Số hóa bởi Trung tâm Học liệu ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM
TẠ THỊ KHÁNH LY NHU CẦU KĨ NĂNG SỐNG CỦA CÁC NHÓM ĐỐI TƢỢNG
ĐẶC THÙ VÀ DANH MỤC KĨ NĂNG SỐNG CẦN TRANG BỊ
CHO HỌC SINH THPT TỈNH THÁI NGUYÊN LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. TRẦN ANH TUẤN THÁI NGUYÊN - 2014
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng cá nhân tôi. Các số
liệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa được ai công bố
trong bất kỳ công trình nào khác. Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm.
Thái Nguyên, tháng 8 năm 2014
Tác giả luận văn
Tạ Thị Khánh Ly
iii
MỤC LỤC
Trang
Trang bìa phụ
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục các từ viết tắt iv
Danh mục bảng biểu v
MỞ ĐẦU 1
1. Lí do chọn đề tài 1
2. Mục đích nghiên cứu 2
3. Đối tượng và khách thể nghiên cứu 2
5. Nhiệm vụ nghiên cứu 3
6. Phạm vi nghiên cứu 3
7. Phương pháp nghiên cứu 3
8. Cấu trúc của luận văn 4
Chƣơng 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ GIÁO DỤC KĨ NĂNG SỐNG 5
1.1. Vài nét về lịch sử nghiên cứu vấn đề 5
1.1.1. Ở nước ngoài 5
1.1.2. Ở Việt Nam 6
1.2. Những khái niệm công cụ 7
1.2.1. Kĩ năng sống 7
1.2.2. Giáo dục kĩ năng sống 11
1.2.3. Nhu cầu và nhu cầu kĩ năng sống 13
1.2.4. Mức độ hình thành kĩ năng sống 15
1.2.5. Nhóm đối tượng đặc thù và vấn đề phân định các nhóm đối tượng đặc
thù trong giáo dục kĩ năng sống 16
1.2.6. Phân loại kĩ năng sống và danh mục kĩ năng sống 17
1.3. Một số vấn đề lí luận về giáo dục kĩ năng sống cho học sinh THPT
2.2.3. Thực trạng mức độ hình thành kĩ năng sống của học sinh THPT tỉnh
Thái Nguyên theo các nhóm đối tượng đặc thù 48
2.2.4. Các yếu tố ảnh hưởng đến việc hình thành kĩ năng sống của học sinh
THPT tỉnh Thái Nguyên 54
2.2.5. Thực trạng nhu cầu kĩ năng sống của học sinh THPT tỉnh Thái Nguyên
theo các nhóm đối tượng đặc thù 58
2.3. Đánh giá chung (theo nhóm đối tượng đặc thù) 73 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
v
Kết luận chƣơng 2 75
Chƣơng 3: DANH MỤC KĨ NĂNG SỐNG THIẾT YẾU CẦN TRANG
BỊ CHO HỌC SINH THPT TỈNH THÁI NGUYÊN THEO CÁC
NHÓM ĐỐI TƢỢNG ĐẶC THÙ 76
3.1. Nguyên tắc xây dựng danh mục kĩ năng sống 76
3.1.1. Nguyên tắc đảm bảo tính hệ thống 76
3.1.2. Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn 76
3.1.3. Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi 77
3.2. Danh mục kĩ năng sống thiết yếu cần trang bị cho học sinh THPT
tỉnh Thái Nguyên 77
3.2.1. Danh mục kĩ năng sống thiết yếu cần trang bị cho học sinh THPT khu
vực thành phố - đô thị 77
3.2.2. Danh mục kĩ năng sống thiết yếu cần trang bị cho học sinh THPT khu
vực nông thôn 78
3.2.3. Danh mục kĩ năng sống thiết yếu cần trang bị cho học sinh THPT khu
vực miền núi và dân tộc ít người 79
3.3. Khảo nghiệm đánh giá tính khả thi của Danh mục kĩ năng sống thiết
yếu cần trang bị cho học sinh THPT theo các nhóm đặc thù 80
TĐ : Tổng điểm
ĐTB : Điểm trung bình
TB : Trung bình
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
