ thể, nếu cơ thể bù trừ
và làm cân bằng” những thay đổi đó [dẫn theo 2]. Điều này có nghĩa rằng,
những tác nhân của môi trường bên ngoài dù như thế nào, nếu như chưa vượt
quá khả năng chịu đựng của cá nhân, chưa làm mất đi sự cân bằng vốn có trong
cá nhân, thì những tác nhân ấy không thể gây ra bệnh lý với cá nhân đó được. Ở
đây, chúng ta thấy Cllaude Benard đã đề cập đến cả yếu tố bên trong và yếu tố
bên ngoài, cùng mối quan hệ của chúng trong việc gây nên những rối loạn cũng
như bệnh tật ở con người. Stress chỉ được hình thành khi những nhân tố xảy đến
vượt quá sự chống đỡ của cơ thể con người mà thôi, khi cá nhân đón nhận những
tác nhân ấy bình thường, cảm thấy rất tự nhiên, thì sẽ không thể hình thành stress
tiêu cực, và không thể gây ra những bệnh tật ở con người được. Theo tác giả này,
sự “bình thường” ở cá nhân sẽ vẫn diễn ra nếu như những tác nhân không làm
“xáo trộn” những gì là vốn có của cá nhân đó.
Năm 1927, Walter Cannon đã mô tả khái quát một phản ứng đối với sự đe
dọa, mà ông gọi là phản ứng “chống hoặc chạy”, mỗi khi các loài vật đối mặt 8
với kẻ săn mồi, chúng phải quyết định chống cự hay chạy trốn. Trong cả hai tình
huống này, nhịp tim và huyết áp tăng cao, tăng nhịp thở, tăng hoạt động cơ bắp.
Thị lực và thính lực được hoạt động tốt hơn để tăng cường hiệu quả. Theo ông,

hại với chủ thể hay không.
Năm 1972, viện sỹ V.V. Parin đã đưa ra nhận xét: “Khái niệm stress của
H.Selye đã thay đổi phần lớn quy tắc chữa trị và phòng ngừa hàng loạt bệnh. Nói
một cách tổng quát, học thuyết của nhà bác học Canada nổi tiếng H.Selye có thể
coi là hệ thống luận điểm cơ bản, nền móng cho sự phát triển của khoa học y học
hiện đại” [dẫn theo 2]. V.I.Rôgiơđêvenxxcaia (1980) và cộng sự qua các thực
nghiệm đã nhận xét rằng: khả năng làm việc giảm sút khi có stress do mệt mỏi
nảy sinh ở những người có hệ thần kinh yếu hơn là nảy sinh ở những người có
hệ thần kinh mạnh. Nhưng tác giả cũng cho rằng, khả năng làm việc có stress
không phụ thuộc một cách tuyệt đối vào độ mạnh của hệ thần kinh [dẫn theo
10]. Ở đây, tác giả cũng cho chúng ta thấy rằng, yếu tố cá nhân “sức khỏe của hệ
thần kinh” quyết định nhiều đến việc cá nhân ấy tiếp nhận stress và xử lý nó như
thế nào. Nếu một người có hệ thần kinh yếu, cộng thêm tính cách hay lo lắng bất
an, thì có lẽ, một tác động rất nhỏ cũng có thể ảnh hưởng trầm trọng đến suy
nghĩ, tư duy của người đó. Tóm lại rằng, yếu tố này có thể là stress với cá nhân
này, nhưng lại là “không có gì” với cá nhân kia. Ở đây, khi đánh giá xem đó có
phải là stress hay không, chúng ta cũng cần đề cập đến yếu tố cá nhân (yếu tố
tâm lý, yếu tố hệ thần kinh, khí chất, tính cách…). Vì cũng còn tùy hoàn cảnh,
điều kiện của mỗi cá nhân, điều kiện của stress đến ở thời điểm nào, tùy vào
những yếu tố ấy, mới có thể quyết định cá nhân có bị stress hay là không.
Nghiên cứu dưới góc độ Tâm lý học là phương hướng nghiên cứu hiện
đại. Nếu như trước đây, các tài liệu công bố về stress đa phần nghiên cứu mối
liên hệ của stress và sinh lý, y học, cũng như các biểu hiện sinh lý của người
bệnh khi có stress, thì ngày càng có nhiều công trình hơn nghiên cứu về stress
dưới góc độ tâm lý học. Đó là các công trình nghiên cứu stress dưới góc nhìn của
tâm lý học lao động, của tâm lý học xã hội, của tâm lý học kỹ thuật… Tác giả
L.A Kitaepxmưx (1983) đã thống kê được có trên 1000 tài liệu được công bố là 10


