1
MỤC LỤC
A.Mở đầu…………………………………………………………………………2
B.Nội Dung……………………………………………………………………… 2
I.Khái niệm tư duy……………………………………………………………….2
II.Phân tích các đặc điểm của tư duy
1. Tính có vấn đề………………………………………………………………….3
2.Tính trừu tượng và khái quát hóa…………………………………………… 4
3. Tính gián tiếp………………………………………………………………… 6
4. Tư duy gắn liền với ngôn ngữ…………………………………………………7
5. Tư duy lien hệ với nhận thức cảm tính………………………………………8
III. Ứng dụng các dặc điểm của tư duy trong hoạt động học tập của sinh
viên…………………………………………………………………………………9
C.KẾT LUẬN…………………………………………………………………….11
2
A. MỞ ĐẦU
Tư duy là gì? Đây là một vấn đề thu hút sự quan tâm của nhiều ngành khoa
học và nhiều nhà khoa học nghiên cứu Triết học nghiên cứu tư duy dưới góc độ lý
luận nhận thức. Mọi thế giới quan đều được con người dùng tư duy của mình để
khám phá, đi sâu vào từng góc cạnh của thế giới. Để có thể hiểu rõ hơn về tư duy ở
con người, nhóm chúng em xin chọn đề tài “Phân tích những đặc điểm của tư duy
con người. Ứng dụng của nó trong hoạt động học tập của sinh viên”.
B. NỘI DUNG
I. Khái niệm tư duy
Tư duy là một quá trình nhận thức phản ánh những thuộc tính bản chất,
những mối liên hệ và quan hệ bên trong có tính quy luật của sự vật và hiện tượng
trong hiện thực khách quan mà trước đó ta chưa biết
1
.
Quá trình tư duy bao gồm nhiều giai đoạn, từ khi cá nhân gặp những tình
huống có vấn đề và nhận thức được vấn đề, đến khi vấn đề đó được giải quyết. Đó
phương tiện, phương pháp hành động quen thuộc không đủ để giải quyết. Chính vì
vậy, vấn đề và tư duy luôn có mối liên hệ mật thiết với nhau:
- Vấn đề là tiền đề để làm xuất hiện tư duy: Tình huống có vấn đề mà những biện
pháp, công cụ trước đây không thể giải quyết một cách có hiệu quả sẽ làm khời nguồn
cho các hoạt động tư duy của con người.
- Vấn đề có tác động thúc đẩy, động lực cho tư duy: Vấn đề nảy sinh sẽ là động lực
thôi thúc con người tư duy để tìm cách giải quyết hiệu quả hơn. Đặc biệt là đối với
những tình huống có vấn đề phù hợp, người giải quyết có nhận thức đầy đủ, có năng
lực và nhu cầu giải quyết thì sẽ thúc đẩy nhanh chóng khả năng tư duy giải quyết vấn
đề. Chính vì vậy, không phải vấn đề nào cũng làm tư duy nảy sinh, chỉ khi có những
điều kiện như đã nói ở trên mới kích thích tư duy phát triển. Ví dụ: Đối với một học
sinh học trung bình trong một lớp, thì cô giáo sẽ lựa chọn những bài toán dễ để học
sinh ấy có thể tư duy để giải quyết được, và tăng dần độ khó lên. Nếu như cho học
sinh ấy một bài toán khó dành cho học sinh giỏi ngay từ đầu thì học sinh đó không thể
làm được vì “ vấn đề” không phù hợp với năng lực của học sinh đó.
- Vấn đề là tiêu chuẩn kiểm chứng tính thực tế của tư duy: Đối với một tình huống
có vấn đề, con người luôn có nhiều cách khác nhau để giải quyết vấn đề đó, nhưng
4
phương pháp nào ứng dụng hiệu quả nhất trong thực tiễn sẽ được chọn lựa và thực
hiện. Ví dụ: từ thời cổ đại người ta đã tính toán được số Pi gần đúng (3,14 đến 3,16),
tuy nhiên cùng với sự phát triển của toán học thì ngày nay người ta có thể tính được số
Pi chính xác hơn, người ta đã tìm ra hàng tỷ chữ sau dấu phẩy, điều này góp phần
quan trọng trong việc ứng dụng của toán học vào đời sống thực tiễn.
