Đánh giá tình hình nuôi cá chép nội trong môi trường ruộng lúa tại xã hiệp hòa huyện vũ thư tỉnh thái bình - Pdf 30

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NGUYỄN THỊ HÀ

Tên đề tài:

ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH NUÔI CÁ CHÉP NỘI TRONG MÔI TRƢỜNG
RUỘNG LÚA TẠI XÃ HIỆP HÒA HUYỆN VŨ THƢ - TỈNH THÁI BÌNH

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Hệ đào tạo: Chính quy
Chuyên ngành: Nuôi trồng thủy sản
Khoa: Chăn nuôi thú y
Khóa học: 2011 – 2015 Thái Nguyên - năm 2015 ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM NGUYỄN THỊ HÀ
Tên đề tài:


nghiệp: "Đánh giá tình hình nuôi cá chép nội trong môi trường ruộng lúa
tại xã Hiệp Hòa huyện Vũ Thư tỉnh Thái Bình".
Đây là lần đầu tiên tôi thực hiện một khoa luận. Vì vậy, khoá luận không
thể tránh khỏi những thiếu sót, tôi rất mong nhận được sự góp ý và phê bình từ
quý thầy, cô giáo, các bạn sinh viên để khoá luận của tôi được hoàn thiện hơn.
Tôi xin trân trọng gửi lời cảm ơn tới Ban giám hiệu nhà trường, Ban chủ
nhiệm khoa Chăn nuôi thú y. Đặc biệt cảm ơn sự tận tình giúp đỡ của thầy giáo
TS. Hà Văn Doanh - giảng viên khoa CNTY – ĐHNL – TN là người đã truyền
đạt cho tôi những kiến thức bổ ích trong suốt quá trình thực hiện khoá luận.
Tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn đến Ban lãnh đạo xã Hiệp Hòa,
huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình và toàn thể bà con nhân dân 3 thôn: Phương
Cáp, Đức Hiệp và An Để đã tạo mọi điều kiện tốt nhất giúp tôi hoàn thành
khóa luận tốt nghiệp.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày 1 tháng 6 năm 2015
Sinh viên Nguyễn Thị Hà
ii
DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang

Bảng 2.1: Mối quan hệ giữa chiều dài cơ thể và ngày tuổi của cá chép 8
Bảng 4.1: Kết quả công tác phục vụ sản xuất 31
Bảng 4.2: Chiều dài thân của cá chép nội 33
Bảng 4.3: Chiều cao của cá chép nội (n = 40 con/lô thí nghiệm, đơn vị: mm) 34

Hình 4.3: Biểu đồ tốc độ tăng trưởng khối lượng của cá chép nội 37
Hình 4.4: Biểu đồ so sánh chi phí, doanh thu và lợi nhuận giữa cây lúa và mô
hình nuôi kết hợp lúa – cá. 45 iv
DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT

SNN & PTNT : Sở nông ngiệp và phát triển nông thôn
STTL : Sinh trưởng tích lũy
STTĐ
1
: Sinh trưởng tuyệt đối
STTĐ
2
: Sinh trưởng tương đối
TB : Trung bình
KL : Khối lượng

1.3. Ý nghĩa của đề tài 2
1.3.1 Ý nghĩa trong khoa học 2
1.3.2 Ý nghĩa trong thực tiễn 2
Phần 2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
2.1. Cơ sở khoa học 4
2.1.1. Những đặc điểm chung của cá chép nội 4
2.1.2. Vấn đề môi trường nuôi cá chép nội 11
2.2. Tình hình nghiên cứu cá chép nội trong nước và trên thế giới 14
2.2.1. Tình hình nghiên cứu cá chép nội trên thế giới 14
2.2.2. Tình hình nghiên cứu cá Chép nội trong nước 16
Phần 3. ĐỐI TƯỢNG NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20
3.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 20
3.1.1. Đối tượng nghiên cứu 20
3.1.2. Phạm vi nghiên cứu 20
3.2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu 20
3.2.1. Thời gian 20
vi
3.2.2. Địa điểm thực hiện đề tài 20
3.3 Nội dung nghiên cứu 20
3.4 Phương pháp nghiên cứu và các chỉ tiêu theo dõi 20
3.4.1. Phương pháp bố trí thí nghiệm 20
3.4.2. Phương pháp theo dõi các chỉ tiêu 21
3.4.3. Các công thức tính 24
3.4.4. Phương pháp xử lý số liệu 25
Phần 4. KẾT QUẢ ĐẠT ĐƢỢC 26
4.1 Công tác phục vụ sản xuất 26
4.1.1. Nội dung công tác phục vụ sản xuất 26

