TÁC ĐỘNG từ CUỘC KHỦNG HOẢNG tài CHÍNH THẾ GIỚI đến TÌNH HÌNH XUẤT KHẨU THỦY sản của VIỆT NAM - Pdf 30

GVHD: Tống Yên Đan Chuyên đề Kinh Tế
TÁC ĐỘNG TỪ CUỘC KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH
THẾ GIỚI ĐẾN TÌNH HÌNH XUẤT KHẨU THỦY SẢN
CỦA VIỆT NAM
A. PHẦN MỞ ĐẦU
I. SỰ CẦN THIẾT CỦA ĐỀ TÀI:
Được thiên nhiên ưu đãi, Việt Nam có hơn 3260 km bờ biển, 112 cửa
sông rạch, hơn 2 triệu km
2
thềm lục địa, hơn 1 triệu km
2
mặt nước, và tiềm năng
thủy hải sản phong phú tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển ngành thủy sản.
Vì vậy, thủy sản đã trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của nước ta, và là một bộ
phận quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, có ý nghĩa quyết định đến sự thành
công của công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa của Việt Nam.
Từ đầu năm 2008, nền kinh tế toàn cầu bắt đầu có những dấu hiệu khủng
hoảng, bắt nguồn từ sự suy thoái của thị trường bất động sản ở Mỹ dẫn đến cuộc
khủng hoảng tài chính trên toàn nước Mỹ. Cuộc khủng hoảng kinh tế ở Mỹ đã
lan ra thị trường thế giới và tác động mạnh tới các nền kinh tế lớn như EU, Nhật
Bản. Do khủng hoảng kinh tế xảy ra ở các nước phát triển này lại là những thị
trường tiêu thụ chính các sản phẩm xuất khẩu từ các nước đang phát triển (trong
đó Mỹ chiếm 15% tổng kim ngạch nhập khẩu hàng năm của thế giới), rõ ràng sự
biến động nền kinh tế của các nước phát triển sẽ có tác động lớn đến nhiều
ngành sản xuất của các nước đang phát triển, Việt Nam cũng không ngoại lệ.
Tuy sự ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính đến Việt Nam có nhịp độ chậm
hơn so với các nền kinh tế khác nhưng ảnh hưởng của khủng hoảng đến Việt
Nam thật sự nghiêm trọng, và lĩnh vực chịu tác động đầu tiên tại Việt Nam chính
là hoạt động xuất, nhập khẩu, cho nên xuất khẩu thủy sản không nằm ngoài tầm
ảnh hưởng của khủng hoảng.
Trong khi đó, mặt hàng thuỷ sản xuất khẩu có tốc độ tăng trưởng, cũng

 Nghiên cứu tình hình xuất khẩu thủy sản giai đoạn 2008-2010: đi sâu phân
tích các vấn đề về tốc độ tăng trưởng, qui mô xuất khẩu, cơ cấu mặt hàng xuất
khẩu, cơ cấu thị trường xuất khẩu.
 Phân tích những khó khăn gặp phải của hoạt động xuất khẩu thủy sản của
Việt Nam do những ảnh hưởng từ cuộc khủng hoảng tài chính thế giới.
SV: Quách Kim Ngân – 4084959
GVHD: Tống Yên Đan Chuyên đề Kinh Tế
 Đề xuất các giải pháp kinh tế nhằm đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu thủy
sản của Việt Nam sau khủng hoảng.
III. PHẠM VI NGHIÊN CỨU:
1. Không gian nghiên cứu:
- Lãnh thổ nước Việt Nam.
2. Thời gian nghiên cứu:
- Số liệu được thu thập trong khoảng thời gian từ tháng 1/2008 đến tháng 3/2010.
3. Đối tượng nghiên cứu:
- Hoạt động xuất khẩu thủy sản của Việt Nam.
IV. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
1. Phương pháp tiếp cận:
- Số liệu thứ cấp được thu thập qua:
+ Các báo cáo hằng năm của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt
Nam.
+ Các báo cáo từ Cục Thống kê.
+ Các báo cáo của Hiệp hội chế biến và xuất khẩu thủy sản Việt Nam VASEP.
+ Các nghiên cứu trước đây.
+ Số liệu thống kê từ báo, đài, tạp chí, Internet.
2. Phương pháp phân tích:
- Sử dụng phương pháp thống kê mô tả phân tích bộ số liệu được thu thập nhằm
tìm hiểu được thực trạng ngành xuất khẩu thủy sản của Việt Nam, xác định được
các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu thủy sản.
- Từ các kết quả nghiên cứu sử dụng nghiên cứu định tính đưa ra một số giải