v
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Trang
Bảng 2.1: Các HĐ giáo dục KNS trong trường THPT hiện nay 38
Bảng 2.2: Mức độ đáp ứng giáo dục KNS đối với HS THPT hiện nay 39
Bảng 2.3: Mức độ hiệu quả của hoạt động GDKNS trong các trường THPT 40
Bảng 2.4: Các HĐ giáo dục KNS trong trường THPT hiện nay 41
Bảng 2.5: Nhận thức của học sinh THPT tỉnh Thái Nguyên về khái niệm KNS 43
Bảng 2.6: Nhận thức của học sinh các trường THPT tỉnh Thái nguyên về vai trò
của kĩ năng sống 44
Bảng 2.7A: Mức độ quan trọng của giá trị sống theo quan niệm của học sinh
THPT tỉnh Thái Nguyên 45
Bảng 2.7B: 05 giá trị sống quan trọng nhất theo quan niệm của học sinh THPT 46
Bảng 2.8A: Giáo viên đánh giá mức độ hình thành các KNS của học sinh THPT
tỉnh Thái Nguyên 48
Bảng 2.8B: Xếp bậc về mức độ hình thành các KNS 49
Bảng 2.8C: Thứ bậc mức độ hình thành các KNS 50
Bảng 2.9: Các yếu tố ảnh hưởng đến hình thành KNS của học sinh THPT tỉnh
Thái Nguyên 55
Bảng 2.10A: Mức độ nhu cầu về giáo dục KNS của học sinh THPT tỉnh
Thái Nguyên 59
Bảng 2.10B: Tổng điểm mức độ nhu cầu về GDKNS của học sinh THPT tỉnh
Thái Nguyên 60
Bảng 2.10C: Thứ bậc mức độ nhu cầu các KNS 61
không ít đề tài nghiên cứu về giáo dục GDKNS cho học sinh trung học phổ
thông (THPT). Từ năm 2009 – 2010 Bộ Giáo dục và đào tạo (Bộ GD&ĐT) đã
đưa GDKNS vào tất cả các bậc học giáo dục phổ thông.
Tuy nhiên, nhiều nhà nghiên cứu đã chỉ ra rằng: không thể GDKNS cho
mọi đối tượng học sinh như nhau, trong khi mức độ hình thành và nhu cầu
KNS của học sinh theo độ tuổi, theo vùng miền, theo nhóm tính cách là rất
khác biệt. Bởi vậy, để GDKNS có hiệu quả thiết thực trước hết cần có những
nghiên cứu có thể thâu tóm và tích hợp xác định thực trạng mức độ hình thành
KNS và nhu cầu các KNS thiết yếu ở học sinh THPT, từ đó mới có thể xác
định được mục tiêu GDKNS phù hợp cho mỗi nhóm đối tượng học sinh. Từ
đó cho thấy cần phải có những nghiên cứu về thực trạng nhu cầu KNS của các
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
2
nhóm đối tượng đặc thù theo vùng miền, trình độ phát triển, đặc điểm tâm
lý trên cơ sở đó xác lập được các “Danh mục kĩ năng sống thiết yếu” cần
trang bị cho phù hợp với từng nhóm đối tượng để góp phần nâng cao hiệu quả
chương trình GDKNS là một việc làm hết sức cần thiết.
Xuất phát từ những lí do trên, chúng tôi chọn đề tài “Nhu cầu kĩ năng
sống của các nhóm đối tượng đặc thù và danh mục kĩ năng sống cần trang
bị cho học sinh Trung học phổ thông tỉnh Thái Nguyên” để nghiên cứu.
2. Mục đích nghiên cứu
Điều tra thực trạng mức độ hình thành và nhu cầu các KNS thiết yếu của
các nhóm đối tượng đặc thù ở học sinh THPT, từ đó xác lập các danh mục
KNS như là các mục tiêu GDKNS cho học sinh THPT tỉnh Thái Nguyên theo
đặc thù vùng miền để góp phần nâng cao hiệu quả chương trình GDKNS hiện
nay.
3. Đối tƣợng và khách thể nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
thù vùng miền) và theo đặc thù văn hóa dân tộc.