Để phân tích thêm về tính vấn đề của tư duy ta có thể lấy thêm ví dụ về câu chuyện
của Tôn Tẫn, ông là một nhà quân sự lỗi lạc, có tài ăn nói sống ở thời chiến quốc. Từ
khi ông hiến kế cho Điền Kỵ thắng được Tề Uy Vương trong một cuộc đua ngựa thì Tề
Uy Vương bắt đầu chú ý tới Tôn Tẫn. Một lần, Tề Uy Vương muốn thử tài Tôn Tẫn
liền bảo “ Đố khanh nghĩ cách bắt ta tự nguyện trèo lên đỉnh núi đấy”. Tôn Tẫn cười
nói “ Thần tài cán chưa đạt đến mức đó nhưng nếu bệ hạ ở trên đỉnh núi thì họa may
thần có thể lừa được bệ hạ xuống núi”, thế là Tề uy Vương đi lên đỉnh núi đang định
nhóm “sách”.
Nhờ có đặc điểm này mà con người không chỉ giải quyết được những nhiệm vụ
hiện tại mà còn giải quyết được những nhiệm vụ của tương lai.Trong khi giải quyết
những nhiệm vụ cụ thể vẫn có thể sắp xếp nó vào một nhóm,một loại,một phạm trù
để có thể giải quyết những vấn đề tương tự.
Ví dụ: Khi bắt đầu học tiếng anh,trong quá trình học từ mới,với động từ ta nên
phân chia thành nhóm nội và ngoại động từ.Sắp xếp như thế,sẽ dễ nhớ và hiểu
được bản chất của từ đó. Không những vậy,sau này khi học đến thể bị động trong
tiếng anh, ta sẽ dễ dàng lựa chọn được động từ nào có thể chia sang thể bị
động,động từ nào không. Như vậy, cách sắp xếp như vậy không chỉ giải quyết
nhiệm vụ ban đầu là học từ mới mà còn giải quyết được các vấn đề sau này.Hay
khi học toán,có rất nhiều dạng bài,nhiều phép toán và chúng có mối liên hệ với
nhau.Để làm được bài toán này,cần có những công thức từ trước đó.Vì thế,môn học
này yêu cầu phải nhớ rất nhiều con số,cách giải…Và để học tốt môn này,học sinh
thường khái quát cách giải thành công thức. Công thức này ngắn gọn,súc tích nên
dễ nhớ,và nhớ được lâu. Sau này,khi chỉ cần nhắc đến tính diện tích hình chữ
nhật,chưa cần quan tâm đến con số cụ thể ra sao, chúng ta có thể biết ngay công
thức tính.Như vậy,tính khái quát hóa và trựu tượng hóa có mối quan hệ rất chặt
chẽ,gắn bó và giúp ích rất nhiều cho quá trình tư duy,đặc biệt đóng vai trò quan
trọng trong hoạt động học tập
3. Tính gián tiếp của tư duy.
Tư duy của con người mang tính gián tiếp. Điều đó thể hiện ở chỗ, trong quá
trình tư duy, con người sử dụng các phương tiện công cụ khác nhau để nhận thức
6
sự việc, hiện tượng mà không thể trực tiếp tri giác. Sở dĩ có thể nhận thức được
gián tiếp vì giữa các sự vật, hiện tượng có mối liên hệ mang tính quy luật. Mặt
khác, tư duy được phản ánh bằng ngôn ngữ nên tư duy phản ánh gián tiếp. Đây là
một loại phương tiện nhận thwucs đặc thù của con người.
- Tư duy con người không nhận thức thế giới một cách trực tiếp mà có khả
năng nhận thức nó một cách gián tiếp. Tính gián tiếp của tư duy được thể hiện
vì vậy, những gì chúng ta tư duy không thể thể hiện ra bên ngoài và người khác
cũng không nhìn thấy được. Vì thế, ngôn ngữ là phương tiện mà con người sử
dụng để cho thể hiện những tư duy của mình. Thông qua ngôn ngữ, người khác có
thể hiểu và biết được những tư duy của chúng ta.