ngòi, ao hồ tự nhiên dày đặc. Nó được xem như những dải lụa uốn lượn trên
đất nước Việt Nam và đóng vai trò quan trọng trong đời sống của hàng triệu
người dân. Dưới sức ép của việc phát triển đô thị, công nghiệp, dân sinh thì
hơn 50% diện tích ao hồ sông ngòi đã bị giảm vì những nguyên nhân do con
người gây ra. Hệ thống ao hồ đã bị khai thác quá mức hoặc chuyển sang sử
dụng dưới hình thức khác: nông nghiệp, công nghiệp, xây dựng nhiều tòa nhà
cao tầng, các khu công nghiệp mọc lên xâm lấn diện tích nuôi trồng thủy sản.
Mặc dù vậy hàng năm, ngành thủy sản đã cung cấp một lượng lớn
nguồn thực phẩm an toàn, giàu dinh dưỡng cho con người, đảm bảo an ninh
thực phẩm cho những hộ nuôi quy mô nhỏ và đóng góp tới 35% lượng tiêu
thụ protein của người Việt Nam. Sản lượng nuôi trồng thuỷ sản hàng năm
tăng trưởng 10% và góp phần đáng kể cho thu nhập từ nguồn xuất khẩu của
cả nước (Bộ Thuỷ sản, 2007).
Với nghề nuôi cá nước ngọt, cá Chép là loài cá truyền thống có khả
năng chống chịu bệnh tốt và thích nghi với các điều kiện khí hậu rất cao, có
thể sinh trưởng và phát triển tốt trong các ao, hồ, đầm đặc biệt là trong mô
hình nuôi ghép lúa – cá, tại xã Hiệp Hòa là một xã thuần nông nghiệp, có diện
tích ruộng chiêm trũng rộng, nguồn nước dồi dào đã có nhiều mô hình nuôi
2
ghép lúa – cá mang lại hiệu quả kinh tế cao. Trên cùng đơn vị diện tích ruộng
thu được nhiều sản phẩm, tận dụng được diện tích mặt nước, giảm bớt rất
nhiều chi phí trung gian, tăng thu nhập cho các hộ chăn nuôi.
Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn cùng với lòng mong muốn góp phần trí tuệ
nhỏ bé của mình nhằm phát triển ngành nuôi trồng thủy sản tại địa phương nên tôi
tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá tình hình nuôi cá chép nội trong môi
trường ruộng lúa tại xã Hiệp Hòa, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình”.
1.2. Mục tiêu và yêu cầu của đề tài
4
Phần 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. Cơ sở khoa học
2.1.1. Những đặc điểm chung của cá chép nội
2.1.1.1. Vị trí phân loại
Cá Chép tuy có nhiều dạng hình khác nhau song chỉ có một loài duy
nhất chúng thuộc bộ cá chép.
Bộ cá chép: Cypriniformes
Họ cá chép: Cyprinidae

