Đề tài:
MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC MÔN CHÍNH TẢ
Ở TIỂU HỌC – PHẦN CHÍNH TẢ NGHE VIẾT LỚP 5
LỜI CẢM ƠN !
Kính thưa các thầy cô!
Tôi không biết dùng lời lẽ nào để bày tỏ sự biết ơn và lòng kính trọng
đối với quí thầy và quí cô trong khoa giáo dục tiểu học Trường đại học Sư
phạm Hà Nội. Qúy thầy quý cô đã không quản khó khăn, vượt đường xa để
đem đến cho chúng tôi những kiến thức vô cùng quí báu, trang bị cho chúng
tôi những kinh nghiệm bổ ích cho công tác giảng dạy sau này.
Tôi chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu Trường Đại học Sư Phạm Hà
Nội, Ban chủ nhiệm Khoa Giáo dục tiểu học - Trường Đại học sư Phạm Hà
Nội. Một lần nữa tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới quí thầy cô đã tham
gia giảng dạy lớp Cử nhân Tiểu học, đặc biệt là cô GS.TS Lê Phương Nga,
giảng viên Khoa giáo dục Tiểu học – Trường Đại học Sư Phạm Hà Nội, đã
trực tiếp giảng dạy, quan tâm tâm, giúp đỡ chúng tôi trong học tập và hoàn
thành khóa luận tốt nghiệp này.
A/ PHẦN MỞ ĐẦU
I/ LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Hiện nay, hiện tượng viết sai chính tả rất phổ biến trong cả nước, đặc biệt
nhất là các tỉnh phía Nam. Bình Dương hiện tượng viết sai chính tả cũng diễn ra
ở các trường phổ thông nhưng nghiêm trọng nhất là học sinh tiểu học.
Chính tả hiểu theo nghiã gốc là “phép viết đúng hoặc lối viết hợp với
chuẩn” cụ thể chính tả là hệ thống các quy tắc về cách viết thống nhất theo các
từ của một ngôn ngữ, cách viết hoa tên riêng, cách phiên âm tên riêng nước
ngoài, nói cách khác chính tả là những quy ước của xã hội trong ngôn ngữ; Mục
đích của nó là làm phương tiện truyền đạt thông tin bằng chữ viết, bảo đảm cho
người viết và người đọc đều hiểu thống nhất nội dung của văn bản. Chính tả
trước hết là sự quy định có tính chất xã hội, nó không cho phép vận dụng quy
tắc một cách linh hoạt có tính chất sáng tạo cá nhân. Do đó nó có một vị trí rất
quan trọng. Nó không chỉ quan trọng đối với mỗi cá nhân mà còn quan trong với
tiết thực hành ở phân môn tập làm văn chứ không tồn tại với tư cách là một mặt
phân môn độc lập ở tiểu học.
Giống như các phân môn khác trong tiếng việt tính chất nổi bật của phân
môn chính tả là tính thực hành. Bởi lẽ, chỉ có thể hình thành kĩ năng kĩ xảo
chính tả cho học sinh thông qua việc thực hành luyện tập. Do đó trong phân môn
này các quy tắc chính tả, các đơn vị mang tính chất lí thuyết không được bố trí
trong tiết dạy riêng mà dạy lồng vào hệ thống bài tập chính tả, nội dung cấu trúc
của bài chính tả trong sách giáo khoa Tiếng Việt tiểu học ( phần chính tả) thể
hiện rất rõ tính chất thực hành nói trên.
Phân môn chính tả trong nhà trường có nhiệm vụ giúp học sinh nắm vững
các qui tắc chính tả và hình thành năng lực thói quen viết đúng chính tả, phân
môn chính tả còn rèn luyện cho học sinh một số phẩm chất như tính cẩn thận óc
thẩm mỹ, bồi dưỡng cho học sinh lòng yêu quý tiếng việt và chữ viết của tiếng
việt.
Ngoài ra, các loại chính tả như: chính tả nhớ viết, chính tả tập chép trong
đó, chính tả nghe viết không kém phần quan trọng vì nó kiểm tra năng lực cũng
như hình thành kĩ năng nghe vừa nghe vừa tái hiện lại hình thức chữ viết của các
từ và cụm từ rồi biết phân tích, so sánh của học sinh với những trường hợp dễ
lẫn do ảnh hưởng cái têu cực của cách phát âm, để từ đó xác định được cách
viết đúng.
