Nâng cao chất lượng hoạt động đào tạo, bồi
dưỡng đội ngũ công chức Quận Hà Đông Lê Xuân Hoàn Trường Đại học Kinh tế
Luận văn ThS. ngành: Kinh tế chính trị; Mã số: 60 31 01
Người hướng dẫn: TS. Trần Đức Hiệp
Năm bảo vệ: 2012 Abstract. Làm rõ một số vấn đề lý luận và thực tiễn trong đào tạo, bồi dưỡng công
chức trong nền kinh tế thị trường. Đánh giá một cách chính xác, thực trạng đào tạo,
bồi dưỡng công chức, viên chức trong quận Hà Đông trong 10 năm qua. Đưa ra các
mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp cơ bản để nâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo
và bồi dưỡng công chức trong Quận Hà Đông từ nay đến năm 2020.
Keywords. Chất lượng đào tạo; Công chức; Kinh tế lao động; Hà Đông Content
Phần mở đầu
1.Tính cấp thiết của đề tài:
Hiện nay, cùng với xu hướng hội nhập khu vực và quốc tế, nước ta đang từng bước
đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển nền kinh tế thị trường theo định
hướng xã hội chủ nghĩa, phấn đấu đến năm 2020, Việt Nam cơ bản trở thành nước công
nghiệp phát triển. Trước xu thế phát triển mạnh mẽ của thời đại và để thực hiện được mục
tiêu, nhiệm vụ trên, nước ta phải có một nguồn nhân lực dồi dào, đảm bảo về chất lượng, đáp
ứng được nhu cầu phát triển của xã hội, nhất là đối với đội ngũ công chức nhà nước bởi đây
Nguồn lực con người trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam của
Tiến sĩ Đoàn Văn Khái, Nxb Lý luận Chính trị, Hà nội, 2005.
Phát triển nguồn nhân lực - kinh nghiệm thế giới và thực tiễn nước ta của Tiến sĩ Trần
Văn Tùng và Lê Ái Lâm, Hà nội, 1998.
- Nhóm đề tài về nội dung, phương pháp, cách thức xây dựng đội ngũ công chức:
Trần Huy Sáng “Xây dựng đội ngũ công chức quản lý nhà nước về kinh tế ngoại
thành (qua thực tế các huyện ngoại thành Hà Nội)", Luận án tiến sĩ kinh tế, Học viện Chính
trị quốc gia Hồ Chí Minh, 1999.
Cầm Bá Tiến “Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức quản lý nhà nước về kinh tế trong
thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Thanh Hoá”, Luận văn thạc sĩ, Học viện Chính trị
quốc gia Hồ Chí Minh, 2000.
Qua các công trình nghiên cứu trên cho thấy vấn đề nâng cao chất lượng đào tạo, bồi
dưỡng đội ngũ công chức của quận Hà Đông trong giai đoạn hiện nay vẫn chưa được nhiều
người quan tâm nghiên cứu. Vì vậy, đề tài “Nâng cao chất lượng hoạt động đào tạo, bồi
dưỡng đội ngũ công chức quận Hà Đông” có ý nghĩa và thực sự cấp thiết trong giai đoạn hiện
nay đối với quận Hà Đông.
3. Mục đích và nhiệm vụ:
3.1. Mục đích :
Trên cơ sở đánh giá thực trạng công tác đào tạo, bồi dưỡng công chức quận Hà Đông
trong thời gian gần đây, đề tài hướng tới việc đưa ra những giải pháp cơ bản nhằm nâng cao
chất lượng hiệu quả đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ công chức quận Hà Đông nói riêng và thành
phố Hà Nội nói chung trong thời gian tới.
3.2. Nhiệm vụ :
Một là, làm rõ một số vấn đề lý luận và thực tiễn về đào tạo, bồi dưỡng công chức
trong nền kinh tế thị trường ở nước ta.
