7 = ; m
BỘ Y TÊ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC D ược HÀ NỘI
NGUYỄN THỊ HỔNG
NGHIÊN CỨU VIỆC THựC HIỆN MỘT s ố QUY
CHẾ c h u y ê n n ô n t ạ i b ệ n h v iệ n p h ụ s ả n
• • • •
TRUNG ƯƠNG GIA I ĐOẠN 2003-3 0 06
(KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP Dược SỸ KHOÁ 2002-2007)
Người hướng dẫn: PGS.TS Lê Viết Hùng
Noi thực hiện: Bệnh viện Phụ sản Trung ương
Thời gian thực hiện: Từ tháng 2/2007 đến tháng 5/2007
Hà nội, tháng 5-2007
S —
*
Mfo@cẢMƠ<n
Sau quá trình tiến hành và thực hiện đề tài, với nhiều cố gắng đến nay
khóa luận đã được hoàn thành. Tôi xin được bày tỏ tình cảm của mình đến
những người đã dạy dỗ, hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian qua:
Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới:
PSG.TS Lê Viết Hùng, Phó chủ nhiệm Bộ môn Quản lý và Kinh tế
Dược, Đại học Dược Hà Nội. Người thầy đã trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo tận
tình và chu đáo cho tôi trong suốt quá trình thực hiện khóa luận này.
Các thầy cô giáo trong Bộ môn Quản lý và Kinh tế Dược, Đại học
Dược Hà Nội, những người đã cho tôi kiến thức và những kinh nghiệm quý
báu.
Bệnh viện Phụ sản Trung ương, đặc biệt là:
ThS Trần Thị Thanh Hà, Trưởng Khoa Dược
ThS Nguyễn Huy Tuấn, Phó Trưởng Khoa Dược
DS Thân Thị Hải Hà
Ban Giám đốc Bệnh viện Phụ sản Trung ương.
1.2.4. Quy chế quản lý thuốc hướng tâm thần 6
1.3. Thực trạng công tác quản lý thuốc độc, thuốc gây nghiện, thuốc
hướng tâm thần trên thế giới và Việt Nam 8
1.3.1. Trên thế giới 8
1.3.2. Tại Việt Nam 11
1.3.3. Trong ngành Y Tế. 12
1.4. Tình hình kê đơn và sử dụng thuốc trên thế giói và tại Việt Nam. 13
1.4.1. Tình hình kê đơn và sử dụng thuốc trên thế giới 13
1.4.2. Tình hình kê đơn và sử dụng thuốc tại Việt Nam
14
1.5. Vài nét về bệnh viện Phụ sản Trung ương
15
1.5.1. Chức năng, nhiệm vụ của bệnh viện
16
1.5.2. Chức năng nhiệm vụ của khoa dược
18
1.5.3. Hội đồng thuốc và điều trị 18
1.5.4. Danh mục thuốc của bệnh viện
19
1.5.5. Mô hình bệnh tật 20
1.5.6. Phác đồ điều trị 21
1.6. Các nghiên cứu đã tiến hành có liên quan 22
PHẦN H: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN cứu
23
2.1. Đối tượng nghiên cứu 23
2.2. Phương pháp nghiên cứu 23
47
3.1.7. Hoạt động của hội đồng thuốc và điều trị 48
3.2. Kết quả khảo sát việc thực hiện một số quy chế chuyên môn tại
Bệnh viện Phụ sản Trung ương 51
3.2.1. Quy chế kê đơn thuốc ngoại trú 51
3.2.2. Quy chế ghi chỉ định thuốc trong bệnh án nội trú.
.
56
3.2.3. Quy định ghi bệnh án 58
3.3. Tiến hành nghiên cứu can thiệp thử nghiệm 59
3.3.1. Kết quả khảo sát thực trạng
59
3.3.2. Tiến hành can thiệp 61
3.3.3 Kết quả sau can thiệp 61
3.4. Bàn luận 67
3.4.1. Cơ cấu nhân lực, tổ chức bệnh viện và khoa dược
67
3.4.2. Quản lý sử dụng TO, TGN, THTT của bệnh viện
68
3.4.3. Tình hình thực hiện quy chế kê đơn và quy chế ghi chỉ định thuốc
trong hồ sơ bệnh án 68
3.4.4. Phương pháp nghiên cứu can thiệp
69
PHẦN V: KẾT LUẬN VÀ ĐỂ XUẤT
.
