MỘT SỐ KĨ NĂNG LÀM VĂN NGHỊ LUẬN
A. Phân tích đề, tìm hiểu đề:
- Đọc kĩ đề, chú ý từng từ, khái niệm khó, nghĩa đen, nghĩa bóng của từ nhữ, nghĩa tường minh, nghĩa
hàm ẩn của câu, đoạn. Chia vế, ngăn đoạn, tìm hiểu mối tương quan giữa các vế: song song, chính
phụ, nhân quả, tăng tiến, đối lập
- Nhiệm vụ của phân tích đề là phải xác định cho được ba yêu cầu sau đây:
* Vấn đề cần nghị luận là gì? Có bao nhiêu ý cần triển khai? Mối quan hệ giữa các ý như thế nào?
* Sử dụng thao tác lập luận gì là chính? Đề học sinh giỏi thường yêu cầu sử dụng tổng hợp các thao
tác, nhưng còn tùy thuộc vào lĩnh vực kiến thức mà thiên về thao tác nào là chính. Nếu liên quan đến
tác phẩm thì chủ yếu phân tích - chứng minh, nếu liên quan đến lí luận văn học thì chủ yếu giải thích -
bình luận
* Vùng tư liệu được sử dụng cho bài viết: tác gia, trào lưu, giai đoạn, thời kỳ văn học; trong nước hay
thế giới.
Đây là nhiệm vụ đầu tiên trước khi làm bài có ý nghĩa quyết định đến chất lượng bài viết, thế nhưng
nhiều h.s. chưa ý thức được vai trò của khâu tìm hiểu đề này. Đôi khi h.s. có đầu tư đúng mức nhưng
vẫn không xác định đủ và đúng yêu cầu của đề ra. Bởi lẽ, ở dạng đề tường minh các em thường có
tâm lý chủ quan dẫn đến hiểu chưa đầy đủ yêu cầu và định hướng của đề bài, còn có lý do là kiến
thức nền tảng chưa vững chắc dẫn đến việc tổ chức lập luận còn lỏng lẽo, thiếu ý, thừa ý; ở dạng đề
hàm ẩn nếu thiếu đầu tư suy nghĩ thì việc xác định luận đề rất khó khăn, nếu không cẩn thận sẽ dẫn
đến tình trạng chệch hướng, thậm chí lạc đề. Vậy không nên phỏng đoán rồi viết ẩu. Cần phải đầu tư
thích đáng cho khâu này. Dạng đề hàm ẩn thường liên quan đến vấn đề lý luận, dĩ nhiên trên cơ sở
phân tích những tác phẩm cụ thể. Nếu đề có cách nói bóng bẩy thì phải xem xét nó thuộc lĩnh vực kiến
thức nào của lý luận văn học. Chung qui lại vẫn là phạm vi kiến thức mà ta đã học.
Ví dụ đề bài năm 1997- bảng B: "Văn học chân chính có khả năng nhân đạo hóa con người". Hãy bình
luận ý kiến trên.
Đề này đề cập đến chức năng giáo dục của văn học. Trên cơ sở hiểu biết về đơn vị kiến thức trên mà
tổ chức lập luận.
B. Lập dàn ý
Sau khi xác định được nội dung luận đề phải tổ chức lập luận, lập được dàn bài hợp lý là thỏa mãn
yêu cầu của đề bài. Khâu này tùy thuộc rất lớn vào kết quả phân tích đề. Nếu phân tích đề sai một ly
thì dàn bài sẽ đi một dặm. Ít nhất là các em phải vạch ra được những ý lớn, những luận điểm chính,
b. Thân bài: Triển khai nội dung theo hệ thống các ý lớn, ý nhỏ đã tìm.
c. Kết bài: Tổng kết nội dung trình bày, liên hệ mở rộng, nâng cao vấn đề.
Ví dụ đề bài năm 1997- bảng B: "Văn học chân chính có khả năng nhân đạo hóa con người". Hãy bình
luận ý kiến trên.
Đề này đề cập đến chức năng giáo dục của văn học. Trên cơ sở hiểu biết về đơn vị kiến thức trên mà
tổ chức lập luận.