bụng. Đầu cá thuôn, cân đối. Mõm tù. Có hai đôi râu: Râu mõm ngắn hơn
đường kính mắt, râu góc hàm bằng hoặc lớn hơn đường kính mắt. Mắt vừa
phải ở hai bên, thiên về phía trên của đầu. Khoảng cách hai mắt rộng và lồi.
Miệng ở mút mõm, hướng ra phía trước, hình cung khá rộng, rạch miệng chưa
tới viền trước mắt. Hàm dưới hơi dài hơn hàm trên. Môi dưới phát triển hơn
môi trên. Màng mang rộng gắn liền với eo. Lược mang ngắn, thưa. Răng hầu
phía trong là răng cấm, mặt nghiền có vân rãnh rõ.
Khởi điểm của vây lưng sau khởi điểm vây bụng, gần mõm hơn tới gốc
vây đuôi, gốc vây lưng dài, viền sau hơi lõm, tia đơn cuối là gai cứng rắn chắc
và phía sau có răng cưa. Vây ngực, vây bụng và vây hậu môn ngắn chưa tới
các gốc vây sau nó. Vây hậu môn viền sau lõm, tia đơn cuối hoá xương rắn
6
chắc và phía sau có răng cưa. Hậu môn ở sát gốc vây hậu môn. Vây đuôi phân
thuỳ sâu, hai thuỳ hơi tầy và tương đối bằng nhau.
Vẩy tròn lớn. Đường bên hoàn toàn, chạy thẳng giữa thân và cuống
đuôi. Gốc vây bụng có vẩy nách nhỏ dài. Lưng xanh đen, hai bên thân phía
dưới đường bên vàng xám, bụng trắng bạc. Gốc vây lưng và vây đuôi hơi đen.
Vây đuôi và vây hậu môn đỏ da cam.
Công thức vẩy đường bên: 30
5
2
1
4
65


