Tìm hiểu phong cách thơ haiku của MATSUO BASHO, YOSA BUSON và KOBAYASHI ISSA - Pdf 30



4.1. Mục đích 4
4.2. Nhiệm Vụ 5
5. Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 5
6. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 5
6.1. Phương pháp tập hợp – Khảo sát tư liệu 5
6.2. Phương pháp phân tích – Tổng hợp 6
6.3. Phương pháp so sánh – Đối chiếu 6
6.4. Phương pháp hệ thống 6
7. CẤU TRÚC CỦA LUẬN VĂN 6
PHẦN NỘI DUNG 7
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT THƠ HAIKU 7
1. Nguồn gốc ra đời 7
2. Nội dung và hình thức nghệ thuật 9
3. Quá trình phát triển 10
CHƯƠNG 2: THƠ HAIKU CỦA NHÀ THƠ MATSUO BASHO 12
1. Cuộc đời và sự nghiệp cùa nhà thơ Matsuo Basho 12
1.1 Cuộc đời 12
1.2. Sự nghiệp sáng tác 14
2. Phong cách thơ haiku của Matsuo Basho 15
2.1. Cảm thức Sabi 15
2.2. Cảm thức Wabi 19
2.3. Cảm thức Aware 21 2.4. Cảm thức Karumi 23
CHƯƠNG 3: THƠ HAIKU CỦA NHÀ THƠ YOSA BUSON 26
1. Cuộc đời và sự nghiệp của nhà thơ Yosa Buson 26
1.1. Cuộc đời 26
1.2. Sự nghiệp sáng tác 28
2. Phong cách thơ haiku của Yosa Buson 28

Đất nước Nhật Bản có điều kiện địa lý khá đặc biệt so với nhiều
nước trên thế giới, là một quốc đảo có vị trí biệt lập. Trong quá khứ
xa xưa, nhờ vị trí đảo quốc đặc biệt của mình mà Nhật Bản tránh
được nhiều cuộc xâm chiếm đất đai giữa các nước láng giềng lục địa.
Nhật Bản là một quốc gia Đông Bắc Á duy nhất trực tiếp tiếp thu rất
nhiều từ Đông Á vá Đông Nam Á các nghề trồng củ, trồng lúa nước,
dệt vải, tín ngưỡng nữ thần…hình thành một đảo quốc luôn tạo ra
những chuỗi bất ngờ cho thế giới cả trong quá khứ lẫn hiện đại về
một nền văn hóa độc đáo của xứ sở Phù Tang.
Nhật Bản là một xứ sở huyền bí của Thần đạo với vô số các tập
tục và nghi lễ, với vẻ đẹp lãng mạn của những cánh hoa anh đào nở
rộ như những đám mây hoa, với những thiếu nữ duyên dáng trong tà
áo kimono truyền thống. Đây còn là xứ sở huyền thoại của những Võ
sĩ đạo, của những môn phái võ thuật nổi tiếng như: sumo, akido,
karate, judo… Một xứ sở của Thiền đạo và Trà đạo gắn liền với
những bài thơ haiku ngắn đến mức tưởng chừng như không thể ngắn
hơn được nữa. Độc giả sẽ rất đỗi ngạc nhiên bởi bên cạnh những bài
thơ haiku cực ngắn ấy là cả một quá trình dài với những bước thăng
trầm gắn liền với tên tuổi của nhiều nhà thơ nổi tiếng. Có bốn nhà
thơ được người đời tôn làm tứ trụ trong thơ haiku đó là: Matsuo
Basho, Yosan Buson, Kobayashi Issa và Masaoka Shiki. Mỗi nhà
thơ đều có những bút pháp, phong cách rất riêng, họ đã cùng nhau
đưa haiku lên đỉnh cao của nghệ thuật.
Thơ Haiku của Nhật Bản lan tỏa trên thế giới một cách trầm
lặng mà gây ra tiếng vang xa rộng như bước nhảy của một con ếch từ
trên bờ nhảy “tủm” xuống ao làm mặt nước xao động. Nó trở thành
một thể thơ đặc trưng của người Nhật trong mắt bạn bè quốc tế. 2

haiku. Đến ngày nay, thơ haiku được giới thiệu trên các trang báo
Tài hoa trẻ, Tạp chí Văn học, Báo Văn học và Tuổi trẻ hay sách viết 3