6.2. Về khách thể điều tra
Chúng tôi tiến hành nghiên cứu tại các trường THPT Thái Nguyên,
trường THPT Nguyễn Huệ - Huyện Đại Từ và trường THPT Vùng cao Việt
Bắc với mẫu khảo sát là 300 học sinh và 60 giáo viên.
7. Phƣơng pháp nghiên cứu
7.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lí luận
Nghiên cứu tổng hợp, phân tích các tài liệu về KNS, GDKNS, về đặc
điểm vùng miền theo tiếp cận địa - văn hóa… nhằm xây dựng cơ sở lý luận
cho việc xác định các nhóm đối tượng đặc thù của GDKNS và xây dựng hệ
thống KNS cần trang bị cho HS THPT.
7.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiến
Chủ yếu sử dụng là điều tra bằng phiếu hỏi (anket) kết hợp với phỏng
vấn, quan sát hoạt động và nghiên cứu trường hợp (case study) trong khảo sát
thực trạng mức độ hình thành KNS ban đầu và nhu cầu GDKNS của các
nhóm học sinh THPT đặc thù.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
4
7.3. Phương pháp thực nghiệm sư phạm kết hợp với lấy ý kiến chuyên gia:
sử dụng kiểm chứng tính khả thi của các Danh mục KNS
7.4. Phương pháp thống kê toán học
Sử dụng một số công thức toán học trong quá trình thu thập và xử lí các
số liệu khảo sát thực trạng, thực nghiệm sư phạm và lấy ý kiến chuyên gia.
8. Cấu trúc của luận văn
Ngoài các phần mở đầu, tài liệu tham khảo, kết luận và khuyến nghị thì
cấu trúc luận văn bao gồm:
- Chương 1: Cơ sở lí luận về giáo dục kĩ năng sống cho học sinh Trung
học phổ thông theo các nhóm đối tượng đặc thù
gia như một trào lưu giáo dục hiện đại.
Riêng ở châu Á, tiếp cận giáo dục kỹ năng sống (GDKNS) muộn hơn,
vào cuối những năm 1980, thậm chí sang những năm 1990. Song ở các nước
nam Á và Đông nam Á hiện nay có những hoạt động giáo dục kỹ năng sống
mạnh nổi bật nhất với nhiều hướng tiếp cận không hoàn toàn giống nhau.
Giáo dục kĩ năng sống ở Malaysia được xem xét và nghiên cứu dưới 3
góc độ: các kĩ năng thao tác bằng tay, kĩ năng thương mại và đấu thầu, kĩ
năng sống trong đời sống gia đình. [10]
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
6
Ở Bangladesh, GDKNS được khai thác dưới góc độ các kĩ năng hoạt
động xã hội, kĩ năng phát triển, kĩ năng chuẩn bị cho tương lai. [10]
Ở Ấn Độ, GDKNS cho học sinh được xem xét dưới góc độ giúp cho con
người sống một cách lành mạnh về thể chất và tinh thần, nhằm phát triển năng
lực người. Các kĩ năng sống được khai thác giáo dục là các kĩ năng: giải quyết
vấn đề, tư duy phê phán, kĩ năng giao tiếp, kĩ năng ra quyết định, kĩ năng
quan hệ liên nhân cách. [10]
1.1.2. Ở Việt Nam
Thuật ngữ kĩ năng sống (KNS) được người Việt Nam biết đến bắt đầu từ
chương trình của UNICEF (1996) “Giáo dục kĩ năng sống để bảo vệ sức khỏe
và phòng chống HIV/AIDS cho thanh thiếu niên trong và ngoài nhà trường”.
Quan niệm về KNS được giới thiệu trong chương trình này bao gồm những
KNS cốt lõi như: kĩ năng tự nhận thức, kĩ năng giao tiếp, kĩ năng xác định giá
trị, kĩ năng ra quyết định, kĩ năng kiên định, kĩ năng đặt mục tiêu nhằm vào
các chủ đề giáo dục sức khỏe do các chuyên gia Úc tập huấn. Sang giai đoạn
2, chương trình được mang tên: “Giáo dục sống khỏe mạnh và kĩ năng sống”.
