Khảo sát sự hài lòng của sinh viên với hoạt
động đào tạo tại trường Đại học Khoa học Tự
nhiên, Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí
Minh
Nguyê
̃
n Thi
̣
Thắm
Viê
̣
n Đa
̉
m ba
̉
o Chất lươ
̣
ng Gia
́
o du
̣
c
Luận văn ThS Chuyên ngành: Đo lươ
̀
ng va
̀
Đa
́
nh gia
các nhà lãnh đạo.
Trước đây, giáo dục được xem như một hoạt động sự nghiệp đào tạo con người mang
tính phi thương mại, phi lợi nhuận nhưng qua một thời gian dài chịu sử ảnh hưởng của các
yếu tố bên ngoài, đặc biệt là tác động của nền kinh tế thị trường đã khiến cho tính chất của
hoạt động này không còn thuần túy là một phúc lợi công mà dần thay đổi trở thành “dịch vụ
giáo dục”. Theo đó, giáo dục trở thành một loại dịch vụ và khách hàng (sinh viên, phụ huynh)
có thể bỏ tiền ra để đầu tư và sử dụng một dịch vụ mà họ cho là tốt nhất.
Song song với việc chuyển từ hoạt động phúc lợi công sang dịch vụ công và tư, một thị
trường giáo dục dần dần hình thành và phát triển trong đó hoạt động trao đổi diễn ra khắp nơi,
tăng mạnh cả về số lượng lẫn hình thức. Các cơ sở giáo dục thi nhau ra đời để đáp ứng được
nhu cầu của khách hàng với nhiều mô hình đào tạo khác nhau: từ chính quy, tại chức, chuyên
tu, hoàn chỉnh đến liên thông, đào tạo từ xa… Từ đó nảy sinh các vấn đề như chất lượng đào
tạo kém, sinh viên ra trường không đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực, sự xuống cấp đạo đức
học đường, chương trình và nội dung giảng dạy nặng nề và không phù hợp với thực tế đã
xuất hiện ngày càng nhiều hơn trên mặt báo, trên các chương trình thời sự cũng như trên các
phương tiện thông tin đại chúng khác. Điều này dẫn đến sự hoang mang đối với công chúng,
đặc biệt là khi họ lựa chọn trường cho con em mình theo học.
Nhằm giải quyết các mối lo ngại đó, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã thể hiện nỗ lực của
mình trong việc quản lý chất lượng giáo dục thông qua việc đưa Kiểm định chất lượng giáo
dục vào Luật Giáo dục sửa đổi năm 2005. Mục đích của việc kiểm định này là giúp cho các
nhà quản lý, các trường đại học xem xét toàn bộ hoạt động của nhà trường một cách có hệ
thống để từ đó điều chỉnh các hoạt động của nhà trường theo một chuẩn nhất định; giúp cho
các trường đại học định hướng và xác định chuẩn chất lượng nhất định và nó tạo ra một cơ
chế đảm bảo chất lượng vừa linh hoạt, vừa chặt chẽ đó là tự đánh giá và đánh giá ngoài [8]
Trong những năm gần đây, đảm bảo chất lượng mà hoạt động chính là đánh giá chất
lượng đã trở thành một phong trào rộng khắp trên toàn thế giới, trong đó có Khu vực Đông
Nam Á nói chung và Việt Nam nói riêng. Tùy theo từng mô hình giáo dục đại học mà từng
nước có thể áp dụng phương thức đánh giá và quản lý chất lượng khác nhau, tuy nhiên có hai
cách tiếp cận đánh giá chất lượng thường được sử dụng trên thế giới đó là đánh giá đồng
nghiệp và đánh giá sản phẩm [17]. Trong đó, đánh giá đồng nghiệp chú trọng đánh giá đầu
3. Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu này tiến hành khảo sát sự hài lòng của sinh viên đối với hoạt động đào tạo
tại trường ĐH Khoa học Tự nhiên, ĐH Quốc gia TPHCM.
4. Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu
Câu hỏi nghiên cứu:
Sinh viên hài lòng về hoạt động đào tạo của trường ĐH KHTN, ĐHQG TPHCM ở
mức độ nào?
Các yếu tố ngành học, năm học, học lực, giới tính và hộ khẩu thường trú có ảnh
hưởng như thế nào đến sự hài lòng của sinh viên?
Giả thuyết nghiên cứu:
Giả thuyết H
01
: giới tính không có ảnh hưởng đến sự hài lòng đối với hoạt động đào
tạo tại trường ĐH KHTN
Giả thuyết H
02
: không có sự khác nhau giữa các ngành học về sự hài lòng của sinh
viên đối với hoạt động đào tạo tại trường ĐH KHTN
Giả thuyết H
03
: Không có sự khác nhau về sự hài lòng đối với hoạt động đào tạo tại
trường ĐH KHTN theo năm học của sinh viên
Giả thuyết H
04
: Kết quả học tập của sinh viên không ảnh hưởng đến sự hài lòng đối
với hoạt động đào tạo tại trường ĐH KHTN
Giả thuyết H
05
: Hộ khẩu thường trú của sinh viên trước khi nhập trường không liên
quan đến sự hài lòng của sinh viên đối với hoạt động đào tạo tại trường ĐH KHTN
trú
Các tư liệu:
Các tài liệu về trường ĐH KHTN, ĐHGQ TPHCM
Dữ liệu về sinh viên, kết quả học tập của sinh viên.