3. BYT
: Bộ Y tế
4. CK : Chuyên khoa
5.
DMT : Danh mục thuốc
6. DSĐH :Dược sỹ đại học
7. ĐD : Điều dưỡng
8. HĐT&ĐT : Hội đồng thuốc và điều trị
9.
KHTH
: Kế hoạch tổng hợp
10. KS : Kháng sinh
11. KTV
: Kỹ thuật viên
12. MHBT : Mô hình bệnh tật
13.
NCKH
: Nghiên cứu khoa học
14. NHS
: Nữ hộ sinh
15.
SDK : Số đăng kí
16. TĐ
: Thuốc độc
17.
TGN
: Thuốc gây nghiện
18. THTT
: Thuốc hướng tâm thần
19.
1.8 Danh mục TGN, THTT, TO- 1999, bổ sung- 2001 12
9
1.9
Vấn đề sử dụng thuốc trong kê đơn 15
10
3.10 Cơ cấu nhân lực của Bệnh viện từ năm 2003- 2006 30
11 3.11 Cợ cấu nhân lực của Khoa Dược qua 4 năm
34
12 3.12
Sự thay đổi số giường bệnh từ 2003 đến 2006 35
13
3.13 Số lượt bệnh nhân khám ngoại trú và điều trị nội trú
36
14 3.14 Số lượng TGN, TĐ, THTT sử dụng trong viện
41
15 3.15
Tỷ lệ bệnh án được kiểm tra việc kê đơn thuốc
47
16 3.16
Nội dung các tiêu chuẩn đánh giá hoạt động HĐT&ĐT 50
17 3.17 Số thuốc trung bình được kê trong một đơn
51
18
3.18 Tỷ lệ thuốc kê theo tên INN
52
19
3.19
Số thuốc kháng sinh trong đơn
53
20 3.20 Số thuốc thiết yếu được kê trong đơn
30 3.30
Kết quả khảo sát đơn ngoại trú sau can thiệp
65
DANH MỤC HÌNH TRONG KHÓA LUẬN
STT Hình Tên hình
Trang
1 1.1
Các tiêu chí trong hướng dẫn thực hành điều trị 22
2 2.2 Sơ đồ mô hình can thiệp
27
3 3.3 Các cấp quản trị trong bệnh viện
29
4 3.4
Cơ cấu nhân lực bệnh viện trong năm 2005-2006
31
5 3.5 Tổ chức khoa dược
32
6
3.6
Cơ cấu nhân lực khoa dược
34
7 3.7
Biểu đồ thể hiện sự thay đổi số giường qua 4 năm 35
8 3.8 Biểu đồ thể hiện sự thay đổi giường bệnh qua 4 năm
36
9 3.9
Các bệnh thường gặp ở bệnh viện
38
10 3.10 Cơ cấu các nhóm thuốc dùng trong bệnh viện
39
ĐẶT VẤN ĐỂ
Sức khoẻ là vốn quý nhất của con người. Ngày nay, cùng với sự phát
triển của nền kinh tế, đời sống của con ngưòi được nâng cao, theo đó nhu
cầu khám chữa bệnh của con ngưòi đòi hỏi được đáp ứng ngày càng cao về
chất lượng. Trong những năm gần đây, thị trường thuốc phát triển nhanh
chóng với sự đa dạng phong phú về chủng loại cũng như nguồn cung cấp.
Tuy nhiên việc kê đơn thuốc không hợp lý còn phổ biến, các báo cáo về
phản ứng có hại của thuốc ngày càng nhiều do có quá nhiều biệt dược cho
sự lựa chọn của bác sĩ.