Ngoài ngành giáo dục, đối tác tham gia còn có 2 tổ chức xã hội chính trị là
Trung ương ĐTNCS Hồ Chí Minh và Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam. Trên
1.2. Những khái niệm công cụ
1.2.1. Kĩ năng sống
Kĩ năng là khả năng thực hiện một hành động hay hoạt động nào đó,
bằng cách lựa chọn và vận dụng những tri thức, những kinh nghiệm, kĩ xảo
đã có để hành động phù hợp với những mục tiêu và những điều kiện thực tế
đã cho. [10]
A.V.Petropxki: Kĩ năng là sự vận dụng tri thức đã có để lựa chọn và thực
hiện những phương thức hành động tương ứng với mục đích đặt ra. Còn theo
quan điểm của K.K.Platonôp: Kĩ năng là khả năng của con người thực hiện một
hoạt động bất kì nào đó hay các hành động trên cơ sở của kinh nghiệm đã biết.
Theo tác giả Vũ Dũng thì: “Kĩ năng là năng lực vận dụng có kết quả tri
thức về phương thức hành động đã được chủ thể lĩnh hội để thực hiện những
nhiệm vụ tương ứng”. Theo tác giả Thái Duy Tuyên, kĩ năng là sự ứng dụng
kiến thức trong hoạt động. Mỗi kĩ năng bao gồm một hệ thống thao tác trí tuệ
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
8
và thực hành, thực hiện trọn vẹn hệ thống thao tác này sẽ đảm bảo đạt được
mục đích đặt ra cho hoạt động. [11]
Kĩ năng sống: Có nhiều quan niệm hay cách hiểu khác nhau về KNS:
- Theo Tổ chức Văn hóa, Khoa học và Giáo dục của Liên hợp quốc
(UNESCO): Kĩ năng sống là năng lực cá nhân để thực hiện đầy đủ các chức
năng và tham gia vào cuộc sống hàng ngày. [10]
- Theo Tổ chức y tế thế giới (WHO): KNS là những kĩ năng thiết thực mà
con người cần để có cuộc sống an toàn, khỏe mạnh. Đó là những kĩ năng mang
tính tâm lí xã hôi và kĩ năng về giao tiếp được vận dụng trong những tình
huống hàng ngày để tương tác một cách hiệu quả với người khác và giải quyết
hiệu quả những vấn đề, những tình huống của cuộc sống hàng ngày. [10]
- Theo UNICEF, KNS là tập hợp rất nhiều kĩ năng tâm lí xã hội và giao
tri thức, thái độ và hành vi, hành động trong lĩnh vực đó), mà không phải là
phạm trù thuộc kĩ thuật của hành động, hành vi (hiểu kĩ năng theo nghĩa hẹp).
Trong đề tài này chúng tôi sử dụng khái niệm sau làm khái niệm công cụ:
Kĩ năng sống là những khả năng tâm lí- xã hội của mỗi cá nhân thể hiện
trong hành vi thích ứng tích cực giúp cá nhân ứng xử một cách hiệu quả
trước nhu cầu, sự thay đổi và thách thức của cuộc sống thường ngày.
Thực tế xã hội hiện nay cho thấy rất nhiều những thất bại học đường và
thất bại trong cuộc sống của lứa tuổi này liên quan đến sự thiếu hụt giá trị
sống, thiếu hụt KNS… Vì vậy, việc GDKNS, rèn luyện KNS cho lứa tuổi học
sinh có một ý nghĩa vô cùng quan trọng. Nhà trường cùng gia đình và xã hội
cần phải cho các em nhận thức được tầm quan trọng của việc rèn luyện KNS
để từ đó các em có nhu cầu được GDKNS cho bản thân.
Đối với lứa tuổi học sinh, mỗi KNS đều có một vị thế quan trọng
trong việc hình thành nhân cách, giúp các em thành công trong học đường
và cuộc sống.
Dưới đây là các nhóm KNS quan trọng được nhiều tài liệu GDKNS viết
cho lứa tuổi học sinh lớn đã đề cập [10]
- Kĩ năng tự nhận thức: tự nhìn nhận, đánh giá về bản thân để xác định
được điểm mạnh, điểm yếu của mình; nhận biết sự thay đổi về tâm sinh lí để
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
10
có thái độ, hành vi ứng xử phù hợp; hiểu rõ vị trí của mình trong các mối
quan hệ để có những ứng xử hiệu quả, tránh được những hành động xốc nổi,
thiếu suy nghĩ, dẫn tới những hậu quả xấu.