- Nói văn học chân chính có khả năng nhân đạo hóa con người là nói đến ý nghĩa tác động tích cực
của văn học đối với người đọc, làm cho họ tốt hơn lên, biết sống nhân ái, nhân đạo. Khi đã nắm chắc
nôi dung luận đề thì tiến hành xác lập ý lớn. Đề trên có thể triển khai thành những luận điểm như sau:
1.Vì sao văn học lại có nhiệm vụ nhân đạo hóa? Do ý đồ sáng tạo của nhà văn, là chức năng cao cả
của văn học.
2.Văn học thực hiện nhiệm vụ nhân đạo hóa bằng cách nào?
- Đấu tranh vì một xã hội công bằng tốt đẹp.
- Giúp con người tự nhận thức, tự hoàn thiện đạo đức nhân cách, tự chọn lối sống cách sống đẹp
nhân ái.
- Đôi khi văn học giúp con người có lối sống nhân đạo bằng lời đề nghị trực tiếp.
3. Có phải chỉ có văn học mới có chức năng giáo dục con người hay không? Gia đình, nhà trường, xã
hội! Môn Giáo dục công dân v.v Vậy đặc thù của văn học là gì?
4. Ý nghĩa vấn đề: Đối với nhà văn. Đối với bạn đọc.
CÁC THAO TÁC LẬP LUẬN TRONG VĂN NGHỊ LUẬN
A. Khái niệm
Thao tác được dùng để chỉ việc thực hiện những động tác theo trình tự và yêu cầu kỹ thuật nhất định.
Thao tác lập luận là quá trình triển khai lí lẽ một cách lô gic nhằm phát hiện thêm một chân lí mới từ
chân lí đã có.
Phân biệt thao tác lập luận với các khái niệm khác:
- Yếu tố lập luận: lí lẽ, chứng cứ, kết luận
- Cách triển khai lập luận: diễn dịch, quy nạp, tổng - phân - hợp, nêu phản đề, so sánh, vấn đáp, phân
tích nhân quả.
- Phương tiện diễn đạt trong lập luận: miêu tả, tự sự, thuyết minh
B. Các thao tác lập luận
kĩ lưỡng nội dung và mối liên hệ bên trong của đối tượng.
Đối tượng phân tích trong bộ môn văn học: một nhận định, văn bản, tác phẩm, một phần tác phẩm,
nhân vật, các yếu tố cụ thể…
Tác dụng của phân tích là thấy được giá trị ý nghĩa của sự vật hiện tượng, mối quan hệ giữa hình thức
với bản chất, nội dung. Phân tích giúp nhận thức đầy đủ, sâu sắc cái giá trị hoặc cái phi giá trị của đối
tượng. Riêng đối với tác phẩm văn học, phân tích là để khám phá ba giá trị của văn học: nhận thức, tư
tưởng và thẩm mĩ.
Yêu cầu phân tích: phải nắm vững đặc điểm cấu trúc của đối tượng để chia tách một cách hợp lí. Sau
khi phân tích tìm hiểu từng bộ phận, chi tiết phải tổng hợp khái quát lại để nhận thức đối tượng đầy đủ,
sâu sắc và trình bày ngắn gọn.
2. Cách phân tích
- Khám phá chức năng biểu hiện của các chi tiết
Ví dụ 1: Trời thu xanh ngắt mấy từng cao
Cần trúc lơ phơ gió hắt hiu. (Nguyễn Khuyến)
Từ xanh ngắt gợi tả không gian trời thu cao xanh vời vợi, nền trời là một màu xanh ngăn ngắt. Màu
xanh này gợi tả được cảnh trong veo và thật im vắng, yên tĩnh. Cụm từ mấy từng cao đã diễn tả không
gian sâu thẳm vô cùng. Trên nền không gian bao la ấy, tác giả điểm xuyết một cành trúc. Từ láy lơ
phơ giàu sức tạo hình, gợi tả cành trúc khẳng khiu, thanh mảnh, nhẹ nhàng, thưa thớt lá, đang đong
đưa trong làn gió nhẹ của chiều thu. Nhờ cần trúc với dáng nét lơ phơ mà cảnh thu có vẻ đẹp duyên
dáng thơ mộng, thanh thoát.