Trong những năm gần đây, có một số chương trình đã được tiến hành
để khảo sát tình hình sử dụng thuốc tại một số cơ sở khám chữa bệnh ờ các
tuyến (TW, tỉnh, huyện và trạm y tế xã). Qua điều tra phát hiện được những
vấn đề bất hợp lý trong sử dụng thuốc tại các cấp, phân tích nguyên nhân từ
đó đưa ra các giải pháp can thiệp kịp thòi. Kết quả đã nâng cao chất lượng
điều trị của cơ sở khám chữa bệnh.
Bệnh viện Phụ sản Trung ương là bệnh viện chuyên khoa phụ sản đầu
ngành, chăm sóc sức khỏe sinh sản và kế hoạch hóa gia đình trong cả nước.
Do vậy bệnh viện có một số nét đặc thù riêng, việc sử dụng thuốc hợp lí an
toàn là yêu cầu cấp thiết của công tác điều trị và định hướng cho tuyến dưới.
Với mong muốn tìm hiểu việc thực hiện các quy chế chuyên môn tại
bệnh viện Phụ sản, đề tài:
“Nghiên cứu việc thực hiện một số quy chế chuyên môn tại bệnh viện
Phụ sản Trung ương giai đoạn 2003- 2006”.
1
Được thực hiện vói mục tiêu:
1. Khảo sát việc thực hiện một số quy chế chuyên môn và một số yếu tố
liên quan đến việc thực hiện các quy chế chuyên môn tại bệnh viện
Phụ sản TW giai đoạn 2003-2006.
2. Tìm hiểu nguyên nhân ảnh hưởng tói việc thực hiện một số quy chế
chuyên môn tại bệnh viện Phụ sản TW, tiến hành một số biện pháp
hay bán tổng hợp có tác dụng trên thần kinh trung ương gây nên tình trạng
3
kích thích hoặc ức chế được dùng cho người nhằm mục đích phòng bệnh,
chữa bệnh, nếu sử dụng không đúng có thể gây rối loạn chức năng vận động,
tư duy, hành vi, nhận thức, cảm xúc, hoặc gây ảo giác, hoặc có khả năng gây
lệ thuộc thuốc.
1.2. Một số quy chế chuyên môn dược.[3]
Quy chế dược là hệ thống các quy chế nhằm quy định quản lý các lĩnh
vực hành nghề dược, được nghiên cứu bởi các cơ quan chức năng quản lý
dược và được ban hành bởi lãnh đạo Bộ y tế.
1.2.1. Quy chế kê í?ơtt.[3][10]
Do Bộ trưởng Bộ Y Tế ban hành theo quyết định số 488/BYT/QĐ
ngày 3/4/1995. Quy chế này góp phần đảm bảo việc dùng thuốc an toàn, hợp
lý và đạt hiệu quả phòng bệnh, chữa bệnh cao; đồng thời ngăn chặn việc
người bệnh tự dùng một số thuốc phải có chỉ định của thầy thuốc, dẫn đến
những tác hại cho sức khoẻ. Bên cạnh đó, quy chế còn xác định rõ trách
nhiệm của bác sỹ trong việc khám bệnh, kẽ đơn và trách nhiệm của cán bộ
Dược trong công tác cung ứng thuốc. Quy chế này đã góp phần không nhỏ
vào việc chấn chỉnh công tác cung ứng thuốc cũng như việc kê đơn còn
nhiều chỗ chưa hợp lý hiện nay.
Bảng 1.1: Quy chế kê đơn
Phạm vi
điều
chỉnh
Kê đơn và bán thuốc hoặc cấp thuốc theo đơn điều trị ngoại
trú.
Đối
tượng
áp dụng
• Bác sỹ khám chữa bệnh tại các cơ sở khám chữa bệnh Nhà
Do Bộ trưởng Bộ Y Tế ban hành theo quyết định số 2033/1999/QĐ-
BYT ngày 9 tháng 7 năm 1999. Kèm theo Danh mục thuốc gây nghiện và
Danh mục thuốc gây nghiện dạng phối hợp.