33

Nhuyễn thể, giun, ấu trùng, côn trùng trong điều kiện thiếu thức ăn chúng sử
dụng mùn bã hưu cơ cỏ non chìm trong nước và chúng cũng ăn nhiều loại
thức ăn do con người cung cấp như bột ngũ cốc các loại, bột cá bột tôm, rau
bèo, phân động vật, tấm cám…Cá chép thuộc loài cá nuôi phân bố tầng đáy,
ăn động vật hoặc ăn tạp thiên về động vật, thay đổi tùy theo giai đoạn phát
triển (Đỗ Thị Thanh Hương và cs, 2000) [5]. Cá có phổ thức ăn rất rộng, khi
phân tích thành phần thức ăn trong ruột cá chép cho thấy mùn bã hữu cơ
chiếm tới 70%, kế đến là nhuyễn thể và thấp nhất là động vật giáp xác (Ngô
Thị Mai Hương và cs, 2008) [6].
Tính ăn cá chép có sự thay đổi theo từng giai đoạn phát triển và sự
hoàn thiện dần của hệ thống men tiêu hóa trong cơ thể.
- Cá mới nở dinh dưỡng bằng noãn hoàng.
- Sau khi nở 3 – 4 ngày, cá dài từ 6 – 7,2 mm, bóng hơi đầy khí, cá
phân bố ở lớp nước mặt là chính. Cá bắt đầu ăn thức ăn bên ngoài, thức ăn
thích hợp là các động vật phù du có kích cỡ nhỏ như luân trùng (Rotifera),
giáp xác râu ngành (Cladocera), cá cũng có thể ăn được các loại thức ăn tự
chế khác như bột đậu nành, bột huyết, lòng đỏ trứng nghiền nát
- Từ 4 – 6 ngày chiều dài L = 7 – 10 mm, ăn sinh vật phù du cỡ nhỏ
sống ở lớp nước giữa là chính.
8
- Từ 6 – 10 ngày chiều dài L = 10 – 13,5 mm, các vây hình thành rõ
ràng, hàm trên bắt đầu xuất hiện răng sừng. Cá đã chủ động bắt mồi, ăn sinh
vật đáy, sinh vật phù du, ấu trùng, côn trùng cỡ nhỏ.
- Từ 10 – 25 ngày chiều dài L = 15 – 25 mm, toàn thân có vẩy bao bọc,
mồm xuất hiện chồi râu. Cá hoàn toàn chủ động bắt mồi. Thành phần thức ăn
bắt đầu thay đổi, thức ăn chủ yếu là sinh vật đáy (Benthos) cỡ nhỏ.
Tuy nhiên nhiệt độ thích hợp cho cá chép từ 24 – 289
Tốc độ tăng trưởng trong điều kiện bình thường.
Một năm đạt 0,3 – 0,5 kg.
Hai năm đạt 0,7 – 1 kg.
Ba năm đạt 1,5 – 2 kg.
Trong điều kiện nuôi tốt, thức ăn đầy đủ 1 năm có thể đạt trên 1kg.
2.1.2.5. Đặc điểm sinh sản
Tuổi thành thục: Cá tham gia sinh sản lần đầu tiên sau 12 tháng tuổi.
Mùa vụ sinh sản: Cá đẻ tập trung vào những tháng đầu năm và giữa
mùa mưa, cá tái phát dục khoảng 60 ngày.
Tập tính sinh sản: Cá chép thành thục trong các ao hồ đầm sông ruộng
vào mùa mưa thường ngược dòng tới bãi cỏ hoặc các loại thực vật thủy sinh
khác đẻ vào đấy. Trứng cá chép dính vào các cây cỏ, sinh vật đó rồi phát triển
thành cá bột. Cá chép thường đẻ vào sáng sớm, lúc mặt trời chưa mọc, có khi
kéo dài tới 8 – 9 giờ sáng hoặc đến trưa.
Điều kiện thích nghi cho cá chép đẻ trứng: Nhiệt độ nước từ 20 – 23
0
C,
có giá thể, có nước mới, có mặt của cá đực, thời tiết bắt đầu ấm đồng thời có
mưa, sấm đầu mùa, lúc này cá thường tập trung đi đẻ.
Tuổi thành thục và khả năng sinh sản của cá là một đặc tính dễ bị ảnh
hưởng bởi tác động của môi trường như nhiệt độ, thức ăn, chu kỳ quang Đó
là một quá trình sinh lý phức tạp của cơ thể có mối quan hệ mật thiết với yếu
tố môi trường nước, đặc biệt là nhiệt độ. Tuổi thành thục của cá chép có sự
khác nhau khi chúng sống ở những vùng có nhiệt độ khác nhau. Ví dụ: Ở
vùng nhiệt đới cá chép có thể tham gia sinh sản lần đầu khi được 1 năm tuổi,

Sức sinh sản của cá chép, cá càng lớn sức sinh sản của cá càng cao.
Trong tự nhiên, sức sinh sản của cá chép dao động trong khoảng 100.000 -
150.000 trứng/1kg cá cái, đường kính trứng cá đo được sau khi trương nước
từ 1,1 - 1,2 mm, số lượng trứng của cá phụ thuộc vào khối lượng cá.
Khối lƣợng cơ thể (kg)
Số lƣợng trứng
0,3
30.000 - 60.000
0,5
60.000 - 80.000
1
120.000 - 140.000
2
250.000 - 300.000

11
2.1.2. Vấn đề môi trường nuôi cá chép nội
2.1.2.1. Nhiệt độ
Nhiệt độ là nhân tố ảnh hưởng rất mạnh mẽ đến các hoạt động sống
như: Sinh trưởng, dinh dưỡng, sinh sản và di cư của thủy sinh vật, đặc biệt là
đối với cá vì cá là sinh vật biến nhiệt (Trương Quốc Phú, 2006) [7]. Nhiệt độ
của cá chỉ chênh lệch với nhiệt độ môi trường khoảng 1,5 – 1
0
C (Ngô Ngọc
Cát và cs, 2006) [4].
Đối với cá khi nhiệt độ môi trường tăng cá sẽ tăng cường trao đổi chất,
cường độ hô hấp, tuyến sinh dục chín nhanh, phôi phát triển nhanh và gây ra