truyền thống được thế giới ưa chuộng hay những mặt hàng tận dụng được những
SV: Quách Kim Ngân – 4084959
GVHD: Tống Yên Đan Chuyên đề Kinh Tế
nguyên liệu có sẵn trong nước hay nước khác không làm được hoặc làm được
nhưng giá thành cao.
Thông qua hoạt động xuất khẩu đã thúc đẩy phát triển quan hệ đối ngoại
với tất cả các nước nhất là với các nước trong khu vực Đông Nam á, Mỹ nâng
cao uy tín của Việt Nam trên trường Quốc tế.
Thông qua hoạt động xuất khẩu, đưa thương hiệu hàng hóa Việt Nam đến
với bạn bè thế giới.
1.1.2.2. Ý nghĩa thực tiễn:
Xuất khẩu góp phần không nhỏ vào giải quyết công ăn việc làm mới cho
người lao động đồng thời tác động tích cực đến trình độ tay nghề cũng như nhận
thức về công việc của công nhân làm hàng xuất khẩu.
Xuất khẩu thúc đẩy các ngành kinh tế phát triển nhất là các ngành có tiềm
năng về xuất khẩu.
Xuất khẩu làm tăng dự trữ ngoại tệ cho Quốc gia, làm tăng tổng thu nhập
Quốc dân.
Xuất khẩu đồng thời giúp các doanh nghiệp Việt Nam đút kết kinh
nghiệm của quốc tế trong kinh doanh.
1.2. KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH
1.2.1. Khái niêm về khủng hoảng tài chính:
Khủng hoảng tài chính là sự thất bại của một hay một số nhân tố của nền
kinh tế trong việc đáp ứng đầy đủ nghĩa vụ, bổn phận tài chính của mình. Khủng
hoảng tài chính diễn ra khi nhu cầu tiền vượt quá nguồn cung, nhu cầu tiền mặt
của người dân hay các nhà đầu tư nước ngoài đã gây sức ép cho hệ thống ngân
hàng và thị trường tài chính khiến cho hệ thống ngân hàng và thị trường chứng
khoán có thể sụp đổ. Trong nền kinh tế thế giới hiện đại, sự lây lan của khủng
hoảng tài chính thường đi kèm với tình trạng suy thoái kinh tế thế giới kéo dài.
− Dấu hiệu của Khủng hoảng tài chính là:

toán nguồn vay nước ngoài của một quốc gia, trong đó quan trọng nhất là chỉ
tiêu tỉ lệ thanh toán nợ nước ngoài tức tỷ lệ giữa nguồn vay nước ngoài cả gốc
và lãi mà quốc gia đó trả trong một năm trên tổng kim ngạch xuất khẩu của cả
quốc gia đó trong năm đó hoặc một năm trước đó. Bình thường chi tiêu này
thường nằm dưới 20%, nếu vượt quá 20% chứng tỏ lượng vay nước ngoài của
quốc gia đó quá lớn.