Hai là, đánh giá đúng thực trạng đào tạo, bồi dưỡng công chức ở quận Hà Đông trong
10 năm qua.
Ba là, đề xuất mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp cơ bản nâng cao chất lượng, hiệu quả đào
tạo, bồi dưỡng công chức tại quận Hà Đông từ nay đến năm 2020.
4. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu:
công chức quận Hà Đông đến năm 2020. Chƣơng 1
MỘT SỐ CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HOẠT ĐỘNG ĐÀO TẠO BỒI
DƢỠNG ĐỘI NGŨ CÔNG CHỨC
1.1. Khái quát về hoạt động đào tạo phát triển nguồn nhân lực
1.1.1. Quan niệm và nội dung quá trình phát triển nguồn nhân lực
1.1.1.1. Các quan niệm về nguồn nhân lực.
Theo Liên Hợp quốc, Nguồn nhân lực là trình độ lành nghề, kiến thức năng lực, toàn
bộ cuộc sống của con người hiện có, thực tế hoặc tiềm năng để phát triển kinh tế xã hội trong
một cộng đồng .
Theo Từ điển thuật ngữ của Pháp, nguồn nhân lực xã hội bao gồm những người trong
độ tuổi lao động, có khả năng lao động và mong muốn có việc làm. Như vậy theo quan điểm
này thì những người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động nhưng không muốn có việc
làm thì không được xếp vào nguồn nhân lực xã hội.
Đại từ điển kinh tế thị trường, nguồn nhân lực là nhân khẩu có năng lực lao động tất
yếu, thích ứng được với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội. Nhân lực là chỉ tổng nhân khẩu xã
hội, là nguồn tài nguyên. [8, 1064].
Từ những quan điểm trên có thể thấy rằng NNL được đề cập như một nguồn vốn
tổng hợp với hệ thống các yếu tố hợp thành: Sức lực và trí tuệ, số lượng cùng với các đặc
trưng về chất lượng lao động như trình độ học vấn, trình độ chuyên môn kỹ thuật, kinh
nghiệm nghề nghiệp, thái độ và phong cách làm việc…, ở đây nhân tố con người được
xem xét với tư cách là một trong những yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất, là một
nguồn lực chủ yếu để phát triển kinh tế xã hội. Con người - NNL là vốn của mọi nguồn
vốn khác.
Chất lượng NNL là tình trạng sức khoẻ, văn hoá, đạo đức tư tưởng, kỹ năng lao
động của người có năng lực lao động. Một số chỉ tiêu thường dùng để đánh giá chất lượng
NNL như: sức khoẻ, thống kê bệnh tật, tỷ lệ bệnh tật; trình độ học vấn; trình độ chuyên
hội.
Về mặt xã hội, đào tạo và phát triển nguồn nhân lực là vấn đề sống còn của một đất
nước, quyết định sự phát triển của xã hội và là một trong những giải pháp để chống lại thất
nghiệp.
Nguồn lực con người không chỉ có ý nghĩa đối với tăng trưởng kinh tế mà còn đóng
vai trò quyết định đối với phát triển kinh tế.
1.1.3.2. Vai trò của đào tạo nguồn nhân lực đối với các doanh nghiệp
- Về phía doanh nghiệp đào tạo và phát triển nguồn nhân lực là để đáp ứng được yêu
cầu công việc của tổ chức.
- Đào tạo giúp thu hút nguồn nhân lực tiềm năng.
- Đào tạo giúp bù đắp sự thiếu hụt về nhân lực.
- Đào tạo giúp nâng cấp nguồn nhân lực hiện có
1.2. Những vấn đề chung về công chức
1.2.1. Khái niệm và tiêu chuẩn để xác định công chức
1.2.1.1. Khái niệm công chức
Công chức là một thuật ngữ được dùng từ rất sớm trong quản lý nhà nước ở nước ta.