Ví dụ: Khi được hỏi một câu hỏi, trước khi trả lời nó, chúng ta sẽ tư duy
trong đầu về câu trả lời, sau đó dùng ngôn ngữ để biểu đạt câu trả lời cho người
khác biết.
4. Tư duy gắn liền với ngôn ngữ.
- Đây là một trong những đặc điểm khác biệt cơ bản giữa tâm lý người và tâm lý
động vật.Tâm lý động vật bao giờ cũng dừng lại ở tư duy hành động trực quan,
không có khả năng vượt ra ngoài phạm vi đó. Ngôn ngữ làm cho tư duy người
mang tính gián tiếp, tính trừu tượng và khái quát.
- Mối liên hệ giữ tư duy và ngôn ngữ là mối liên hệ biện chứng. Tư duy không thể
tồn tại dưới bất kỳ hình thức nào khác ngoài ngôn ngữ.Bất kỳ ý nghĩa, tư tưởng
nào cũng đều nảy sinh, phát triển gắn liền với ngôn ngữ.Dó là mối liên hệ giữ nội
dung và hình thức. Nếu không có ngôn ngữ thì quá trình tư duy của con người
không thể diễn ra được, đồng thời các sản phẩm của tư duy (khái niệm, phán
đoán…)cũng không được chủ thể và người khác tiếp nhận.
- Ngôn ngữ cố định lại kết quả của tư duy, là phương tiện biểu đạt kết quả tư duy,
do đó có thể khách quan hóa kết quả tư duy cho người khác và cho bản thân chủ
thể tư duy. Ngược lại, nếu không có tư duy thì ngôn ngữ chỉ là những chuỗi âm
thanh vô nghĩa. Tuy nhiên, ngôn ngữ không phải là tư duy mà chỉ là phương tiện
của tư duy.
Ví dụ: khi tiến hành lập trình PASCAL, người ta dùng ngôn ngữ để ghi lại để có
một chương trình lập trình hoàn chỉnh. Nếu không có ngôn ngữ để ghi lại thì cả
chủ thể lẫn người học đều không thể tiếp nhận được trọn vẹn tri thức.
Hay một câu chuyện vui sau đây cũng có thể đưa ra làm ví dụ cho mối quan hệ
giữa tư duy và ngôn ngữ: “ Một lần nhà tâm lý học nổi tiếng nước Mỹ là
F.Thomson đi về nhà, trời đã tối, trong túi áo khoác của ông có 200USD, ông thấp
thỏm lo sợ nhỡ gặp phải bọn cướp. Bỗng dưng, sau lưng ông xuất hiện một tên lực
là từ sự quan sát ,nhận thức cảm tính ban đầu, Newton đã bắt đầu dặt ra những câu
hỏi, suy nghĩ tư duy về hiện tượng ấy và cho ra đời định luật vạn vất hấp dẫn. Như
vậy ta có thê kết luận rằng chình nhờ nhận thức cảm tính mà tư duy đã nảy sinh,
hình thành.
Ngược lại, tư duy và những kết quả của nó ảnh hưởng mạnh mẽ, chi phối khả năng
phản ánh của nhận thức cảm tính: làm cho khả năng cảm giác của con người tinh
vi, nhạy bén hơn, làm cho tri giác của con người mang tính lựa chọn, tính ý nghĩa.
9
Chính vì lẽ đó, Ph.Angghen đã viết: “nhập vào với mắt của chúng ta chẳng những
có các cảm giác khác mà còn có cả hoạt động tư duy của ta nữa”.