SV: Quách Kim Ngân – 4084959
GVHD: Tống Yên Đan Chuyên đề Kinh Tế
1.2.2. Diễn biến và nguyên nhân của cuộc khủng hoảng tài chính thế giới:
1.2.2.1. Diễn biến:
Để giúp nền kinh tế thoát khỏi sự trì trệ kéo dài (một phần lớn bị tác động
bởi sự kiện 11/09/2001 nước Mỹ bị khủng bố và Mỹ tấn công Afghanistan,
Iraq), Thống đốc Hệ thống Dự trữ liên bang Mỹ (FED) liên tục điều chỉnh hạ
thấp lãi suất từ 6% xuống còn 1% vào ngày 25/06/2003.
Từ đó dẫn đến các ngân hàng thương mại cũng hạ lãi suất cho vay (từ 9-
10%/năm xuống còn 4-5%/năm). Chính sách tiền tệ của ngân hàng trung ương
được nới lỏng, dư nợ tín dụng của hệ thống ngân hàng thương mại cũng được
mở rộng theo, nhiều khoản vay mua nhà dưới chuẩn được thực hiện với sự tiếp
sức của các môi giới tín dụng và môi giới bất động sản.
Theo ước tính của các chuyên gia thì dư nợ cho vay dưới chuẩn tăng từ
160 tỉ USD năm 2001 lên 540 tỉ vào năm 2004 và trên 1.300 tỉ vào năm 2007.
Trong 22.000 tỷ USD giá trị bất động sản tại Mỹ thì có tới hơn 12.000 tỷ USD là
tiền đi vay, trong đó khoảng 4.000 tỷ USD là nợ xấu.
Chính sách nới lỏng tiền tệ đã dẫn đến lo ngại về lạm phát, FED đã liên
tục điều chỉnh lãi suất từ 1% lên 1.25, 1.5, …và 5.25% vào ngày 30/06/2006,
kéo theo lãi suất ngân hàng thương mại tăng từ 4% lên 8-9%/năm. Các khoản
tiền lãi vay phải trả của những người mua nhà đã gia tăng mạnh và đe dọa khả
năng trả nợ. Thị trường bất động sản Mỹ bắt đầu đóng băng và sụt giảm giá trị,
… nợ quá hạn, nợ khó đòi gia tăng và đó là nguyên nhân chính dẫn đến khủng

hỗn loạn trên thị trường tài chính thế giới cũng là nguyên nhân quan trọng khiến
giá cổ phiếu giảm mạnh và thị trường tín dụng bị thu hẹp.
Thứ nhất, giá hàng hóa leo thang, đặc biệt là giá vàng và giá dầu, giá vàng
tăng 54%, trong khi giá dầu tăng tới 91% trong năm 2008.
Thứ hai, các ngân hàng trên thế giới đồng loạt thua lỗ, các ngân hàng và
các định chế tài chính có thể thua lỗ 1 tỷ USD từ cuộc khủng hoảng tín dụng do
khủng hoảng nợ dưới chuẩn cho vay cầm cố. Theo thống kê, trong năm 2008 các
ngân hàng thông báo đã thua lỗ gần 500 tỷ USD, quỹ tiền tệ thế giới IMF cho
rằng các ngân hàng này chỉ có thể có khả năng tăng vốn để khôi phục lại 2/3 tài
sản đã bị mất. Chính vì vậy, so với những năm trước các ngân hàng sẽ áp dụng
nhiều chế độ để thắt chặt cho vay.
Thứ ba, thị trường tín dụng đóng băng, các khoản vay thế chấp đã giảm
hẳn trong năm 2008, trong đó khoản vay thế chấp thương mại hoàn toàn bị mất
trên biểu đồ.
SV: Quách Kim Ngân – 4084959
GVHD: Tống Yên Đan Chuyên đề Kinh Tế
Thứ tư, thị trường địa ốc sụp đổ, thị trường nhà ở của Mỹ phát triển thành
bong bong từ năm 2001. Người Mỹ đồng loạt đi vay tiền mua nhà ở cho dù năm
2004, 2005 lãi suất các khoản vay đã được đẩy lên cao, khi tình hình kinh tế khó
khăn thì giá nhà hạ xuống mạnh. Từ cuối năm 2008, bong bóng nhà ở bắt đầu
xẹp hơi khiến nền kinh tế chao đảo. Có thể thấy cuộc khủng hoảng tài chính toàn
cầu là do tỉ lệ cấp vốn vào thị trường so với GDP vượt quá giá trị mà có thể đảm
bảo một sự phát triển ổn định trong tương lai.
SV: Quách Kim Ngân – 4084959
GVHD: Tống Yên Đan Chuyên đề Kinh Tế
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG NGÀNH XUẤT KHẨU THỦY SẢN CỦA VIỆT NAM
2.1. VỊ TRÍ CỦA NGÀNH XUẤT KHẨU VIỆT NAM
Việt Nam được coi là một trong những nước có tốc độ tăng trưởng xuất
khẩu thủy sản nhanh nhất thế giới với tốc độ tăng giá trị trung bình đạt 18%/năm.