Trong Sắc lệnh số 76/SL ngày 20/5/1950 do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký ban hành về qui chế
công chức đã qui định rõ “nghĩa vụ, quyền lợi của công chức cùng các thể lệ về tổ chức, quản
trị và sử dụng các ngạch công chức trong toàn quốc”.
Ngày 13/11/2008, tại kỳ họp thứ 4 Quốc hội khoá XII, đã thông qua Luật cán bộ,
công chức. Đây là một văn bản có giá trị pháp lý cao nhất từ trước đến nay (luật) và cắt nghĩa
được rõ ràng hơn về các khái niệm cán bộ, công chức. Tại Điều 4 của Luật quy định:
“Khoản 1: Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức
vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức
chính trị - xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là
cấp tỉnh), ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện), trong
biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước.
Khoản 2: Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch,
chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị
- xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân
1.2.4.3. Yêu cầu về phẩm chất đạo đức.
1.3. Hoạt động đào tạo bồi dƣỡng đội ngũ công chức
1.3.1. Quan niệm về đào tạo, bồi dưỡng công chức
Đào tạo, bồi dưỡng công chức là quá trình truyền thụ kiến thức, kỹ năng về chuyên
môn, nghiệp vụ dưới các hình thức khác nhau cho công chức phù hợp với yêu cầu giải quyết
có chất lượng công việc được Nhà nước giao, do các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng công chức thực
hiện.
1.3.2. Vai trò của công tác đào tạo, bồi dưỡng CB, CC
ĐTBD CB, CC nhà nước giữ vai trò trực tiếp trong việc nâng cao chất lượng, hiệu lực và
hiệu quả của nền hành chính nhà nước.
1.3.3. Đối tượng đào tạo, bồi dưỡng CB, CC
- Cán bộ, viên chức, hợp đồng lao động không xác định thời hạn trong đợn vị sự
nghiệp công lập;
- Đại biểu HĐND các cấp; CB, CC xã, phường, thị trấn; Cán bộ không chuyên trách
cấp xã;
- Cán bộ thôn, làng, ấp, bản, buôn, sóc ở xã và tổ chức dân phố ở phường, thị trấn;
- Luật sư, cán bộ quản lý doanh nghiệp và hiệp hội ngành hàng.
1.3.4. Mục tiêu và nguyên tắc đào tạo, bồi dưỡng công chức
1.3.4.1. Mục tiêu đào tạo, bồi dưỡng
1.3.4.2. Nguyên tắc đào tạo, bồi dưỡng
1.3.5. Nội dung và hình thức đào tạo, bồi dưỡng
1.3.5.1. Nội dung đào tạo
- ĐTBD về hành chính nhà nước - ĐT,BD về quản lý nhà nước cho một nền kinh tế
chuyển đổi .
- ĐTBD cho mục tiêu phát triển.
- ĐTBD cho mục tiêu hiện đại hóa nền hành chính.
- ĐTBD cho mục tiêu quản lý nguồn nhân lực.
1.3.5.2. Hình thức đào tạo
- Chính quy
- Dài hạn
CÔNG CHỨC Ở QUẬN HÀ ĐÔNG
2.1. Khái quát về đội ngũ cán bộ công chức và chính sách đào tạo bồi dƣỡng cán
bộ công chức quận Hà Đông từ năm 2006 đến nay.
2.1.1 Giới thiệu chung về quận Hà Đông
Hà Đông cách trung tâm thành phố Hà Nội 11 km có vị trí như là cửa ngõ phía tây
của Thủ Đô, địa giới chạy dọc theo Quốc lộ 6, có diện tích tự nhiên là 47,91 km2, dân số là
198.687 người, gồm 17 phường. Ngày 1 tháng 8 năm 2008 cùng với toàn bộ tỉnh Hà Tây,
thành phố Hà Đông được nhập về thủ đô Hà Nội .Ngày 8 / 5 /2009 Chính Phủ Việt Nam ra
Nghị quyết thành lập quận Hà Đông thuộc thủ đô Hà Nội.