III. Ứng dụng các đặc điểm của tư duy đối với việc học tập của sinh viên.
Cuộc sống vốn dĩ không phải là một ván cờ được lặp đi lặp lại các đường đi
nước bước, ván cờ của mỗi người là tùy thuộc vào cách chúng ta di chuyển những
quân cờ, chúng ta sống luôn không thể lặp lại những gì mà người trước đã
làm.Cuộc sống sẽ thật thú vị cho những người ham thích sự suy nghĩ, tìm tòi
những điều cho chính bản thân mình. Một cỗ máy có thể làm một công việc nhanh
chóng , hoàn hảo hơn con người nhưng mà nó chỉ làm theo sự điều khiển của con
người , nó không thể nghĩ được mình đang làm gì, làm như thế nào và làm để làm
gì ? Vì thế , chúng ta khác những cỗ máy và động vật ở chỗ chúng ta biết tư duy
đối với các hiện tượng trong đời sống , thế nên tại sao chúng ta không tận dụng cái
lợi thế đó vào việc học tập và cuộc sống của mình .Nhìn một cái cây, chúng ta
không thể chỉ nhận thức được các thuộc tính bề ngoài của nó như lá có màu gì, có
quả màu gì , cao hay thấp… mà chúng ta phải bắt đầu tư duy để nhận thêm nhiều
kiến thức hơn nữa như cây đó là cây gì, nó giống với loại cây gì, quả của nó dùng
để làm gì. Như Rene Descartes từng nói “ tôi tư duy nên tôi tồn tại”.
Trong số những sinh viên đế trường để nghe giảng, có thể chia làm nhiều nhóm
nhưng chủ yếu có ba loại : nhóm thứ nhất đến lớp đầy đủ nhưng ngủ, làm việc
riêng, nói chuyện mà không nghe giảng, nhóm thư hai cũng đi học đầy đủ , ghi
chép cẩn thận nhưng nghe giảng một cách thụ động, nghe một cách cứng nhắc
những gì thầy cô truyền đạt, nhóm thứ 3 là những sinh viên biết vận dụng đầu óc
chi tiết hơn.Trừu tượng hóa giúp chúng ta chắt lọc những kiến thức để giữ lại
những thuộc tính bản chất nhất, chung cho nhiều sự vật, hiện tượng, như vậy với
một lượng kiến thức lớn nhưng khi được qui về những thuộc tính bản chất nhất thì
sẽ rất ngắn gọn va dễ nhớ, dễ vận dụng. Khái quát hóa lại giúp chúng ta đưa những
sự vật hiện tượng riêng lẻ .Học các bộ môn Luật chuyên ngành, không sai khi phủ
nhận rằng mình phải nhớ rõ từng kiến thức nhỏ nhưng nếu chúng ta không biết
khái quát hóa thì rất khó để nhớ hết lượng kiến thức đó.
Quá trình tư duy cần được kết hợp nhiều thao tác tư duy như so sánh, phân tích,
tổng hợp, suy luận, trừu tượng hóa, khái quát hóa… để đạt hiệu quả tư duy cao.Ở
trường Luật, sinh viên học môn Dân sự sẽ được giao giải quyết một vụ việc trong
vai trò của một luật sư. Khi đó, sinh viên cân phân tích các tình tiết vụ việc, đồng
thời tìm kiếm những qui định pháp luât điều chỉnh vấn đề này, nghiên cứu chúng
và dùng khả năng suy luận để đánh giá đúng đắn vấn đề. Đôi khi có nhiều qui định
luật ta tìm được có sự chồng chéo trong ban hành thì cần có sự so sánh để sử dụng
11
đúng pháp luật điều chỉnh vấn đề đó. Sau đó thì nhất thiết phải tổng hợp các dữ
kiện để đi tới hướng giải quyết vụ việc.
C. KẾT LUẬN
Mỗi người trong xã hội đều có những suy nghĩ và cách tư duy khác nhau.
Trên đây là những phân tích về các đặc điểm tư duy của nhóm. Do thời gian có hạn
nên bài làm không thể tránh khỏi những thiếu sót, mong thầy cô đóng góp ý kiến
để bài làm của chúng em được hoàn thiện hơn.
12
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Giáo trình Tâm lý học đại cương,đại học luật hà nội.
2.Những câu chuyện nhỏ mang ý nghĩa lớn,Tôn Khải Thái
3. />ca-t-duy html