cung cấp cho cơ thể được lấy qua da lớn hơn qua mang (Đỗ Thị Thanh
Hương và cs, 2000) [5].
12
Cá chép thuộc nhóm rộng nhiệt, có thể chịu đựng nhiệt độ từ 0 – 40
0
C.
Cá sống được ở bên dưới lớp nước đóng băng vào mùa đông ở Châu Âu và
nhiệt độ cao vào mùa hè ở vùng nhiệt đới.
Tuy nhiên nhiệt độ thích hợp cho cá chép là từ 24 – 28
0
C.
Môi trường có nhiệt độ dưới 12
0
C cá chép chậm lớn, ăn ít và dưới 5
0
C
cá ngừng bắt mồi.
2.1.2.2. Oxy
Oxy là chất khí quan trọng nhất trong số các chất khí hòa tan trong
nước. Nó rất cần đối với đời sống sinh vật đặc biệt là sinh vật thủy sinh vì hệ
số khuếch tán trong nước nhỏ hơn rất nhiều so với ngoài không khí.
Theo Swingle (1969) [9] thì nồng độ oxy hòa tan trong nước lý tưởng
cho tôm cá là trên 5ppm. Tuy nhiên, nếu hàm lượng oxy hòa tan vượt quá
mức độ bão hòa thì cá sẽ bị mắc bệnh bọt khí trong máu, làm tắc nghẽn các
mạch máu dẫn đến não và tim đưa đến sự xuất huyết ở các vây, hậu môn. Do
đó theo dõi sự biến động oxy trong ao là rất cần thiết (Trương Quốc Phú,
2006) [7].

sinh trưởng và sinh sản của cá. Cá sống trong môi trường pH thấp sẽ chậm phát
dục, nếu pH quá thấp sẽ không đẻ hay đẻ rất ít (Trương Quốc Phú, 2006) [7].
Độ pH thích hợp cho cá chép sinh trưởng và thát triển trong khoảng từ
7 – 8, nhưng cá cũng có thể sống được trong điều kiện pH từ 6 – 8,5 (Trương
Quốc Phú, 2006) [7].
2.1.2.4 Độ mặn
Độ mặn được định nghĩa là tổng chất rắn hòa tan (TDS) trong nước. Độ
mặn là yếu tố rất quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến sự phân bố, sinh sản, dinh
dưỡng, tỷ lệ sống và di cư của thủy sinh vật (Trương Quốc Phú, 2006) [7].
4
5
6
7
8
9
10
11
Chết
Sinh trưởng
chậm
Sinh trưởng
tốt
Sinh trưởng
chậm
Chết
14
Mỗi loài thủy sinh vật nói chung, chỉ sống ở nới có nồng độ muối thích