11
của quân đội trong hoạt động chiến đấu và phục vụ chiến đấu. Những nghiên cứu
này đã đóng góp nhiều vào việc tuyển chọn, huấn luyện bộ đội phục vụ chiến
đấu. Giai đoạn thứ hai: từ sau năm 1975 đến năm 1995, tác giả đã có nhiều công
trình tiếp theo nghiên cứu về stress và các biện pháp phòng chống stress, đã
được công bố trong các đề tài cấp nhà nước như 480 702- 03 (1983- 1986), đề tài
KX 07 06, KX 07 15, KX 07 07 (1991- 1995). Những nghiên cứu này có giá trị
rất lớn về mặt quân sự, từ đó, chúng ta nhìn nhận đúng hơn về các stress mà các
chiến sỹ gặp phải, qua đó có các biện pháp khắc phục tốt nhất.
Tác giả Phạm Ngọc Rao và Nguyễn Hữu Nghiêm với tác phẩm “stress
trong thời đại văn minh” đã cảnh báo với tất cả mọi người đang sống trong xã
hội văn minh về nguy cơ stress và hậu quả ghê gớm của nó. Từ đó để mỗi người
có cách điều chỉnh lối sống của mình cho phù hợp, để đương đầu với stress một
cách tối ưu và hiệu quả nhất. Xã hội càng văn minh, càng hiện đại, thì ngày càng
có nhiều những nguy cơ stress hơn xảy đến với cuộc sống của mỗi chúng ta. Vì
vậy, việc phòng ngừa là rất quan trọng [dẫn theo 35].
Có những nghiên cứu của stress trong lĩnh vực quản lý (Nguyễn Thành
Khải 2001), có thể nói luận án này viết rất đầy đủ, nghiên cứu mức độ, biểu hiện,
nguyên nhân và các yếu tố ảnh hưởng tới stress và thực trạng sử dụng các
phương pháp làm giảm stress ở cán bộ quản lý [20].
Có những nghiên cứu về stress trên các bệnh nhân: phản ứng stress của
người bệnh ung thư máu với bệnh (Triệu Thị Biển, 2012). Nghiên cứu này chỉ
rõ, phản ứng stress ở bệnh nhân ung thư máu diễn ra phức tạp, và các phản ứng
stress không bị chi phối bởi giới tính, độ tuổi, trình độ học vấn [2].
Giáo trình “Tâm thần học và tâm lý học y học” của Học viện Quân y có
nói nhiều đến stress và mối liên hệ với ung thư. Cuốn sách này khẳng định:
Trong điều kiện bình thường, stress là một đáp ứng thích nghi về mặt tâm lý và
sinh lý. Stress đặt chủ thể vào quá trình dàn xếp thích ứng, tạo ra một cân bằng
mới cho cơ thể sau khi chịu những tác động của môi trường. Nói cách khác,