trị so với năm 2007.
Sản lượng thủy sản thời kỳ 2000 – 2008
Năm
Tổng sản lượng
thủy sản (triệu
tấn)
Sản lượng khai
thác thủy sản (triệu
tấn)
Sản lượng nuôi
trồng thủy sản
(triệu tấn)
Kim ngạch
XKTS
(tỷ USD)
2000 2,00 1,28 0,72 1,48
2001 2,23 1,35 0,88 1,78
2002 2,41 1,43 0,98 2,01
2003 2,54 1,43 1,11 2,20
2004 3,07 1,92 1,15 2,40
2005 3,43 1,99 1,44 2,74
2006 3,69 2,00 1,69 3,36
2007 4,15 2,05 2,10 3,76
2008 4,58 2,13 2,45 4,50
Năm 2008, tổng sản lượng thủy sản của Việt Nam đạt 4,58 triệu tấn, trong
đó nuôi trồng đạt 2,45 triệu tấn và khai thác đạt 2,13 triệu tấn, đưa Việt Nam lên
vị trí thứ 3 về sản lượng nuôi trồng thủy sản và đứng thứ 13 về sản lượng khai
thác thủy sản trên thế giới.
Liên minh Châu Âu (EU) giữ vị trí là nhà nhập khẩu thủy sản lớn nhất,
Việt Nam đã xuất khẩu thủy sản sang 26/27 quốc gia thuộc khối EU, đứng đầu là

thấp, ảnh hưởng hiệu quả sản xuất, kinh doanh và tính bền vững của xuất khẩu
thủy sản.
Bên cạnh đó, còn chịu sự cạnh tranh không lành mạnh của các doanh
nghiệp xuất khẩu, bị đối tác lợi dụng đưa giá xuất khẩu xuống mức quá thấp với
chất lượng thấp (tỷ lệ mạ băng cao, dùng hóa chất giữ nước ) không những làm
tổn hại đến hiệu quả và lợi ích của người nuôi cá mà còn ảnh hưởng đến uy tín
của cá tra Việt Nam, tạo cớ cho những thông tin không tốt của báo chí các nước,
dẫn đến nguy cơ làm mất thị trường.
Ngoài ra, còn có nguyên nhân khác như nguồn nguyên liệu không ổn định,
tình hình sản xuất khai thác không thuận lợi cũng làm giảm tăng trưởng xuất
khẩu.
Xuất khẩu thuỷ sản của cả nước năm 2009 đạt 1,216 nghìn tấn, trị giá 4,25
tỷ USD, giảm 1,6% về lượng và 5,7% về giá trị so với năm 2008 do thị trường
thủy sản Việt Nam bị mất 18 thị trường so với năm 2008; trong đó 1 số thị
trường có kim ngạch lớn như: xuất khẩu sang Newzealand năm 2008 đạt hơn 7,5
triệu USD, sang Cộng hòa Séc 5,1 triệu USD, Litva hơn 2 triệu USD, Nam phi
SV: Quách Kim Ngân – 4084959 12
GVHD: Tống Yên Đan Chuyên đề Kinh Tế
1,8 triệu USD, Phần Lan 1,5 triệu USD, NaUy 1,3 triệu USD. Việt Nam chủ yếu
xuất khẩu thủy sản sang 35 thị trường chính, nhưng đa phần sang Nhật Bản, Hoa
Kỳ. Đứng thứ nhất về kim ngạch xuất khẩu là thị trường Nhật Bản với
60.725.464 USD, chiếm 17,89% tổng kim ngạch; tiếp theo là thị trường Hoa Kỳ
với 711.145.746 USD, chiếm 16,73%.
Quan sát biểu đồ trên chúng ta còn thấy rằng tỷ lệ suy giảm đang tăng dần
qua các tháng. Quý 1/2009, xuất khẩu thủy sản mới chỉ giảm 7%, nhưng tính
chung 6 tháng đầu năm tổng kim ngạch xuất khẩu chỉ đạt 27,6 tỷ USD, kém xa
so với mục tiêu đề ra (mục tiêu đặt ra cho cả năm là 64,75 tỷ USD) giảm tới
10,15% (mục tiêu là tăng 13%) so với cùng kỳ năm 2008.
Qua những số liệu trên, thấy rõ rằng mức độ ảnh hưởng của khủng hoảng
tài chính và suy thoái kinh tế tới nền kinh tế Việt Nam là rất nghiêm trọng. Đánh