- Kĩ năng xác định giá trị: giá trị là những chuẩn mực về đạo đức, niềm
tin, chính kiến, thái độ của mỗi người, mỗi nhóm người, mỗi xã hội, có ảnh
hưởng đến quá trình ra quyết định và giải quyết vấn đề. Việc xác định được các
giá trị đúng giúp các em lựa chọn được hướng đi, giải pháp phù hợp trong các
huống nào đó khi tự mình không thể giải quyết được đều cần đến sự giúp đỡ
của người khác.
Lứa tuổi học sinh chưa có nhiều kinh nghiệm trong cuộc sống hay gặp
phải tình huống khó xử Nếu làm chủ được các kĩ năng này các em sẽ tự tin
hơn và có nhiều cơ hội thành công hơn.
1.2.2. Giáo dục kĩ năng sống
Giáo dục kĩ năng sống (GDKNS) và tiếp cận kĩ năng sống trong giáo dục
là điều tất yếu để nâng cao chất lượng giáo dục và để người học có thể đáp
ứng những thách thức của cuộc sống. Những nội dung nào hàm chứa KNS
cần xây dựng những chủ đề có nội dung và phương pháp hướng tới hình
thành giáo dục những KNS chuyên biệt đó.
Từ những phân tích về KNS và mục đích của GDKNS chúng tôi sử dụng
khái niệm sau làm khái niệm công cụ:
Giáo dục kĩ năng sống là hình thành cách sống tích cực trong xã hội
hiện đại, là xây dựng những hành vi lành mạnh và thay đổi những hành vi,
thói quen tiêu cực trên cơ sở giúp người học có cả kiến thức, giá trị, thái độ
và các kĩ năng thích hợp.
Mục tiêu chính của GDKNS là làm thay đổi hành vi của người học từ
thói quen thụ động, có thể gây rủi ro, mang lại hậu quả tiêu cực chuyển thành
những hành vi mang tính xây dựng, tích cực và có hiệu quả để nâng cao chất
lượng cuộc sống cá nhân và góp phần phát triển bền vững cho xã hôi.
Đồng thời, GDKNS cần được thực hiện thống nhất trong nhiệm vụ giáo
dục nhân cách toàn diện (theo các lĩnh vực văn hóa xã hôi, theo các loại hình
hoạt động của con người, theo cả 4 trụ cột trong giáo dục thế kỉ XXI) thông
qua quá trình dạy học và giáo dục (theo nghiã hẹp) vừa hướng tới mục tiêu
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
12
hành thành khả năng tâm lí xã hội để người học có thể vượt qua những thách
13
thức, thực hành đã được quan tâm, đặc biệt trong đổi mới giáo dục. Hiện nay,
trong các bậc học, cấp học phổ thông, GDKNS đã được Bộ GD&ĐT triển
khai đại trà, đã có một chương trình định hướng GDKNS và đội ngũ giáo viên
cốt cán đã được tập huấn trong khuôn khổ một số Dự án phát triển giáo dục
tiểu học, giáo dục trung học…
Tuy nhiên, GDKNS với ý nghĩa để đáp ứng với những thách thức của
cuộc sống và nâng cao chất lượng cuộc sống còn phân tán, mang tính sơ
khai, với những nội dung còn hạn hẹp. Những đối tượng được hưởng lợi từ
những chương trình đó mới chỉ được trang bị những kĩ năng sống tối thiểu để
giải quyết những thách thức của một trong số nhiều vấn đề xã hội. Do đó, các
hoạt động GDKNS ở Việt Nam chưa đảm bảo cho trẻ em quyền được hưởng
giáo dục có chất lượng, quyền được tiếp cận chương trình GDKNS phù hợp
đã đề ra trong mục tiêu 3 của chương trình hành động DAKAR về giáo dục
cho mọi người.