Nghiên cứu của Nguyễn Thị Thu Thuỷ về Stress trong hoạt động nghề
nghiệp ở cán bộ y tế tại một số bệnh viện trên địa bàn Hà Nội, luận văn thạc sỹ
tâm lý học (Đại học sư phạm Hà Nội 2010). Luận văn này nghiên cứu trên 195 13
nhân viên, cán bộ y tế, từ đó chỉ ra thực trạng stress nghề nghiệp, mức độ, biểu
hiện, các cách ứng phó của các nhân viên y tế khi họ rơi vào tình trạng stress.
Luận văn cũng nhấn mạnh rằng, stress nghề nghiệp để lại hậu quả tiêu cực,
nhưng cũng có những tác động tích cực đến người cán bộ y tế. Nguyên nhân dẫn
đến stress nghề nghiệp ở cán bộ y tế chủ yếu là nguyên nhân do điều kiện, môi
trường làm việc, điều kiện phát triển nghề nghiệp và cơ cấu, tổ chức của cơ
quan, đơn vị [dẫn theo 37].
Nghiên cứu: “Stress trong công việc của điện thoại viên tại tổng đài chăm
sóc khách hàng của VTC” năm 2012 của Nguyễn Thị Thanh cũng đã nêu rõ ràng
rằng những stress nghề nghiệp có ảnh hưởng nhiều đến công việc của mỗi cá
nhân [dẫn theo 35].
Nguyễn Bạch Ngọc, “stress nghề nghiệp và sức khỏe tâm thần của người
vận hành”, nghiên cứu 84 nam công nhân vận hành công trình ngầm, tuổi từ 22-
43, thâm niên công tác từ 1- 15 năm. Các thử nghiệm đối với công nhân đã được
đo ba lần trong 1 ca sáng, vào ba thời điểm: trước khi vào ca, trước khi nghỉ ăn
trưa, và trước khi tan ca. Kết quả test Zung và Beck của 41 sinh viên được dùng
để làm chứng. Tuy nhiên, đề tài này cũng mới chỉ nghiên cứu công nhân làm
việc ở công trình ngầm [dẫn theo 43].
Đào Thị Duy Duyên với nghiên cứu “vấn đề stress của công nhân ở một
số khu chế xuất, khu công nghiệp trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh” (luận
văn thạc sỹ), đã nghiên cứu trên 400 công nhân tại khu chế xuất Tân Thuận, Tân
Tạo, Vĩnh Lộc trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh. Kết quả nghiên cứu đã đi
khá rõ về mức độ hiểu biết stress ở công nhận, nhận thức của họ, các mức độ
stress ở công nhân. Kết quả cũng co rằng, đa số công nhân chưa có hiểu biết đầy

trong những điều kiện đặc biệt”[ dẫn theo 21, tr.19]. Định nghĩa này nêu rõ bản
chất của stress dưới góc độ tâm lý học, đó là “sự căng thẳng về tâm lý”, và cũng
nêu được nguyên nhân của những căng thẳng ấy là những “điều kiện phức tạp,
khó khăn” của cuộc sống mà con người gặp phải. Cái khó khăn ở đây cũng được
hiểu là “cá nhân cảm thấy khó khăn”, chứ không có cái khó khăn chung chung
gây ra stress được. Vì đôi khi cùng một hoàn cảnh, nhưng tác động ấy là bất lợi
với một người, nhưng lại có thể là có lợi với người khác. 15
Theo J.Delay “stress là một tình trạng căng thẳng cấp diễn ra của cơ thể bị
bắt buộc phải điều động những tổ chức phòng vệ của nó để đương đầu với một
tình huống đe dọa”. Theo cách hiểu của tác giả này, stress chỉ xuất hiện khi cá
nhân cảm thấy tình huống mình gặp phải là “có tính chất đe dọa” mà thôi, stress
được cá nhân nhận định và cảm nhận, chỉ khi những yếu tố xảy đến là có tính chất
đe dọa hay nguy hiểm với cá nhân, lúc đó stress mới xuất hiện.
Theo Gatchel & Baum (1983), “stress là một tiến trình mà bằng cách đó
con người phản ứng lại với các sự kiện môi trường và tâm lý được nhận thức là
sự đe dọa hoặc thách thức”. Theo định nghĩa này, stress chỉ xuất hiện khi cá
nhận nhận thức rằng những tác động xảy đến với mình là có tính chất đe dọa
hoặc thách thức.
Theo R.S. Lazarus (1966), “stress như một quá trình tương giao giữa con
người và môi trường, trong đó đương sự nhận định sự kiện từ môi trường là có
tính chất đe dọa và có hại, đòi hỏi đương sự phải cố gắng sử dụng các tiềm năng
thích ứng của mình”.Nói cách khác, theo Lazarus, “stress là trạng thái hay cảm
xúc mà chủ thể trải nghiệm khi họ nhận định rằng các yêu cầu và đòi hỏi từ bên
ngoài và bên trong có tính chất đe dọa, có hại, vượt quá nguồn lực cá nhân và
xã hội mà họ có thể huy động được”[ dẫn theo 8], [dẫn theo 7]. Theo định nghĩa
này, ta có thể hiểu, stress là một diễn tả chủ quan, từ trong tâm trí, nên nó xuất
hiện tùy theo cách nhìn của con người với sự việc (nó có chứa yêu cầu cao với