Ví dụ 2: Bức tranh thiên nhiên Việt Bắc lơ lửng, trữ tình:
Trăng lên đầu núi, nắng chiều lưng nương
- Hình ảnh thơ chân thực, không gian gần gũi nhưng nhờ cách lựa chọn thời gian nên đã gợi tả được
phong cảnh tuyệt vời. Đó là thời điểm ngày đã hết, nắng chiều đã lưng nương nhưng lần lữa như
không muốn đi. Bóng hoàng hôn còn lưu luyến thì trăng đã nhô lên, đổ ánh sáng dịu dàng. Do đó cảnh
thung lũng có sự giao hòa ánh sáng của mặt trời và mặt trăng, thứ ánh sáng dịu dàng, trong trẻo của
trăng hoà với ánh sáng êm ả của hoàng hôn tạo ra một vừng sáng diệu kì như thực, như mơ. Chớp
lấy khoảnh khắc lạ lùng, Tố Hữu đã đem đến cho thiên nhiên Việt Bắc một vẻ đẹp bình dị, mộng mơ
làm say đắm lòng người.
- Dùng phép liên tưởng để mở rộng nội dung ý nghĩa
- Hiện thực gian khổ, thiếu thốn, mất mát hi sinh được thi vị hoá:
+ Nhớ đêm ra đi đất trời bốc lửa
Cả đô thành nghi ngút cháy sau lưng
Những chàng trai chưa trắng nợ anh hùng
Hồn mười phương phất phơ cờ đỏ thắm
Rách tả tơi rồi đôi giày vạn dặm
Bụi trường chinh phai bạc áo hào hoa.
(Chính Hữu - Đường về)
+ Đường ra trận mùa này đẹp lắm
Trường Sơn đông nhớ Trường Sơn tây.
(Phạm Tiến Duật)
- Quang Dũng đã lãng mạn hoá phẩm chất anh hùng của người chiến sĩ:
Rải rác biên cương mồ viễn xứ
Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh
Áo bào thay chiếu anh về đất
Sông Mã gầm lên khúc độc hành.
- Bức tranh thiên nhiên trong Mảnh trăng cuối rừng của Nguyễn Minh Châu được nhìn qua ánh mắt
mơ mộng của Lãm nên có vẻ đẹp thi vị, lãng mạn, bay bổng.
* - Cuối tác phẩm Rừng xà nu của Nguyễn Trung Thành là hình ảnh: cánh rừng xà nu bạt ngàn, đến
hết tầm mắt cũng không thấy gì khác ngoài những đồi xà nu nối tiếp đến chân trời.
> Sức sống của thiên nhiên ẩn dụ, biểu tượng cho sức sống mãnh liệt của cả dân tộc. Nó là cơ sở
cho niềm tin tất thắng ở tương lai. Cảm hứng lãng mạn có thể bắt gặp ở hầu hết các tác phẩm trong
thời kì văn học này.
- Biết đánh Pháp lúc đầu như “châu chấu đá xe” nhưng lãnh tụ hoàn toàn tin tưởng vào ngày mai:
Kháng chiến thành công ta trở lại
Trăng xưa hạc cũ với xuân này.
(Cảnh rừng Việt Bắc)
- Lên đường nhập ngũ, anh bộ đội mang theo niềm hi vọng lớn:
Cây si xanh gọi họ đến ngồi
Trong bóng rợp của mình, nói tới ngày mai.
của bài văn tế thông thường.
- Bài văn khắc họa được hình tượng con người VN tiêu biểu về phẩm chất yêu nước và anh hùng, thể
hiện tinh thần bất khuất và lẽ sống vì nước quên mình mang tính truyền thống của dân tộc VN.
- Bài văn có ý nghĩa cỗ vũ tinh thần kháng chiến mạnh mẽ ngay từ lúc nó ra đời.
V. So sánh
1. Khái niệm:
So sánh là một thao tác lập luận nhằm đối chiếu hai hay nhiều sự vật, đối tượng hoặc là các mặt của
một sự vật để chỉ ra những nét giống nhau hay khác nhau, từ đó thấy được giá trị của từng sự vật
hoặc một sự vật mà mình quan tâm.
Hai sự vật cùng loại có nhiều điểm giống nhau thì gọi là so sánh tương đồng, có nhiều điểm đối chọi
nhau thì gọi là so sánh tương phản.
Tác dụng của so sánh là nhằm nhận thức nhanh chóng đặc điểm nổi bật của đối tượng và cùng lúc
hiểu biết được hai hay nhiều đối tượng.
2. Cách làm
- Trước hết là cần xác định đối tượng nghị luận từ đó tìm một đối tượng tương đồng hay tương phản,
hoặc cần so sánh hai đối tượng cùng lúc
- Chỉ ra những điểm giống nhau giữa các đối tượng.