Trong thực tế triển khai GDKNS cần đặc biệt lưu ý: Ở mỗi vùng miền
khác nhau thì nhu cầu về KNS của các đối tượng là khác nhau do chịu tác động
của môi trường sống khác nhau, điều kiện sống khác nhau, đặc điểm tâm- sinh
lý của các đối tượng theo vùng miền là không hoàn toàn giống nhau.
Từ đó, để việc GDKNS có hiệu quả cao cần thiết phải quan tâm đến việc
GDKNS cho học sinh theo nhóm đối tượng đặc thù. Chẳng hạn như học sinh
khu vực thành phố và nông thôn có những đặc điểm tâm sinh lý đặc thù theo
vùng miền là khác nhau nên việc GDKNS cho hai nhóm đối tượng này cần
phải phù hợp với những đặc điểm đặc thù của họ, phù hợp với nhu cầu khác
nhau của các đối tượng.
1.2.3. Nhu cầu và nhu cầu kĩ năng sống
D.N.Uznetze, người đầu tiên trong tâm lí học Xô viết nghiên cứu về nhu
cầu. Ông khám phá ra mối quan hệ giữa nhu cầu và hành vi: Tương ứng theo
mỗi kiểu hành vi là một nhu cầu. Ông cho rằng không có gì đặc trưng cho một
+ Nhu cầu sinh lý (ăn uống, sinh hoạt )
+ Nhu cầu an toàn
+ Nhu cầu xã hội (giao tiếp, giao lưu tình cảm )
+ Nhu cầu được tôn trọng
+ Nhu cầu được thể hiện bản thân
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
15
- Lý thuyết ERG: nhận ra 3 kiểu nhu cầu:
+ Nhu cầu tồn tại: ước vọng khỏe mạnh về thể xác và tinh thần
+ Nhu cầu giao tiếp: ước vọng thỏa mãn trong quan hệ với mọi người
+ Nhu cầu phát triển: ước vọng cho tăng trưởng và phát triển cá nhân
trong cả cuộc sống và công việc.
Nhu cầu kĩ năng sống cũng là một loại nhu cầu phức hợp, thể hiện mong
muốn được an toàn (tồn tại), được giao tiếp xã hội, tôn trọng và thể hiện, phát
triển bản thân.
Ở mỗi người khác nhau thì nhu cầu KNS không giống nhau. Mỗi người
đều cần có một hay nhiều KNS nào đó để có thể giải quyết những khó khăn,
vấn đề mình gặp phải trong cuộc sống, học tập, lao động Con người cần phải
có KNS để tự hoàn thiện bản thân, để ngày càng trưởng thành và hoàn thiện.
Vì vậy, theo chúng tôi: Nhu cầu KNS là mong muốn của con người cần
hình thành cho bản thân mình một hay nhiều KNS nào đó để hoàn thiện bản
thân và phát triển toàn diện hơn.
1.2.4. Mức độ hình thành kĩ năng sống
Quá trình GDKNS cho học sinh luôn có mục đích là nhằm giúp cho học
sinh có được những KNS cơ bản thiết thực để các em có thể tự mình giải
quyết, ứng phó được với mọi vấn đề, tình huống xảy ra trong học tập cũng
như trong cuộc sống. Tuy nhiên, KNS được hình thành ở mỗi học sinh với
mức độ không giống nhau do trình độ nhận thức của mỗi người và tính tích
tâm sinh lý, nét tính cách hoặc môi trường sống.
- Nhóm đối tượng đặc thù về độ tuổi thì có thể phân chia theo lứa tuổi
học sinh Tiểu học, lứa tuổi học sinh THCS, lứa tuổi học sinh THPT
- Nhóm đối tượng đặc thù về trình độ nhận thức thì có thể phân chia theo
năng lực như xuất sắc, giỏi, khá, trung bình, yếu và kém.
- Nhóm đối tượng đặc thù về đặc điểm tâm sinh lý thì có thể phân chia
theo đặc điểm tính cách như cởi mở, hòa đồng, bạo dạn, mạnh mẽ, nhút nhát,
lạnh lùng, nóng nảy, bình thản
- Nhóm đối tượng đặc thù về vùng miền (địa văn hóa) thì có thể phân
chia theo đặc điểm khu vực địa hình như thành phố – đô thị, nông thôn, miền
núi và dân tộc ít người.