Theo Tô Như Khuê: “stress tâm lý chính là những phản ứng không đặc
hiệu xảy ra một cách chung khắp, do các yếu tố có hại về tâm lý xuất hiện trong
các tình thế mà con người chủ quan thấy là bất lợi hoặc rủi ro, ở đây vai trò
quyết định không chủ yếu do tác nhân kích thích, mà do sự đánh giá chủ quan về
tác nhân đó”[ dẫn theo 2, 38]. Định nghĩa nêu rõ hai yếu: thái độ và nhận thức
của con người sẽ là nguyên nhân chủ yếu, quan trọng nhất quyết định rằng, ở
tình huống đó, cá nhân có rơi vào trạng thái stress hay không. Nên cũng không
khó để nhận ra điều đó trong cuộc sống. Đôi khi, cùng một tình huống như nhau,
có người bị stress, có người lại cảm thấy bình thường, và không có gì phải “căng
thẳng cả”. Nên chúng ta nói, ở đây, tác giả đã để cập đúng và đủ ở yếu tố tâm lý, 17
yếu tố cá nhân của con người và vai trò quyết định của nó trong cách con người
sẽ hành xử với những tác nhân mà con người gặp phải là như thế nào.
Theo các tác giả Nguyễn Văn Nhận, Nguyễn Bá Dương và Nguyễn Sinh
Phúc, “khái niệm stress vừa để chỉ tác nhân công kích, vừa để chỉ phản ứng của
cơ thể trước các tác nhân đó” [37]. Trong khái nệm này, stress vừa được xem
như yếu tố nguyên nhân, nhưng nó cũng được xem như là một yếu tố phản ứng.
Stress vừa là cái châm ngòi, vừa là cái biểu hiện để tạo nên một chuỗi phản ứng
tâm lý nơi con người.
Với các tác giả Phạm Khắc Hiếu, Lê Thị Ngọc Diệp, và Trần Thị Lộc, thì
stress được hiểu là “một trạng thái thể hiện của cơ thể với những triệu chứng
đặc thù, bao gồm tất cả những biến đổi không đặc hiệu xảy ra trong phạm vi một
hệ thống sinh học” [15]. Định nghĩa này mới chỉ hiểu stress dưới góc độ sinh
học, mà chưa đề cập đến góc độ tâm lý của stress.
Từ những quan niệm khác nhau của các tác giả nêu trên, chúng tôi thấy
khái niệm về stress của tác giả R.S. Lazarus (1966) là hợp lý hơn cả, nên chúng
tôi lấy khái niệm của tác giả này làm khái niệm chính cho đề tài của mình:
“stress như một quá trình tương giao giữa con người và môi trường, trong đó

cá nhân đó lao động làm cho khả năng ứng phó của cá nhân bị thất bại, tức là
khả năng ứng phó là điều kiện cuối cùng xét xem có xảy ra SNN với cá nhân hay
không, dù điều kiện, yếu tố lao động có xảy ra như thế nào, nhưng nếu cá nhân
đó ứng phó tốt, và coi đó là sự bình thường, thì sẽ không có SNN xảy ra. Đây
cũng là mấu chốt cho việc giải thích vì sao cùng trong một môi trường làm việc,
có người có SNN, có người không.
Dựa trên định nghĩa về stress, chúng tôi định nghĩa stress nghề nghiệp:
“Stress nghề nghiệp như một quá trình tương giao giữa con người và môi
trường nghề nghiệp, trong đó chủ thể nhận định sự kiện từ môi trường nghề
nghiệp là có tính chất đe dọa và có hại, đòi hỏi chủ thể phải cố gắng sử dụng
các tiềm năng thích ứng của mình”. Đôi khi, cùng với những nhân tố khác xung
quanh mình, cộng thêm những yếu tố nơi làm việc sẽ làm bộc phát stress nghề
nghiệp ở cá nhân, nên đôi khi, stress nghề nghiệp không chỉ có căn nguyên từ
môi trường làm việc, mà nó có thể có căn nguyên từ chính chủ thể, và từ yếu tố

Trích đoạn Phƣơng pháp nghiên cứu Biểu hiện stress nghề nghiệp về mặt nhận thức, cảm xúc, hành vi Mức độ stress nghề nghiệp Phƣơng thức phòng ngừa stress nghề nghiệp Mối liên quan giữa stress nghề nghiệp và một số biến cố định
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status