7,6% về giá trị so với năm 2008.
SV: Quách Kim Ngân – 4084959 14
GVHD: Tống Yên Đan Chuyên đề Kinh Tế
2.2.2.2. Mặt hàng xuất khẩu:
Là mặt hàng có thế mạnh và sức tăng trưởng mạnh nhất trong năm 2008,
bước sang năm 2009, trước áp lực cạnh tranh từ các thị trường tiêu thụ, những
khó khăn về nguồn nguyên liệu, về vốn đầu tư, chi phí thức ăn… Từ mức tăng
trưởng 48,4% với 1,45 tỷ USD trong năm 2008, kim ngạch xuất khẩu cá tra năm
2009 giảm xuống còn 1,34 tỷ USD, giảm 7,6%. Tỷ trọng xuất khẩu cá tra cũng
giảm từ 32,2% xuống còn 31,6%.
Mặc dù rơi vào tình hình kinh tế khó khăn, nhưng xuất khẩu tôm trong
năm 2009 vẫn đạt kết quả khích lệ với 1,675 tỷ USD, tăng 3% so với năm 2008.
Kế đến là tình hình xuất khẩu cá ngừ, mực và bạch tuộc: xuất khẩu cá ngừ
giảm 4,1%, trong khi xuất khẩu mực, bạch tuộc giảm 13,8%. XK các sản phẩm
cá khác giảm 16%. Sang năm 2010, những mặt hàng này sẽ thêm một khó khăn
mới liên quan đến việc thực hiện quy định IUU của EU. hiện quy định IUU của
EU
2.2.3. Tình hình xuất khẩu thủy sản 3 tháng đầu năm 2010:
2.2.3.1. Thị trường xuất khẩu:
Năm 2010, thị trường thủy sản thế giới vẫn tiếp tục phải đối mặt với nhiều
thách thức nhất là khi nền kinh tế toàn cầu chưa thực sự thoát khỏi khủng hoảng.
SV: Quách Kim Ngân – 4084959 15
GVHD: Tống Yên Đan Chuyên đề Kinh Tế
Chỉ tiêu tiêu dùng suy giảm, xu hướng tiết kiệm phổ biến sẽ thực sự là những trở
ngại lớn cho quá trình hồi phục của thương mại thủy sản toàn cầu. Đặc biệt, tại
một số thị trường nhập khẩu thủy sản lớn như Mỹ, EU, Nhật Bản, triển vọng
kinh tế chưa được khả quan khi các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô năm 2009 còn thiếu
tính bền vững, đặc biệt là tình trạng giảm phát ở Nhật và tỷ lệ thất nghiệp ở mức
kỷ lục tại Mỹ và EU sẽ là những nhân tố chính làm giảm nhu cầu tiêu dùng và
giảm giá.

Tăng, giảm
3T/2010 so
3T/2009(%)
Tổng cộng 354.511.367895.256.195 +55,32 +16,65 +19,66
Nhật Bản 66.950.698155.125.720 +69,01 +15,62 +12,62
Hoa Kỳ 55.035.754143.222.601 +17,87 +28,18 +28,51
Hàn Quốc 27.816.151 67.059.970 +102,41 +31,14 +24,35
Đức 16.025.281 41.754.205 +56,3 -0,53 -6,79
Tây Ban Nha 15.591.998 35.385.560 +69,2 -0,63 -5,45
Trung Quốc 8.731.821 29.104.956 +49,36 +31,96 +45,38
Australia 11.648.367 28.393.233 +59,66 +52,42 +16,48
Hà Lan 10.256.036 24.306.566 +107,44 +64,14 +33,44
Bỉ 9.880.908 21.723.850 +102,28 +48,7 +21,16
Italia 10.328.040 21.693.694 +71,1 +2,45 -7,9
Mexico 7.659.632 20.476.711 +70,99 +76,17 +64,1
Hồng kông 7.568.319 19.530.985 +55,96 +10,74 +7,29
Pháp 8.773.263 19.308.276 +93,97 +86,28 +48,2
Ucraina 7.700.236 18.671.398 +89,2 +80,56 +13,39
Đài Loan 6.455.308 17.383.430 +110,12 +25,41 +39,88
Singapore 6.549.454 16.017.304 +81,47 +52,39 +27,19
Anh 6.013.650 15.342.194 +48,07 +21,04 +26,9
SV: Quách Kim Ngân – 4084959 17
GVHD: Tống Yên Đan Chuyên đề Kinh Tế
Ba Lan 3.615.200 14.565.144 -24,34 +49,3 +128,84
Canada 6.798.765 14.420.000 +67,37 +0,25 -11,65
Thái Lan 5.725.978 11.988.783 +147,94 -4,55 -23,23
Nga 4.033.646 11.857.641 -5,58 * *
Ả Rập Xê út 4.197.461 10.979.455 +70,75 +28,59 +141,65
Thuỵ Sĩ 4.057.182 8.703.864 +76,91 +41,29 +17,2
Tiểu vương quốc Ả

nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho DN nhập khẩu nguyên liệu chế biến xuất khẩu,
tạo thêm việc làm, giảm chi phí, nâng cao năng lực cạnh tranh, nhưng không làm
ảnh hưởng đến nuôi trồng và khai thác thủy sản trong nước.
Xuất khẩu thủy sản lâu nay được nhắc đến với những cá tra, cá basa, tôm
đông lạnh, tươi sống. Tuy nhiên, một thị trường cũng rất nhiều triển vọng là xuất
khẩu thủy sản khô lại chưa được khai thác mạnh. Năm 2010 được đánh giá là
năm thành công của xuất khẩu thủy sản khô Việt Nam. Mặt hàng này sẽ có
những đóng góp quan trọng trong tổng kim ngạch xuất khẩu chung của cả ngành
thủy sản và sẽ là mặt hàng xuất khẩu chiến lược của thủy sản Việt Nam.
Thủy sản khô của Việt Nam hiện đang có mặt tại hơn 50 nước trên thế
giới, ASEAN, Trung Quốc & Hàn Quốc là các nhà nhập khẩu thủy sản khô lớn
nhất của nước ta. Theo báo cáo mới nhất của Tổng cục Hải quan Việt Nam, 3
tháng đầu năm 2010, Việt Nam đã xuất khẩu 6.258 tấn thủy sản khô với tổng trị
giá xấp xỉ 24,2 triệu USD. Trong đó, riêng tháng 3/2010, cả nước xuất khẩu
SV: Quách Kim Ngân – 4084959 19
GVHD: Tống Yên Đan Chuyên đề Kinh Tế
3.232 tấn hàng khô tương đương 9,82 triệu USD, tăng 45,4% về lượng và và
3,5% về giá trị so với cùng kỳ năm ngoái. Diễn biến tích cực này chứng tỏ sự
phục hồi dần dần của mặt hàng thủy sản xuất khẩu này.
SV: Quách Kim Ngân – 4084959 20
GVHD: Tống Yên Đan Chuyên đề Kinh Tế
CHƯƠNG 3:
ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH
THẾ GIỚI ĐẾN TÌNH HÌNH XUẤT KHẨU THỦY SẢN CỦA
VIỆT NAM
3.1. ẢNH HƯỞNG CỦA KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH ĐẾN XUẤT
KHẨU THỦY SẢN VIỆT NAM
3.1.1. Khó khăn:
- Do vị thế đặc biệt của Mỹ:
• Là trung tâm tài chính lớn nhất của thế giới.