5
Bảng 1.3 : Quy chế quản lý thuốc gây nghiện
Phạm vi
điều chỉnh
Quy chế quản lý thuốc gây nghiện được áp dụng với tất cả
các thuốc gây nghiện quy định tại Danh mục thuốc gây
nghiện.
Đối tượng
áp dụng
Các thuốc được miễn quản lý bao gồm: Những thuốc có
công thức gồm nhiều hoạt chất, trong đó thuốc gây nghiện
tham gia vói hàm lượng nhỏ hơn hoặc bằng hàm lượng quy
định trong Danh mục thuốc gây nghiện ở dạng phối hợp,
được miễn quản lý theo quy chế này, trừ trường hợp xuất
nhập khẩu
1.2.4. Quy chế quản lý thuốc hướng tâm thần.[3][13]
Do Bộ trưởng Bộ Y Tế ban hành theo quyết định số 3047/2001/QĐ-
BYT ngày 12 tháng 7 năm 2001. Kèm theo Danh mục thuốc hướng tâm
thần, tiền chất dùng làm thuốc và Danh mục thuốc hướng tâm thần, tiền chất
dạng phối hợp
Bảng 1.4 : Quy chế quản lý thuốc hướng tâm thần
Phạm vi
điều chỉnh
Tất cả các thuốc hướng tâm thần và tiền chất dùng làm
thuốc quy định trong Danh mục thuốc hướng tâm thần và
tiền chất.
Các thuốc
trong bệnh viện.
- Các bệnh viện gửi báo cáo công tác Dược 3, 6, 9 tháng, 1 năm theo
mẫu quy định về sở Y Tế, Bộ Y Tế (Vụ điều trị).
• Chỉ thị số 05/2004/CT-BYT ngày 16/4/2004 của bộ trưởng Bộ Y Tê về
việc chấn chỉnh công tác cung ứng, sử dụng thuốc trong bệnh viện. [4]
7
- Đảm bảo đủ thuốc chữa bệnh theo danh mục thuốc chủ yếu sử dụng
tại cơ sở khám chữa bệnh.
- Đảm bảo hoạt động nhà thuốc bệnh viện theo qui chế ban hành.
- Chỉ đạo hoạt động Hội đồng thuốc và điều trị trong việc lựa chọn và
sử dụng thuốc. Tăng cường kiểm tra quy chế kê đơn và bán thuốc theo đơn.
- Tổ chức cấp phát tới các khoa lâm sàng.
- Nghiêm cấm: các cá nhân, khoa phòng bán thuốc trong bệnh viện, tổ
chức liên kết chi phối việc kê đơn để chia hoa hồng.
• Thông tư sô 08/BYT-TT ngày 4/7/1997 của Bộ trưởng Bộ Y Tê
hướng dẫn việc tổ chức chức năng nhiệm vụ của Hội đồng thuốc và điều trị
ở bệnh viện để thực hiện chỉ thị 03/Bộ Y Tế - CT ngày 25/2/1997 của Bộ
trưởng Bộ Y Tế về việc chấn chỉnh công tác cung ứng quản lý và sử dụng
thuốc tại bệnh viện. [4]
1.3. Thực trạng công tác quản lý thuốc độc, thuốc gây nghiện, thuốc
hướng tâm thần trên thế giới và Việt Nam. [23]
1.3.1. Trên thế giới.
♦> Thuốc gây nghiện, thuốc hướng tâm thần.
Trong hệ thống các quy chế Dược của một số nước trên thế giới như:
Pháp, Trung Quốc, Australia và Việt Nam có đưa ra quy chế quản lý TĐ
và phân loại thành các danh mục thuốc độc trong đó bao gồm cả TGN,
THTT để tiện quản lý. Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ
thuật, số lượng TO, TGN, THTT tăng nhanh đòi hỏi cần phải quản lý chặt
chẽ hơn.