- Dựa vào nội dung cần tìm hiểu, chỉ ra điểm khác biệt giữa các đối tượng.
- Xác định giá trị cụ thể của các đối tượng.
Ví dụ 1: So sánh nghị luận về tư tưởng đạo lí và nghị luận về hiện tượng đời sống và cách làm bài.
Nghị luận về tư tưởng đạo lí và nghị luận về hiện tượng đời sống là hai dạng đề cụ thể của nghị luận
xã hội. Nghĩa là, bàn bạc để hiểu một cách thấu đáo cũng như vận dụng vấn đề nghị luận vào đời
sống và bản thân.Vấn đề đạo lí có tính chất truyền thống nhằm rèn luyện đạo đức nhân cách. Vấn đề
hiện tượng đời sống mang tính thời sự nóng hổi nhằm mục đich rèn luyện ý thức công dân. Đối tượng
nghị luận có khác nhau nhưng cách làm bài giống nhau
Phần mở bài ta nên tìm hiểu và nói rõ nguyên nhân vì sao xuất hiện vấn đề trên và giới thiệu đề bài
Phần thân bài ta làm lần lượt các ý sau
1. Giải thích chi tiết và tổng quát vấn đề nghị luận
2. Đưa dẫn chứng cụ thể đồng thời phân tích để thấy việc đúng / sai của vấn đề.
Nhận đinh khái quát việc đúng / sai, hoặc nửa đúng nửa sai của vấn đề. Khi lấy dẫn chứng bạn cần có
b. Bác bỏ luận cứ: Là vạch ra tính chất sai lầm, giả tạo trong lý lẽ và dẫn chứng được sử dụng.
c. Bác bỏ lập luận: Là vạch ra sự mâu thuẫn, không nhất quán, phi lôgíc trong lập luận của đối
phương.
* Lưu ý: Mục đích của bác bỏ là bảo vệ chân lí, xác nhận sự thật. Nếu xa rời mục đích chân lí thì sự
bác bỏ trở thành nguỵ biện, vô bổ và có hại.
Bài viết có bố cục như sau:
Đoạn 1: Xác định luận điểm cần bác bỏ.
Đoạn 2: Phân tích để thấy rõ thực chất của luận điểm.
Đoạn 3: Dùng luận cứ để bác bỏ luận điểm.
Ví dụ:
a. Nhất Chi Mai (Nhất Linh) phê bình Vũ Trọng Phụng, năm 1937.
Đọc xong một đoạn văn, tôi thấy trong lòng phẫn uất, khó chịu, tức tối.
Không phải phẫn uất, khó chịu cái vết thương xã hội tả trong câu văn, mà chính là vì cảm thấy tư
tưởng hắc ám, căm hờn nhỏ nhen ẩn trong đó.
Đọc văn Vũ Trọng Phụng, thực không bao giờ tôi thấy một tia hy vọng, một tư tưởng bi quan. Đọc
xong ta tưởng nhân gian là một nơi địa ngục và xung quanh mình toàn là những kẻ giết người, làm đĩ,
ăn tục, nói càn, một thế giới khốn nạn vô cùng.
Phải chăng đó là tấm gương phản chiếu tính tình, lí tưởng của nhà văn, một nhà văn nhìn thế giới qua
cặp mắt kính đen và một cội nguồn văn cũng đen nữa.
b. Vũ Trọng Phụng đã phản bác lại cùng năm đó, 1937.
Khi dùng một từ bẩn thỉu tôi chẳng thấy khoái trá như khi các ông tìm được một kiểu áo phụ nữ mới
mẻ, những lúc ấy, tôi chỉ thương hại cái nhân loại ô uế bẩn thỉu, nó bắt tôi phải viết như thế, và nó bắt
các ông phải chạy xa sự thực bằng những danh từ điêu trá của văn chương. Các ông quen nhìn một
cô gái nhảy là một phụ nữ tân thời, vui vẻ trẻ trung, hi sinh cho ái tình hoặc cách mạng lại gia đình.