Bảng hỏi.
Phần mềm thống kê SPSS version 16.
7. Quy trình chọn mẫu nghiên cứu
Chọn mẫu để khảo sát bằng bảng hỏi:
Trường ĐH KHTN hiện tại có 12 ngành, tuy nhiên tác giả chỉ chọn ra 5 ngành đại diện
gồm 3 ngành có đầu vào là khối A (Toán – Tin, Công nghệ Thông tin, Vật lý) và 2 ngành có
đầu vào là khối B (Khoa học Môi trường, Công nghệ Sinh học). Mẫu được chọn theo phương
pháp ngẫu nhiên, phân tầng và theo cụm.
Mỗi ngành trên chọn ra 160 sinh viên rải đều từ năm thứ nhất đến năm thứ tư (tương
đương khóa 2006, 2007, 2008 và 2009). Trong đó mỗi khóa chọn 40 sinh viên (gồm 20 sinh
viên nam và 20 sinh viên nữ). Tổng cộng, sẽ có tất cả 800 sinh viên của 5 ngành trên tham dự
điều tra khảo sát.
Chọn mẫu để phỏng vấn sâu
Mỗi khóa học chọn ngẫu nhiên 3 sinh viên của 3 ngành bất kỳ trong 5 được khảo sát, do
đó sẽ có tất cả 12 sinh viên tham gia phỏng vấn sâu. Các sinh viên này có sự khác nhau về
giới tính, hộ khẩu thường trú trước khi nhập trường và khác nhau về kết quả học tập.
Reference
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Tài liệu tiếng Việt
1. Vũ Thị Phương Anh (2008), Đảm bảo chất lượng giáo dục đại học tại Việt Nam với yêu
cầu hội nhập, Trung tâm Khảo thí và Đảm bảo Chất lượng Đào tạo, ĐHQG TP.HCM.
2. Vũ Thị Phương Anh (2010), “Mô hình và các tiêu chí đánh giá hệ thống ĐBCL bên
trong (IQA) của AUN-QA”, Kỷ yếu Hội thảo Xây dựng và đánh giá hệ thống đảm bảo
chất lượng bên trong trường đại học nhằm hình thành văn hóa chất lượng của nhà
trường, trang 102.
14. Nguyễn Thành Long (2006), Sử dụng thang đo SERVPERF để đánh giá chất lượng đào
tạo ĐH tại trường ĐHAG, Báo cáo nghiên cứu khoa học, trường ĐH An Giang.
15. Phạm Thị Ly (2010), “Đánh giá xếp hạng các trường đại học: Kinh nghiệm từ thực tiễn
của phương Tây, Trung Quốc và những xu hướng mới trên thế giới”, Kỷ yếu hội thảo
khoa học Đánh giá Xếp hạng các trường đại học và cao đẳng Việt Nam, trang 9-20.
16. Vũ Thị Quỳnh Nga (2008), Một số yếu tố ảnh hưởng đến việc đánh giá của sinh viên đối
với hoạt động giảng dạy, Luận văn Thạc sĩ Quản lý giáo dục, Viện Đảm bảo Chất lượng
Giáo dục, ĐHQG Hà Nội.
17. Phạm Xuân Thanh (2005), “Hai cách tiếp cận trong đánh giá”, Giáo dục đại học – Chất
lượng và đánh giá, trang 337-356.
18. Nguyễn Ngọc Thảo (2008), Sự hài lòng về chất lượng đào tạo của sinh viên khoa Quản
trị Bệnh viện, trường Đại học Hùng Vương, Báo cáo nghiên cứu khoa học, trường ĐH
Hùng Vương.
19. Nguyen Xuan Thao (2009), “Một quan điểm của Hoa Kỳ về vấn đề giáo dục đại học
như một dịch vụ trong giáo dục xuyên biên giới” – Phạm Thị Ly dịch, Kỷ yếu Hội thảo
khoa học Quốc tế Giáo dục so sánh lần 3: Hợp tác quốc tế trong giáo dục và đào tạo
đại học ở Việt Nam: Cơ hội và thách thức.
20. Nguyễn Thị Trang (2010), Xây dựng mô hình đánh giá mức độ hài lòng của sinh viên
với chất lượng đào tạo tại trường ĐH Kinh tế, ĐH Đà Nẵng.
21. Phạm Đỗ Nhật Tiến (2007), Phát triển giáo dục đại học Việt Nam trong bối cảnh mới,
Tạp chí Cộng sản số 773.
22. Vũ Trí Toàn (2007), Nghiên cứu về chất lượng đào tạo của khoa Kinh tế và Quản lý
theo mô hình chất lượng dịch vụ SERVQUAL, Báo cáo nghiên cứu khoa học, trường ĐH
Bách Khoa Hà Nội.
23. Hoàng Trọng & Chu Nguyễn Mộng Ngọc (2005), Phân tích dữ liệu nghiên cứu với
SPSS, Nxb Thống Kê.
Tài liệu tiếng nước ngoài
24. Ali Kara, Pennsylvania State University-York Campus & Oscar W. DeShields, Jr.,
California State University, Northridge (2004), Business Student Satisfaction, Intentions