dài tối đa khoảng 1,2 mét và cân nặng tối đa 37,3 kg cũng như tuổi thọ cao
nhất được ghi lại là 47 năm. Những giống sống trong tự nhiên hoang dã có xu
hướng nhỏ và nhẹ hơn khoảng từ 20 - 33% các kích cỡ và khối lượng cực đại.
Mặc dù cá chép có thể sống được trong nhiều điều kiện khác nhau, nhưng
nói chung nó thích môi trường nước rộng với dòng nước chảy chậm cũng như có
nhiều trầm tích thực vật mềm (rong, rêu). Là một loại cá sống thành bầy, chúng
ưa thích tạo nhóm khoảng từ 5 cá thể trở lên. Nguyên thủy, chúng sinh trưởng ở
vùng ôn đới trong môi trường nước ngọt hay nước lợ với pH khoảng 7,0 - 7,5 và
khoảng nhiệt độ lý tưởng là 3 - 24 °C (Boyd, 1990) [16].
Cá chép, cũng giống như các biến thể khác của nó, như cá chép kính
(không vảy, ngoại trừ một hàng vảy lớn chạy dọc theo thân, có nguồn gốc
ở Đức), cá chép da (không vảy, trừ phần gần vây lưng) và cá chép nhiều vẩy,
là những loại cá ăn tạp và chúng ăn gần như mọi thứ khi chúng bơi ngang
qua, bao gồm các loại thực vật thủy sinh, côn trùng, giáp xác (bao gồm
cả động vật phù du) hoặc cá chết.
Tại một số quốc gia, do thói quen sục sạo dưới bùn của chúng để tìm
mồi nên chúng bị coi là nguyên nhân gây ra sự phá hoại thảm thực vật ngầm
cũng như sự phá hủy môi trường sinh thái của nhiều quần thể thủy cầm và cá
bản địa. Tại Úc có các chứng cứ mang tính giai thoại và các chứng cứ khoa
học cho thấy việc đưa cá chép vào đây là nguyên nhân gây ra nước đục vĩnh
cửu và giảm sút thảm thực vật ngầm trong hệ thống sông Murray - Darling,
với hậu quả nghiêm trọng cho hệ sinh thái của sông, chất lượng nước và các
loài cá bản địa. Do điều này, nó được những người đánh cá trong những khu
vực này gọi là 'pig' (lợn) của cá nước ngọt. Tuy nhiên, ở những nơi khác nó
được những người câu cá đánh giá cao do kích thước và chất lượng thịt.
Ngoài ra, loài cá này cũng được dùng rộng khắp trên thế giới như một loại
16

17
Hình thức nuôi chủ yếu hiện nay là nuôi cá kết hợp với cấy lúa trong
các ao đầm. Hình thức này đã tận dụng được diện tích mặt nước, tạo ra việc
làm tăng thu nhập, góp phần ổn định đời sống cho nhân dân lao động ở các
tỉnh phía Bắc và miền Trung.
Nuôi cá ruộng trũng: Tổng diện tích ruộng trũng có thể đưa vào nuôi cá
theo mô hình cá - lúa khoảng 580.000 ha. Năm 1998, diện tích nuôi cá khoảng
154.200 ha. Năng suất và hiệu quả nuôi cá ruộng trũng khá lớn.
Đây là một hướng cho việc chuyển đổi cơ cấu trong nông nghiệp, tăng
thu nhập cho người lao động, xoá đói giảm nghèo ở nông thôn.
- Cá chép ở Việt Nam là loài có nhiều dạng hình khác nhau, tuy nhiên
cá lưu giữ là loài cá chép trắng. Cá chép là đối tượng nuôi quan trọng trong ao
hồ, được nghiên cứu rất nhiều nhằm tạo giống lai kinh tế, tạo ra các dòng cá
có giá trị kinh tế cao.
- Cá chép là loài có giá trị kinh tế, thịt cá thơm ngon nhất là sau mùa cá
được vỗ béo, được nhiều người nuôi và người tiêu dùng ưa thích. Đây là đối
tượng nuôi quan trọng trong ao, hồ, đầm, ruộng, lồng bè. Cá có thể nuôi đơn
hoặc nuôi ghép đều cho năng suất và hiệu quả rất cao. Loài cá này còn được
nuôi để diệt ấu trùng muỗi. Cá còn dùng làm cá cảnh trong công nghệ di
truyền màu sắc.
- Sản lượng cá chép tự nhiên đã và đang giảm sút hết sức nghiêm trọng
do khai thác quá mức. Mặt khác do việc nhập giống, lai tạo, cá ra các vùng
nước tự nhiên và lai tạp làm mất dần nguồn gen quý hiếm, bản địa của đàn cá
chép trắng Việt Nam.
- Do vậy việc lưu giữ dòng thuần cá chép trắng Việt Nam làm nguyên
liệu cho chọn giống, lai tạo các thế hệ con lai kinh tế là hết sức cần thiết và
mang ý nghĩa thực tiễn to lớn.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status