2.1.2 Khái quát về đội ngũ công chức quận Hà Đông
2.1.2.1. Số lượng đội ngũ CB, CC của UBND quận Hà Đông
*Khối Hành chính gồm có 132 CB, CC; những người hoạt động QLNN là 73 CB,
CC:
*CB, CC khối sự nhiệp gồm có 118 CB, CC; trong đó số người làm công tác QLNN
là 15 CB, CC:
2.1.2.2. Chất lượng đội ngũ CB, CC UBND quận Hà Đông
* Về trình độ chuyên môn của CB, CC
CB, CC có trình độ Đại hoc chiếm 77,3% số CB, CC trong khối.
* Về trình độ lý luận chính trị của CB, CC
Trình độ lý luận chính trị của đội ngũ CB, CC ở mức khá nhưng vẫn còn gần 60% số
CB, CC chưa được ĐT,BD về lý luận chính trị. Đây là vấn đề lớn cần được quan tâm, đòi hỏi
công tác ĐT,BD cán bộ của UBND quận cần phải tiếp tục đẩy mạnh hơn nữa.
* Về trình độ tin học của CB, CC
Trình độ tin học chiếm tỷ lệ chưa cao trong đó khối Hành chính có 1 người ở trình độ
Đại học, 3 người trình độ C. Số CB, CC có trình độ từ chứng chỉ A trở lên chiếm hơn 65%
còn khối Sự nghiệp số CB, CC có từ chứng chỉ A trở lên là hơn 53%.
*Về trình độ ngoại ngữ
Trình độ ngoai ngữ của CB, CC và số người có chứng chỉ trở lên là ở mức trung bình
khá, khối Hành chính chiếm hơn 73%, nhưng trong đó số người có trình độ Đại học chỉ có
2.3.1 Thành tựu và nguyên nhân
* Những mặt đạt được
Đối với công chức Hành chinh: Tỷ lệ đạt tiêu chuẩn về lý luận chính trị đat 100%,
QLNN đạt 94,5%, chuyên môn đạt 98,5% (tăng tiêu chuẩn về chuyên môn và QLNN của
ngạch chuyên viên và chuyên viên chính), tỷ lệ trình độ chuyên môn còn thấp nhưng tăng
hơn năm 2005 khoảng 30%
Tăng tỷ lệ cán bộ có trình độ thạch sỹ và đang học thạc sỹ tăng cao: hiện quận có 1
Tiến sỹ, khoảng 30 Thạc sỹ hoặc đang đi đào tạo để lấy bằng
Thạc sỹ chủ yếu các chuyên ngành về quản lý đô thị, quản lý Hành chính công, luật.
Cán bộ chuyên trách và công chức đạt tiêu chuẩn quy định chung khoảng 75%, tỷ lệ tuy
chưa cao nhưng so với năm 2005 tăng khoảng 35%.
* Nguyên nhân những kết quả đạt được
Được sự quan tâm chỉ đạo sâu sát của Quận ủy, UBND quận trong việc xây dựng,
triển khai, thực hiện kế hoạch ĐTBD CB, CC và đầu tư kinh phí thỏa đáng cho công tác
ĐTBD CB, CC.
CB, CC có ý thức tự giác. CB, CC trong cơ quan đã thực hiện học tập theo đúng yêu
cầu ngạch bậc, của chức danh, trực tiếp phục vụ cho việc thực hiện nhiệm vụ và công vụ
được giao, đồng thời có ý thức học tập, tự nghiên cứu về cả chuyên môn, nghiệp vụ và lý
luận chính trị.
Làm tốt công tác tuyển dụng và đánh giá CB, CC.
2.3.2 Một số vấn đề đặt ra và nguyên nhân
* Một số vấn đề đặt ra
Nhận thức của các cơ quan sử dụng cán bộ, công chức trong Quận và bản thân đội
ngũ cán bộ, công chức về vai trò của việc nâng cao chất lượng đào tạo và bồi dưỡng đã có
nhiều chuyển biến tích cực nhưng vẫn chưa có sự thống nhất.