đơn hàng nhà nhập khẩu châu Âu đã ký kết xong rồi nhưng họ vẫn cắt không
tiếp tục mua nữa, gây khó khăn cho những nhà chế biến và xuất khẩu thủy sản
Việt Nam.
3.1.2. Cơ hội:
Qua cuộc khủng hoảng này kinh tế nước ta có thể có những cơ hội sau:
Một, cơ hội trong thu hút vốn đầu tư. Dòng vốn trên thế giới sẽ tập trung
vào những nơi có môi trường chính trị và kinh doanh ổn định, Việt Nam đang có
những lợi thế trong hai nhân tố này, và ngành thủy sản là một ngành đầy triển
vọng phát triển nên cơ hội được đầu tư vốn từ nước ngoài là rất cao.
Hai, cơ hội trong tăng xuất khẩu, theo nghĩa tăng mạnh hoạt động xuất
khẩu các mặt hàng mà Việt Nam có lợi thế so sánh.
Ba, chọn lọc nhập khẩu. Tranh thủ nhập khẩu các mặt hàng, công nghệ
hiện mà các nước phát triển phải bán đi do kinh tế đi xuống, nhằm nâng cao chất
lượng của các mặt hàng thủy sản xuất khẩu, từ đó uy tín về chất lượng sản phẩm
Việt Nam được nâng cao.
Tư, đây là cơ hội tốt để củng cố lại hệ thống tài chính trong nước vốn
đang có rất nhiều vấn đề và trục trặc. Khi có một hệ thống tài chính đúng nghĩa,
phân bổ vốn một cách hiệu quả thì nền kinh tế sẽ tăng trưởng lành mạnh và phát
triển bền vững.
SV: Quách Kim Ngân – 4084959 22
GVHD: Tống Yên Đan Chuyên đề Kinh Tế
3.2. MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐƯA XUẤT KHẨU THỦY SẢN VIỆT
NAM VƯỢT QUA NHỮNG HỆ LỤY CỦA KHỦNG HOẢNG TÀI
CHÍNH THẾ GIỚI, ĐỒNG THỜI ĐẨY MẠNH XUẤT KHẨU THỦY
SẢN CỦA VIỆT NAM SAU KHỦNG HOẢNG
3.2.1. Đối với tổng thể ngành xuất khẩu thủy sản:
Để thoát khỏi khủng hoảng, cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam đã có
nhiều cố gắng trong việc giảm thiểu chi phí, chấp nhận thu hẹp lợi nhuận, tăng
cường hoạt động tiếp thị, níu giữ lao động có tay nghề v.v Tuy nhiên, đó chỉ là
những giải pháp để tồn tại trong cơn bão khủng hoảng. Đến thời điểm này cộng

việc hỗ trợ hoạt động xúc tiến thương mại nhằm mở rộng thị trường xuất khẩu.
Nâng cao khả năng cạnh tranh của hàng xuất khẩu Việt Nam trên cơ sở
nâng cao chất lượng, giảm chi phí giá thành. Các doanh nghiệp cần chú trọng
quản lý chất lượng sản phẩm, áp dụng các biện pháp nâng cao hiệu quả sản xuất,
kinh doanh, chủ động ứng phó trước diễn biến của thị trường.
Tăng cường công tác dự báo thông tin về thị trường, mặt hàng, các điều
kiện thương mại làm cơ sở cho việc chỉ đạo phát triển sản xuất, xuất khẩu;
nghiên cứu, đánh giá khó khăn của từng mặt hàng, từng thị trường để có biện
pháp hợp lý tháo gỡ khó khăn cho từng đối tượng.
3.2.2. Đối với những mặt hàng thủy sản chủ lực:
Cá tra: là nguồn thu ngoại tệ cao nhất trong số những tổng thể của ngành
xuất khẩu thủy sản của Việt Nam năm 2009, vì vậy việc xúc tiến thương mại,
đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu cá tra là rất cần thiết. Trước mắt không cần mở
rộng diện tích nuôi cá tra, mà cần củng cố và nâng cao chất lượng của sản phẩm
nuôi hiện tại. Đồng thời tạo sự liên kết giữa người nuôi và doanh nghiệp xuất
khẩu bằng các hợp đồng kinh tế chặt chẽ trên cơ sở pháp lý, để tránh tình trạng
cung cầu hàng hóa không gặp nhau. Cần tăng cường quản lý diện tích đang nuôi
và đảm bảo an toàn dịch bệnh. Điều đó sẽ tạo điều kiện cho các doanh nghiệp
đảm bảo và đáp ứng các yêu cầu về an toàn vệ sinh thực phẩm mới, củng cố
niềm tin của người tiêu dùng, tạo thương hiệu cá tra Việt Nam vững mạnh trên
thị trường thế giới.
Tôm: Để bảo vệ uy tín của tôm Việt Nam, cộng đồng doanh nghiệp Việt
Nam cần kiên quyết nói không với tôm tạp chất, không thu mua, không chế biến,
không vận chuyển, không xuất khẩu sản phẩm có chứa tạp chất… và kịp thời
thông báo cho các cơ quan có thẩm quyền khi phát hiện các hành vi vi phạm.
Khi hàng rào thuế quan dần được loại bỏ, các thị trường “khó tính” như EU, Mỹ,
SV: Quách Kim Ngân – 4084959 24
GVHD: Tống Yên Đan Chuyên đề Kinh Tế
Nhật Bản, Hàn Quốc ngày càng đặt ra nhiều quy định nghiêm ngặt
Cùng với tiêu chuẩn về môi trường, vệ sinh an toàn thực phẩm, việc truy xuất


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status