Chính tả nghe viết thực chất là chính tả so sánh nhưng đã thay cách gọi
bởi vì so sánh được hiểu là một thao tác hơn là một dạng thức trình bày. Trên
thực tế phần so sánh nhấn mạnh và tập trung nhiều hơn vào các bài tập những
trường hợp chính tả dễ lẫn lộn, nhấn mạnh vào biện pháp so sánh, đối chiếu và
gây ở học sinh một ý thức thường trực và sự phân biệt trong chính tả. Hơn nữa
muốn viết đúng được chính tả thì việc nghe của học sinh phải gắn với việc hiểu
nội dung của từ, cụm từ, câu, văn bản.
Vì vậy, môn chính tả nghe viết (so sánh) thực sự là một gánh nặng cho
những người thầy giáo trực tiếp đứng lớp ở tiểu học cần phải gánh lấy.
Đứng trước thực tế đó, là giáo viên dạy lớp 5 tiểu học tôi cần phải chọn đề
Cũng tiến hành như các bài chính tả bình thường (học sinh tự chữa, đổi
bài cho các bạn kiểm tra lại), giáo viên chấm một số bài.
d.Khâu làm bài luyện tập:
Đây là những bài tập làm thêm để củng cố kiến thức, giáo viên có thể cho
các em làm ở lớp và ở nhà. Nếu làm ở nhà giáo viên sẽ chấm trong bước kiểm
tra bài cũ của tiết sau.
2/NHIỆM VỤ:
Như tất cả mỗi người giáo viên chúng ta đều biết rằng phân môn chính tả
ở trường tiểu học được hình thành, tồn tại và phát triển mãi với mục đích là giúp
cho học sinh nắm vững quy tắc chính tả. Hình thành và phát triển ở học sinh các
tri thức kĩ năng năng lực sử dụng ngôn ngữ ở dạng viết trong hoạt động giao tiếp
trong các môi trường xung quanh cuộc sống. Thông qua đó còn góp phần rèn
luyện các thao tác tư duy, khả năng phân tích, so sánh các thông tin văn bản và
thói quen viết đúng chính tả.
-Qua đó củng cố và hoàn thiện các tri thức cơ bản về hệ thống ngữ âm và
chữ viết tiếng Việt, trang bị cho học sinh công cụ để học tập và giao tiếp xã hội.
- Bồi dưỡng tình yêu Tiếng Việt, hình thành thói quen cẩn thận, sạch sẽ,
kiên trì, từ đó góp phần hình thành và phát triển nhân cách cho học sinh. Phân
môn Chính tả nhờ vậy mà rèn cho học sinh óc thẩm mĩ, sự quan sát tinh tế và
hướng đến cái đẹp.
III/ NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
1/ CƠ SỞ LÝ LUẬN
Chính tả nghe viết (so sánh) là phân tích, so sánh các hiện tựơng nói và
viết để chọn hình thức viết phù hợp với quy tắc chính tả.Có thể cho học sinh viết
một văn bản có chứa hiện tượng cần so sánh hoặc chỉ viết những cặp yếu tố
được so sánh ( giáo viên đọc cho học sinh nghe, tự so sánh và chọn cách viết).
- Chính tả nghe viết (so sánh) chủ yếu nhằm vào dạng thức viết các âm
tiết hay từ đồng âm hoặc các biến thể ngữ âm. Trong một số phương ngữ sự lựa
chọn được chấp nhận ở các trường hợp này là cách viết chuẩn thống nhất theo
hướng khu biệt nghĩa.
tạm trú ngày càng đông, thuyên chuyển liên tục nên khó khăn cho việc quản
lý và giảng dạy. Nhìn chung các em đến trường “ trăm sự nhờ giáo viên”
nên việc học và viết chính tả của các em còn sai lỗi rất nhiều mà ở tiểu học
việc dạy đọc thông viết thạo là một trong những mục tiêu quan trọng trong
quá trình học môn tiếng việt. Nhưng bản thân các em lại xem nhẹ môn học
này.
Cứ vào đầu mỗi năm học thực tế các bài chính tả của các em viết sai rất
nhiều lỗi. Cụ thể như năm 2009 phần lớn các em đạt điểm 1, điểm 2, điểm 3,
thậm chí có em không đạt điểm nào.