Chế độ đãi ngộ đối với các cán bộ, công chức trong quá trình đào tạo và sau khi được
đào tạo và bồi dưỡng đã được cải thiện nhiều nhưng vẫn chưa thoả đáng để khuyến khích đội
ngũ cán bộ, công chức không ngừng học tập, nâng cao trình độ.
Nội dung, chương trình và phương thức đào tạo đã có nhiều cải tiến. Các cơ sở đào
tạo và bồi dưỡng cán bộ, công chức cũng đã tiến hành đổi mới cơ cấu kiến thức và nội dung
- Có 8% CB, CC Quận có trình độ đào tạo sau đại học.
- Đối với CB, CC cấp xã, phường: 100% CB, CC cấp xã, phường có trình độ trung
cấp lý luận chính trị. 90% CB, CC cấp xã, phường có trình độ đại học chuyên môn.
- Hoạt động đào tạo, bồi dưỡng trước khi bổ nhiệm và việc thực hiện chế độ bồi
dưỡng bắt buộc tối thiểu hằng năm theo vị trí việc làm trở thành nề nếp và là một chuẩn mực
của hoạt động đào tạo, bồi dưỡng.
- Có được hệ thống tổ chức đào tạo, bồi dưỡng hoàn chỉnh, năng động, hiệu quả.
3.2. Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lƣợng đào tạo, bồi dƣỡng đội ngũ công
chức quận Hà đông
3.2.1. Nâng cao nhận thức về đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ công chức
- Quán triệt và nâng cao nhận thức về trách nhiệm, đề cao tinh thần học tập và tự học
tập suốt đời của cán bộ, công chức.
- Tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức là giải pháp cụ thể, khả thi
và quan trọng hàng đầu trong việc xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức.
- Thống nhất trong nhận thức, trong chỉ đạo, tham mưu và tổ chức thực hiện hoạt động
đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức.
3.2.2. Đổi mới nội dung chương trình, phương pháp đào tạo, bồi dưỡng phù hợp đối
tượng người học
Thứ nhất, đổi mới nội dung chương trình giáo dục lý luận chính trị
Thứ hai, đối với phương pháp giảng dạy lý luận chính trị
Thứ ba, đối với phương pháp giảng dạy kỹ năng, nghiệp vụ công tác
Thứ tư, kiện toàn bộ máy tổ chức quản lý và tăng cường cơ sở vật chất phục vụ cho việc
dạy và học ở các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng
3.2.3. Đổi mới đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức đồng bộ với việc đổi mới công
tác tổ chức cán bộ
Một là, cần xác định biên chế cán bộ, công chức trong từng giai đoạn: năm 2010 đến
năm 2015 và 2020.
Hai là, quy hoạch cán bộ lãnh đạo, quản lý dự nguồn, cần căn cứ tiêu chuẩn và từng chức
năng, nhiệm vụ của tổ chức.
Ba là, phải chọn cử đúng cán bộ, công chức thuộc diện quy hoạch đi đào tạo đây là tiền
nhận thức về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, tăng cường công tác quy hoạch, bố trí, sử
dụng CBCC, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng đúng hướng. Kiện toàn tổ chức bộ máy, tăng
cường cơ sở vật chất và nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên.
References
1. Ban Tổ chức Trung ương, Phân viện Hà Nội (1998), Lý luận và nghiệp vụ công tác tổ chức
cán bộ, Tập 1,2,3, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
2. Ban Chấp hành TW (1999), Quy định số 54/QĐ-TW ngày 12/5/1999 về chế độ học tập
lý luận chính trị trong Đảng.
3. Ban Thường vụ Thành uỷ Hà Nội (2005), Nghị quyết số 20/NQ-TU ngày 8 tháng 5 năm
2005 về đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ,
công chức giai đoạn 2005-2010.