Ma tuý là một trong những hiểm hoạ của loài người, ngày nay việc
93 118
Bảng
m
Các chất Ma tuý tuyệt đối cấm sử
dụng trong ngành Y tế
6
16
Tổng cộng
99 134
9
Bảng 1.6: Phân loại các chất gây nghiện theo công ước năm 1971
Tên bảng
Số lượng chất HTT
Công ước
1971
Công ước
1971 sửa đổi
Bảng I
Các chất hướng thần tuyệt đối
cấm sử dụng trong ngành Y tế
10 28
Bảng
n
Các chất hướng thần hạn chế sử
dụng trong phân tích, kiểm
nghiệm, nghiên cứu khoa học,
điều tra tội phạm hoặc dùng trong
ngành Y tế
6
16
riêng mà chỉ ban hành Danh mục TGN, THTT và danh mục tất cả các thuốc
phải kê đơn thay vì danh mục TĐ để tiện quản lý. Việc ra đời danh mục
thuốc kê đơn nhằm nâng cao trách nhiệm của người thầy thuốc trong kê
đơn, sử dụng thuốc chữa bệnh và thuận lợi cho các cơ quan chức năng hơn
trong quá trình quản lý. Vì vậy
ở hầu hết các nước trên thế giới không còn
quy chế quản lý sử dụng TO cụ thể nữa. [27]
1.3.2. Tại Việt Nam.
Các vấn đề liên quan đến ma tuý ngày càng phức tạp nên công tác sử
dụng TO, TGN, THTT được sự quan tâm không chỉ của ngành Y Tế mà Nhà
nước cũng có nhiều chính sách quản lý chặt chẽ các chất gây nghiện, chất
hướng tâm thần. Từ ngày 7/10/1998, nước ta gia nhập công ước Quốc tế về
các chất hướng tâm thần và chất gây nghiện.[27]
Thanh tra Bộ Y Tế và Cục cảnh sát Bộ Công An thường xuyên phối
hợp chỉ đạo và tiến hành kiểm tra việc thực hiện các quy chế quản lý, sử
dụng TĐ, TGN, THTT ở tất cả các đơn vị trên cả nước. Kết quả là tình hình
quản lý các nhóm thuốc này ngày một chặt chẽ và nghiêm túc hơn không
chỉ trong các cơ sở y tế mà ở cả các đơn vị kinh doanh. Bên cạnh đó vẫn còn
những sai phạm không nhỏ. Theo báo cáo năm 2002 của Bộ Y Tế về công
tác thanh tra Dược trên 57 tỉnh, thành trên cả nước tính đến ngày
16/12/2002: có 1.663 (15,93%) cơ sở vi phạm trong tổng số 10.436 cơ sở
được thanh tra, một trong những nội dung vi phạm chủ yếu là thực hiện chưa
đúng các quy chế chuyên môn. Theo báo cáo thanh tra về tình hình quản lý,
sử dụng thuốc gây nghiện, thuốc hướng tâm thần tính đến ngày 25/12/2002,
trong tổng số 16 đơn vị được thanh tra có khoảng 20% đơn vị vi phạm.[17]
Như vậy, công tác quản lý các nhóm thuốc đặc biệt kể trên còn rất
nhiều khó khăn, đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ của các ban ngành.
*♦* Thuốc độc:
11
Trong thời kỳ bao cấp, nguồn thuốc của Việt Nam chủ yếu nhập khẩu
Danh mục thuốc giảm độc
89
44
Nguồn: Cục quản lý Dược (2001)
Chỉ thị của Bộ Y Tế số 02/1999/CT-BYT ngày 01/01/1999 và công
văn số 50 của Bộ trưởng Bộ Y Tế số 1054/YT-TTr ngày 25/2/2005 về việc
tăng cường quản lý TGN, THTT đã chỉ rõ: “Các bệnh viện và khoa điều trị
cần có biện pháp quản lý chặt chẽ việc sử dụng các TGN, THTT nhằm đảm
bảo thuốc đến tay người bệnh, tránh để thất thoát gây hậu quả xấu”. Việc
quản lý bảo quản, giao nhận TGN, THTT trong bệnh viện luôn được thực
hiện hết sức nghiêm ngặt. [27]
12
Qua báo cáo năm 2004 của công tác thanh tra Dược, hầu hết các bệnh
viện đều thực hiện nghiêm túc các quy chế chuyên môn, tuy nhiên vẫn còn
một số tồn tại: về chế độ sổ sách, bảo quản, báo cáo.[14]