Theo thống kê kiểm tra chất lượng đầu năm về môn chính tả so sánh, lớp
tôi đạt kết quả như sau:
Điểm
Sĩ số
9 – 10 8 - 7 6 – 5 4 – 3 2 – 1 0
36
2 4 11 9 7 3
Trước thực trạng học sinh đầu năm học như vậy là vấn đề nan giải buộc
tôi phải giải quyết. Để bắt tay vào việc không phải là đơn giản vì trong giao tiếp
các em thường sử dụng theo tiếng địa phương.
Từ đó tôi suy nghĩ, đi vào tìm hiểu và biết nguyên nhân dẫn đến các em
sai nhiều lỗi chính tả là do:
Các em phát âm sai.
+ Soi đọc là xoi viết là xoi.
+ Tre đọc che là nên viết là che.
+ Chính đọc là chánh nên viết là chánh
- Không phân biệt được nghĩa của từ ví dụ.
Ví dụ: Tiếng “giục” không hiểu nghĩa là giục, thúc giục phải viết âm đầu
là “gi” nên viết dục theo nghĩa thể dục.
“Xe đỗ” không hiểu nghĩa là xe dừng lại, phải viết dấu ngã nên viết theo
nghĩa đổ “đổ rác” là dấu hỏi. Vẽ tranh viết là vẻ tranh vv… Một số lỗi thường
Từng chùm viết là từng chùn.
Khi tìm và biết được nguyên nhân đã là khó khăn nhưng làm thế nào để
khắc phục những nguyên nhân trên, đối với bản thân tôi càng khó khăn hơn
nhiều. Tôi đã trao đổi và đưa ra một số nguyên nhân nhờ những giáo viên dạy
lâu năm, có nhiều kinh nghiệm hướng dẫn khắc phục, đồng thời tự nghiên cứu
và tìm ra nhiều biện pháp khắc phục áp dụng cho từng đối tượng học sinh sai lỗi
chính tả. Ngay từ đầu năm học, tôi đã áp dụng phương pháp này và tôi đã thu
được kết quả tốt nhờ vào sự kiên trì nhẫn nại và lòng yêu trẻ của mình.
B. PHÂN NỘI DUNG
MỘT SỐ BIỆN PHÁP NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIẢNG DẠY
1. RÈN PHÁT ÂM ĐÚNG
Khâu này người giáo viên không những đọc tốt phát âm đúng, chuẩn mà
còn kết hợp giọng đọc với sự thể hiện trên gương mặt. Giáo viên phải kiểm tra
phần phát âm, nghe từng đối tượng học sinh phát âm ghi vào sổ:
………………. (tr, r, s)
………………… (gi, d,v)
……………… (kh, th, ch)
………………… (l, n) là các em chuyển từ miền Bắc mới vào.
Trong các giờ tập đọc, tôi thường xuyên gọi các em đọc và sửa sai những
từ mà các em thường phát âm không đúng. Những tháng đầu năm học, mỗi ngày
tôi và các em vào lớp sớm 15 phút rèn phát âm cho các em thật chuẩn, kèm cặp
uốn nắn những em phát âm sai. Cô giáo học sinh phối hợp, các em đọc, cô nghe,
cô đọc các em viết.
Ví dụ:
- Học sinh đọc cái giỏ - cô đọc ngọn gió, các em viết bảng con ngọn gió.
- Học sinh đọc khe khẽ - cô đọc khúc khích các em viết bảng con khúc
khích.
Nếu học sinh đọc sai cô giáo gọi các em phát âm lại và tự sửa. Ngoài ra,
tôi còn chọn một số đoạn văn có những âm vần, các em hay sai nằm trong
những bài tập đọc đã học chừa chỗ trống, những âm vần hay sai để các em điền
Ví dụ:
Trong bài “ Luật bảo vệ môi trường” , các em cũng thi nhau tìm những từ
ngữ chứa các tiếng có âm đầu l hay n, như thích lắm / nắm xôi; lấm tấm / cây
nấm… Hoặc những tiếng khác nhau ở âm cuối n hay ng:
Ví dụ: Trăn trở / ánh trăng; nhân dân / dâng trào…
Giáo viên cũng nên cho học sinh hiểu nghĩa của một số từ ngữ bằng cách đặt
câu hỏi gợi mở để các em giải nghĩa hoặc giáo viên giải thích cho các em hiểu.