4. Ban Tổ chức Cán bộ Chính phủ (2011), Hướng dẫn số 10/BTCCBCP-CĐT ngày 8/5/2001
về tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng kiến thức quản lý nhà nước cho cán bộ, công
chức và cán bộ chính quyền cơ sở.
5. Bộ Tài chính (2001), Thông tư số 105/2001/TT-BTC ngày 27/12/2001 hướng dẫn
quản lý và sử dụng kinh phí đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức nhà nước.
6. Bộ trưởng Bộ Nội vụ (2003), Quyết định số 28/2003/QĐ-BNV ngày 11/6/2003 về việc
ban hành Kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng nguồn giảng viên quản lý nhà nước giai đoạn
2003 - 2005.
7. Bộ trưởng Bộ Nội vụ (2004), Quyết định số 51/2004/QĐ-BNV ngày 22/7/2004 về
việc ban hành Kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng giảng viên lý luận chính trị giai đoạn
2005 - 2010.
8. Đại từ điển kinh tế thị trường (1998), Viện nghiên cứu và phổ biến tri thức bách khoa,
Hà Nội.
9. Đảng Cộng sản Việt Nam (1986), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb
ST, Hà Nội.
10. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nxb
30. Hồ Chí Minh (1995), Toàn tập, tập 2, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
31. Hồ Chí Minh (1995), Toàn tập, tập 5, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
32. Hồ Chí Minh (1995), Toàn tập, tập 12, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
33. Hà Quang Ngọc (2000), Góp phần xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ, công chức
nhà nước hiện nay, NXB chính trị Quốc Gia, Hà Nội.
34. Những nguyên tắc về tổ chức và hoạt động của các cơ quan Nhà nước (1995), Nxb
Chính trị quốc gia, Hà Nội.
35. Vũ Minh Tâm (1996), Tư tưởng triết học về con người, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
36. Thành uỷ Hà Nội (1994), Nghị quyết 01/NQ-TU năm 1994 về công tác đào tạo, bồi
dưỡng cán bộ.
37. Thành uỷ Hà Nội (2005), Chỉ thị số 35/CT-TU, ngày 04/8/2005 về việc xây dựng, nâng
cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục Thủ đô.
38. Thành uỷ Hà Nội (2005), Báo cáo tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết 01/TU về
công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức.
39. Hồ Văn Thông (chủ biên) (2000), Kinh nghiệm khai thác các nguồn lực trong công
nghiệp hoá, hiện đại hoá, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
40. Thủ tướng Chính phủ (1994), Chỉ thị số 422/TTg ngày 15/8/1994 về việc tăng cường
bồi dưỡng ngoại ngữ cho cán bộ quản lý và công chức nhà nước.
41. Thủ tướng Chính phủ (1996), Quyết định số 874/TTg ngày 20/11/1996 về công tác đào
tạo, bồi dưỡng cán bộ và công chức nhà nước.
42. Thủ tướng chính phủ (1997), Chỉ thị số 206/TTg ngày 5/4/1997 về việc cử Chủ tịch
UBND, Chủ tịch HĐND các tỉnh, thành phố trực thuộc TW, Thứ trưởng các Bộ và
các cấp tương đương tham gia các khoá bồi dưỡng kiến thức quản lý hành chính nhà
nước tại Học viện Hành chính Quốc gia.
43. Thủ tướng Chính phủ (1997), Thông tư liên tịch Số 79/TTLT ngày 19/9/1997 Hướng
dẫn thực hiện Quyết định 874/TTg ngày 20/11/1996 về công tác đào tạo, bồi dưỡng
cán bộ và công chức nhà nước.
44. Thủ tướng Chính phủ (2001), Quyết định số 74/2001/QĐ-TTg ngày 7/5/2001 về việc
phê duyệt Kế hoạch và đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức giai đoạn 2001 - 2005.
45. Thủ tướng Chính phủ (2003), Quyết định số 137/2003/QĐ-TTg ngày 11/7/2003 phê