1.4. Tình hình kê đơn và sử dụng thuốc trên thế giới và tại Việt Nam.
1.4.1. Tình hình kê đơn và sử dụng thuốc trên thế giới.
Thuốc đóng vai trò trong công tác chăm sóc, bảo vệ sức khỏe nhân
dân. Đó là một trong những nhân tố chủ yếu nhằm mục tiêu đảm bảo sức
khoẻ cho mọi người. Những thành tựu khoa học kỹ thuật đã nhanh chóng
được áp dụng vào việc nghiên cứu, phát minh, sản xuất và cung ứng các loại
dược phẩm nhằm đấu tranh với bệnh tật, bảo vệ sức khoẻ và kéo dài tuổi thọ
của con người. [22]
Trong những năm gần đây, cùng vói sự phát triển mạnh mẽ của công
nghệ khoa học, ngành công nghiệp Dược đã nghiên cứu, phát triển sản xuất
cả về số lượng lẫn chủng loại, sản lượng thuốc trên thế giói tăng vói tốc độ
khoảng 9-10% mỗi năm và tăng gấp đôi sau mỗi 10 năm. Nhanh hơn tốc độ
phát triển dân số thế giới: trong hơn 20 năm từ 1976 đến 1998 doanh số
thuốc bán trên thế giới tăng 7 lần trong khi dân số thế giói sau 40 năm chỉ
tăng gấp đôi. [26]
những tác hại không nhỏ. Nhiều bác sỹ không nắm được và hiểu rõ thuốc
mình kê, điều này rất nguy hiểm vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến tính mạng
bệnh nhân. Bên cạnh đó còn một thực tế là bác sỹ thích kê thuốc tác dụng
mạnh ngay cả khi không cần thiết để nhanh chóng khỏi bệnh, tăng uy tín với
bệnh nhân, đồng thòi thuốc của những hãng dược phẩm nước ngoài thường
có quà biếu, chiết khấu phần trăm.
14
Phần lớn đơn được in không đúng mẫu, thậm chí có khi in trên mảnh
giấy rời, tên thuốc kê không theo tên gốc mà hầu hết kê theo tên biệt dược.
Người kê đơn không ký tên hoặc không ghi rõ họ tên. Theo một nghiên cứu,
khi khảo sát 250 bệnh án nội trú khoa tiêu hoá ở một bệnh viện tuyến thành
phố, đã có tói 76% bệnh án không có hướng dẫn đầy đủ và 53,6% bệnh án
có tương tác thuốc. [24]
Theo nghiên cứu sử dụng thuốc hợp lý an toàn của Bộ Y tế năm 1997,
có rất nhiều vấn đề về kê đơn: sử dụng thuốc, số thuốc trung bình trong một
đơn đối vói bệnh nhân nội trú là 7 thuốc và 3,2 thuốc đối với bệnh nhân
ngoại trú. Theo khuyến cáo của WHO thì trị số đó là quá lớn, quá lạm dụng
thuốc.
Bảng 1.9: Vấn đề sử dụng thuốc trong kê đơn
STT
Chỉ tiêu
Khu vực nội trú
Khu vực ngoại trú
1
Kê tên gốc
55,2%
44,5%
2
Kê thuốc thiết yếu
48,3%
- Nghiên cứu, ứng dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật trong chẩn
đoán, điều trị phòng bệnh cho phụ nữ ở lứa tuổi sinh đẻ và trẻ sơ sinh.
- Nghiên cứu nội dung giáo dục về sức khoẻ cho phụ nữ (nhất là trong
lĩnh vực sinh sản) và phối hợp với các chuyên ngành khác trong triển
khai nghiên cứu các đề tài khoa học có liên quan.
• Đào tạo cán bộ chuyên ngành Phụ sản
- Bệnh viện là cơ sở thực hành để đào tạo nhân lực y tế chuyên ngành
Phụ sản, sơ sinh, điều hoà sinh sản ở bậc trung học, cao đẳng, đại học
và sau đại học.
16