Ví dụ: Trong bài “Hành trình của bầy ong”, cô giáo có thể hỏi các em có biết củ
sâm dùng để làm gì không? Tôi giải thích cho các biết “củ sâm” dùng để làm
thuốc, nó rất quý.
Chữ sâm được viết âm đầu là gì ? (âm s). Em hãy tìm từ có thể ghép với tiếng
sâm:
Nhân sâm, củ sâm hành, chim sâm cầm…
Ví dụ: Phân biệt “ chiêng” và “ chiên”
Giải nghĩa từ chiêng: giáo viên cho học sinh quan sát tranh ảnh cái chiêng
hoặc miêu tả đặc điểm ( chiêng là nhạc cụ bằng đồng hình tròn đánh bằng dùi
âm thanh vang dội).
+ Chiên: là làm chín thức ăn bằng cách cho thức ăn vào nồi hoặc chảo
dầu mỡ đun trực tiếp trên lửa.
Với những từ nhiều nghĩa, giáo viên đặt từ ấy trong văn cảnh cụ thể để
giải nghĩa từ.
Tương tự với phương pháp trên, tôi thực hiện với các từ có chữ “đỗ”, làm
cho các em phân biệt nghĩa và cách phát âm của từ “đỗ” dấu ngã và từ “đổ” dấu
hỏi. Hoặc chữ có vần ang và chữ có vần an…. Khi các em hiểu được nghĩa của
từ cần phân biệt, các em sẽ làm đúng bài tập.
III. RÈN CHO CÁC EM NẮM ĐƯỢC MẶT VẦN
Đối với những em chưa nắm được mắt vần thường viết lẫn lộn
Ví dụ:
Huế đọc là Huế viết Hếu
Khỏe đọc là khỏe viết khẻo
thời những sai sót của các em.
V. PHỐI HỢP VỚI NHỮNG EM KHÁ GIỎI TRONG TỔ :
Lớp tôi gồm 12 bàn (6 bàn đầu) mỗi bàn 4 em và 4 bàn cuối mỗi bàn 3
em. Tôi xếp những em học yếu kém ngồi gần những em học khá, giỏi để được
kèm.
Kết hợp nhóm và đôi bạn học tốt các em ở gần địa bàn nhà gần nhau nên
rất tiện cho việc học hỏi bài theo nhóm và truy bài đầu giờ. Đầu giờ các em giỏi
gọi các em yếu, các em khá giỏi gọi các em trung bình viết lại những từ khó và
những từ cần phân biệt của bài trước yêu cầu của các em yếu đọc bài theo
sự hướng dẫn của giáo viên, ở năm phút cuối giờ của bài trước và cho các
em viết bảng con hoặc giấy nháp những từ khó trong bài học. Nhờ lớp trưởng
báo cáo tình hình học tập của bạn ở nhà cũng như ở lớp cho giáo viên ở đầu giờ
mỗi ngày.
Giáo viên tuyên dương đối với những em có cố gắng đồng thời cũng động
viên đối với những em thường xuyên sai vào tiết học cuối cùng của tuần.
VI. RÈN CHO CÁC EM NGHE ĐÚNG VIẾT ĐÚNG:
Tập cho các em nghe hết câu rồi mới viết ở những tuần lễ đầu rất thuận
lợi cho các em là giáo viên đọc chấm, phẩy. Tôi đọc và ngắt câu cho học sinh
tùy trình độ. Đầu tiên tôi đọc hết câu sau đó ngắt từng cụm từ cho học sinh vì
thế các em sẽ quen dần đến đầu học kỳ 2 trở đi các em tự đánh dấu phẩy và chỉ
căn cứ vào chữ đọc cuối cùng của câu để đánh dấu chấm.
Khi viết hết bài tôi đọc chậm cho các em dò lại đến dấu phẩy tôi ngừng lại
ít hơn so với dấu chấm. Nếu các em nào sai có thể sửa lại lần nữa cho hoàn
chỉnh, đối với những em trung bình yếu chỉ sai một đến hai chữ trong bài tôi
cũng động viên khen các em để các em có bước tiến mới.
Ví dụ: Trong bài “Mùa thảo quả”
Sự sống cứ tiếp tục trong âm thầm / hoa thảo quả / nảy dưới gốc cây kín
đáo và lặng lẽ.