Riêng tôi, tôi chỉ thấy đó là một người đàn bà vô học, chẳng có thị vị, lại hư hỏng, lại bất hiếu bất mục
nữa, lại có nhiều vi trùng trong người nữa. Tôi không biết gọi gái đĩ là nàng - chữ ấy nó thi vị lắm -
hoặc tô điểm cho gái đĩ ấy những cái thi vị mà gái đĩ ấy không có, đến nỗi đọc xong truyện người ta
chỉ thấy một gái đĩ làm gương cho thế gian noi theo!
Đó, thưa các ông, cái chỗ bất đồng ý kiến giữa chúng ta! Các ông muốn tiểu thuyết cứ là tiểu
thuyết. Tôi và các nhà văn cùng chí hướng như tôi, muốn tiểu thuyết là sự thực ở đời
(Lầu Hoàng Hạc)
Thôi Hiệu
Thôi Hiệu (704 - 754) là một trong những nhà thơ xuất sắc thời Đường. Hoàng Hạc lâu là bài thơ nổi
tiếng được truyền tụng xưa nay. Thắng cảnh lầu Hoàng Hạc ở huyện Vũ Xương, tỉnh Hồ Bắc gắn với
truyền thuyết người tiên là Tử An rồi Phí Văn Vi cưỡi chim hạc vàng đến nơi này. Tương truyền khi
xưa Lí Bạch có đi qua Hoàng Hạc lâu, thấy phong cảnh hữu tình, muốn phóng bút một vài câu thơ ca
ngợi nhưng chợt thấy bài Hoàng Hạc lâu khắc trên vách bèn ngửa mặt than rằng:
Nhãn tiền hữu cảnh đạo bất đắc
Thôi Hiệu đề thi tại thượng đầu .
Dịch
Trước mắt thấy cảnh không tả được
Vì Thôi Hiệu đã đề thơ trên đầu.
Lầu Hoàng Hạc toạ lạc ở địa điểm cao nên có thể nhìn bốn phương trời mênh mang và phía dưới là
dòng sông Dương Tử chảy về đông. Đứng trên lầu cao, cảm giác con người quá bé nhỏ trước vũ trụ,
trước không gian vĩnh hằng và thời gian chảy trôi vĩnh viễn. Do đó, bốn câu đầu gợi tả quang cảnh
chung nhưng cũng là suy niệm về phận người trước cái vô thủy vô chung:
Hạc vàng ai cưỡi đi đâu,
Mà đây Hoàng Hạc riêng lầu còn trơ.
Hạc vàng đi mất từ xưa,
Ngàn năm mây trắng bây giờ còn bay.
Nhắc đến tích xưa là chiêm nghiệm cái còn và cái đã mất.
Người tiên đã cưỡi chim thiêng mang cái đẹp đi rồi, bây giờ lầu Hoàng Hạc chỉ còn dấu tích của kỉ
niệm, đứng trơ trọi như cái xác không hồn. Nhìn lên bầu trời quang đãng chỉ thấy vầng mây trắng trôi
lơ lửng ngàn năm: Ngàn năm mây trắng bây giờ còn bay. Cảnh trong trẻo mênh mông mà cô quạnh
đã diễn tả cái trống vắng chơi vơi trong tâm hồn lữ khách. Bốn câu thơ nhưng có ba từ hoàng hạc, đây
là điểm kiêng kị trong thơ Đường nhưng phép điệp hình ảnh chim hạc bay đi (chỉ còn lại khoảng trời
trống vắng) đã diễn tả niềm luyến tiếc không nguôi cái đẹp đã mất. Tâm trạng hụt hẫng, nuối tiếc như
gởi vào bầu trời xanh mênh mông. Đoạn thơ còn suy niệm về lẽ mất còn và cái hữu hạn, bé nhỏ của
đời người trước sự trôi chảy của thời gian và không gian trời rộng sông dài.
Hạc vàng tượng trưng cho ẩn sĩ, cái đẹp cao khiết và bất tử. Mây trắng biểu tượng cho trinh bạch, yên
VIẾT ĐOẠN VĂN NGHỊ LUẬN
I. Đoạn văn nghị luận là gì? Vai trò của đoạn trong bài văn nghị luận.
II. Nội dung và hình thức
III. Kết cấu
IV. Cách trình bày
1. Diễn dịch
2. Quy nạp
3. Tổng - phân - hợp
4. Vấn đáp
5. Nêu phản đề
6. So sánh
7. Phân tích nhân - quả Đề nghị member gửi lại thông tin cá nhân để BQT cập nhật cho bài viế