Một hai tuần đầu rất tốn thời gian để rèn cho các em có nề nếp và biết tự học ở
nhà phối hợp cùng cha mẹ.
ào ạt, ụng cụ, giáo ục.
- r/d/gi:
bánh …án, con gián, phút ây, sợi ây, xong ồi, …ương chiếu, ường
như, ường cột, …ung . .inh
- l/n:
ong … anh, …ồng àn, mười ăm tuổi, …ăm tháng,
…âu dài, …ô lệ,
- c/k/g:
lỉnh ỉnh, con …kênh, lủng …ủng…
cái …uốc, tổ …uốc, …ính đeo mắt, con …ông, khung …ửu, …uấn …uýt
PHẦN VẦN
- Âm cuối:
+ Âm cuối n/ng
Uông hay uôn: b……chuối, ch….gà, b… bán, m…thú, kh… nhạc, lên
x….
+ lượng hay lượn:
Bay …., chất ……., số …, …… lờ
+ Âm cuối t/c:
Mặ… trời, mặ cả, nhấ…. bổng, sắ…. thép, màu sắ….
Liệ… sĩ, buổi tiệ , xanh biế……
+ Âm cuối n/nh:
Ngăm nhì , bánh i…., thủy tin…, cổ ki…., kí đáo
Cửa kí…, che kí…, khí… phục, hy sin…., ti…. tưởng……
+ Phần vần:
- iu hay yêu: */ hạt t…., thủy triề…., t… ngh……., buổi ch…, tr… mến,
chiề…. chuộng, gió thổi h… h…., quan liê…., d…dàng……
- im hay iêm:
* Lúa ch…, t… thuốc, gỗ li…., ch….én, trái ti… , lặng …., ch….
chích, cá chi… , cái k…., bao diê…
* Ươu hay ưu:
Tóc huyền ngã bậc nặng âu lo”
Những từ gốc hán có phụ âm đầu là: l, d, nh, m, ng, v, n, thường mang
thanh ngã còn những từ gốc hán không có phụ âm đầu như vậy thì thường mang
dấu hỏi. Để dễ nhớ những trường hợp mang thanh ngã có thể phổ biến câu thơ:
“Lòng dân nhớ mãi Người vì nước”
b. Phân biệt âm tiết có và không có âm đệm:
Những âm tiết có phụ âm đầu g, ph, m, n, r, b, v, thì không bao giờ mang
âm đệm ( trừ trường hợp ngoại lệ như noãn, thê, nọa, góa và những từ phiên âm)
trong những trường hợp này có thể phổ biến câu thơ:
“Giải phóng miền Nam rước Bác vô”
Để có nội dung hướng trên, tôi thường áp dụng nguyên tắc phối hợp giữa
phương pháp tích cực và phương pháp tiêu cực. Chính tả nghe viết (so sánh) vốn
là một phân môn khiến học sinh căng thẳng, không đem lại nhiều hứng thú như
các môn khác. Do đó, nội dung và phương pháp dạy phải tạo ra hứng thú cho
học sinh để giảm bớt căng thẳng do chuyển hình thức hoạt động và thay đổi tâm
lý.
Không nên nghĩ rằng, cứ ép mãi rồi cũng xong, nếu không có phù hợp sẽ
không mang lại kết quả như mong muốn. Phải tạo ra sự thích thú trong học tập,
trong đó có chính tả nghe viết (so sánh.)
Cần đáp ứng nhu cầu này trong giờ chính tả nghe viết bên cạnh phương
pháp tích cực (cung cấp cho học sinh các qui tắc chính tả, hướng dẫn học sinh
thực hành luyện tập, nhằm hình thành các kỹ xảo chính tả) hướng dẫn học sinh
phát hiện sửa chữa, rồi từ đó hướng học sinh đi đến cái đúng. Nói cách khác,
việc hướng học sinh viết đúng chính tả cần tiến hành đồng thời với việc hướng
dẫn loại bỏ các lỗi chính tả trong các bài viết.
Để học sinh sửa các lỗi chính tả theo hướng loại bỏ phương pháp tiêu cực,
xây dựng phương pháp tích cực, đi từ cái sai đến cái đúng, giáo viên có thể nêu
ra các đoạn, đoạn thơ trong đó có nhiều từ viết sai chính tả để học sinh tự phát
hiện lỗi, tìm hiểu nguyên nhân và sửa cho đúng.
Phương pháp tiêu cực giúp học sinh có óc phân tích, xét đoán đồng thời
3 .Bài mới ( 27 phút)
a. Giới thiệu bài: Trong cuộc sống để giúp người nghe, người đọc hiểu được nội
dung và ý nghĩa của một văn bản thì các em phải viết đúng chính tả, đặc biệt là
đối với những từ ngữ dễ nhầm lẫn. Để các em làm tốt điều đó thì trong tiết học
hôm nay, cô sẽ hướng dẫn các em viết chính tả nghe viết, phân biệt một số từ
ngữ có âm đầu s/x hoặc âm cuối t/c với bài chính tả “Mùa thảo quả”
- Giáo viên nói: Ở sách giáo khoa các em có phân biệt thêm t/c nhưng
hôm nay cô chỉ tập trung hướng dẫn các em phân biệt các từ có âm s/ x.
- Giáo viên đọc mẫu lần 1 - Học sinh theo dõi sách giáo khoa
- Một học sinh đọc lại đoạn …
- Giáo viên: Em hãy nêu nội - Tả hương thơm của thảo quả và sự phát
dung của đoạn chính tả ? triển nhanh chóng của cây thảo quả.
- Một em đọc lại bài một lần nữa -Cả lớp theo dõi
- Học sinh tìm những tiếng dễ
viết sai trong bài? - Học sinh nêu trước lớp: “ sống, sương,
sáng, Chin San, lặng lẽ, chon chót… ”
- Học sinh đọc lại những tiếng vừa tìm
*/ Giáo viên hướng dẫn học sinh phân biệt chính tả một số từ ngữ.
* Giáo viên hướng dẫn học sinh phân
biệt tiếng “sống” được viết như thế nào? */ Sống: có âm s + vần ông + thanh sắc
- Học sinh đọc “ sống”
Hỏi: Tiếng sống có nghĩa như thế nào? - sống: Có nghĩa là tồn tại và phát triển.
- Cùng với tiếng sống em nào hãy tìm */ sống : cuộc sống, lẽ sống, nhựa sống
được từ viết với tiếng sống? sự sống, sức sống, vôi sống…
- Học sinh nhận xét, giáo viên kết luận.
- Hỏi: Cùng với vần ông thanh sắc kết
hợp với âm x cô có tiếng gì? - xống.
- Hs đọc từ : xống
- Hỏi:Tiếng xống viết như thế nào? - âm x + vần ông + thanh sắc.
- Hỏi:Tiếng xống có nghĩa như thế nào? - xống: váy – xống lụa, xống áo – áo
* Giáo viên đọc mẫu bài lần 2. – Học sinh lắng nghe.
- Giáo viên thống nhất cách viết - Hướng dẫn học sinh trình bày vở
theo mẫu trên bảng, lắng nghe cô
đọc hết câu, đọc lại cụm từ rồi các
em viết.
* Giáo viên đọc bài cho học sinh viết. - Học sinh viết vào vở.
* Giáo viên đọc lại bài cho học sinh - Học sinh cầm viết chì soát lỗi tự
soát lỗi (đọc thong thả từng câu) sửa bài.
*/ Giáo viên hướng dẫn học sinh bắt lỗi. - Học sinh cầm viết chì kết hợp sách
giáo khoa đổi vở ghi cho nhau theo
dõichữ nào sai gạch chân và viết chữ
đúng ra ngoài dòng.
* Giáo viên thu vở chấm một số vở.
* Giáo viên sửa lỗi học sinh sai (nếu có ).
* Giáo viên nhận xét bài vừa chấm
B- Luyện tập: */ Hướng dẫn học sinh làm
bài 2(a) trang 114
- Giáo viên treo (bảng phụ, hoặc giấy
khổ to) có ghi nội dung bài tập lên bảng. - Một em đọc nội dung bài tập.
* Giáo viên giao việc - Một em nêu yêu cầu bài tập
- Các em đọc các cặp tiếng trong
bảng thi tìm nhanh các cặp từ ngữ
chứa tiếng ghi ở mỗi cột trong bảng,
* Giáo viên nêu hình thứclàm bài “thi đua”
cho học sinh nắm, 3 em lên bảng bốc
thăm và thi viết những từ ngữ mình vừa
bốc được lên giấy khổ to ai viết nhanh,
đúng, nhiều từ thì thắng cuộc.
sổ sơ su sứ