về văn học văn hóa Nhật Bản với các bài dịch thơ, bài viết của các
tác giả nổi tiếng ở Việt Nam như: Nhật Chiêu, Đoàn Lê Giang, Vĩnh
Sính, Thái Bá Tân…Trong số những người nghiên cứu về văn học
văn hoá Nhật Bản, Nhật Chiêu là người có đóng góp to lớn trong
việc chuyển tải tâm hồn Nhật đến người Việt. Ông đã xuất bản nhiều
sách về văn học văn hoá Nhật Bản như là: Nhật Bản Trong Chiếc
Gương Soi (NXB Giáo Dục – 2003), Thơ Ca Nhật Bản (NXB Giáo
Dục, 1998), 3000 Thế Giới Thơm (NXB Văn Nghệ – 2007 ), Văn
Học Nhật Bản Từ Khởi Thuỷ Đến 1868 (NXB Giáo Dục –
2002),…Ngoài ra còn một số nhà nghiên cứu khác như là: Lê Từ
Hiền – Lưu Đức Trung với tác phẩm: Haiku – Hoa Thời Gian (NXB
Giáo Dục – 2007), Lê Thiện Dũng đã dịch tác phẩm: Hài Cú Nhập
Môn (tác giả H.G Henderson, NXB Trẻ – 2002)…
Ngày nay trên các trang web cũng thấy xuất hiện một số bài viết,
trang tin đăng tải có liên quan đến thơ haiku. Đặc biệt là Trường Đại
Học Khoa Học Xã Hội và Nhân Văn Tp. HCM, khoa Đông Phương
học đã ấn hành và cho ra đời một quyển sách có ý nghĩa vào năm
2003 đó là cuốn “Nhật Bản trong thế giới Đông Á và Đông Nam Á”
trong đó thơ haiku Basho được coi là một phần linh hồn của văn học
văn hóa Nhật Bản.
Những vấn đề trên đã đưa đến một kết quả rất khả quan là nền
văn học Nhật Bản đang bước từng bước vào Việt Nam làm những
người yêu thơ đi vào nghiên cứu tìm hiểu thơ haiku. Ở các trường
Đại học sư phạm ở ngành Ngữ văn hay trường Đại học Khoa học Xã

3.2. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn chỉ đi sâu vào khảo sát các tác phẩm thơ của ba nhà
thơ Matsuo Basho, Yosa Buson và Kobayashi Issa để thấy được
phong cách sáng tác của từng nhà thơ. Các tác phẩm thơ ấy đã được
dịch sang tiếng việt bởi các dịch giả : Nhật Chiêu, Vĩnh Sính, Thái
Bá Tân,…
4. MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
4.1. Mục đích
Giới thiệu đến độc giả một cái nhìn toàn diện, một cách tiếp cận,
khám phá mới về thơ thơ Haiku. 5

Khám phá cái hay, cái đẹp của thơ ca Nhật Bản thông qua ba
nhà thơ tiêu biểu là Basho, Buson, Issa. Đồng thời, hiểu rõ hơn về
cuộc đời và sự nghiệp của ba nhà thơ trên.
Giúp người đọc nhận ra sự khác biệt trong phong cách sáng tác
của ba cây đại thụ trong dòng thơ haiku.
Khơi gợi lòng yêu mến thơ ca của mọi người đối với thơ haiku
nói riêng và văn học Nhật Bản nói chung. Tạo tiền đề cho mối quan
hệ hữu nghị, am hiểu lẫn nhau giữa hai quốc gia Việt Nam – Nhật
Bản.
4.2. Nhiệm Vụ
Tìm ra những nét đặc trưng tiêu biểu về phong cách sáng tác
của ba nhà thơ Matsuo Basho, Yosa Buson và Kobayashi Issa.
5. Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
Nếu đề tài nghiên cứu thành công luận văn sẽ:
Đóng góp vào kho tàng lí luận văn học hướng nhìn, một cách
khám phá mới về nội dung và cách sáng tác của thơ haiku.

hành hệ thống lại vấn đề và từ đó rút ra kết luận.
7. CẤU TRÚC CỦA LUẬN VĂN
Luận văn được chia bố cục theo các phần sau:

Phần mở đầu bao gồm: Lý do chọn đề tài, tổng quan nghiên cứu,
đối tượng và phạm vi nghiên cứu, mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu,
ý nghĩa của đề tài nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, cấu trúc
luận văn.

Phần nội dung: Được chia làm 4 phần như sau:
Chương 1: Khái quát thơ Haiku
Chương 2: Thơ haiku của nhà thơ Matsuo Basho
Chương 3: Thơ haiku của nhà thơ Yosa Buson
Chương 4: Thơ haiku của nhà thơ Kobayashi Issa

Phần kết luận

Tài liệu tham khảo

7

PHẦN NỘI DUNG

CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT THƠ HAIKU
Người dân xứ sở hoa anh đào thường tự hào đất nước mình là
“thi quốc”. Trong các thể thơ truyền thống của Nhật Bản, tanka và
haiku là tiêu biểu hơn cả. Đặc biệt, thơ haiku là thể thơ rất Nhật Bản,

Đây là bài thơ mà thần Susanoo làm tặng cho người vợ của
mình là nàng Kushinada. Theo H. H. Honda thì một bài tanka tựa
như “Hoa anh đào ẩm trong sương mờ mùa xuân”.
Từ thế kỷ XIV–XV, khi thơ tanka có dấu hiệu đi xuống, trên thi
đàn Nhật Bản xuất hiện thể thơ renga (liên ca). Renga cũng có nhịp
phách 5-7-5-7-7 như tanka nhưng tách thành hai phần 5-7-5 và 7-7
rõ rệt, số lượng câu không hạn chế. Thơ renga được giải thích như
sau:
Thơ renga là thơ xướng họa có từ rất lâu đời trong văn học Nhật.
Từ một bài tanka 31 âm tiết, 5 dòng được tách ra hai phần để cho
mọi người xướng thơ với nhau (phần ba câu đầu gọi là thượng cú,
phần hai câu sau gọi là hạ cú). Renga ra đời là như thế. Ví dụ như
một bài thơ trong Shui shu (Thập di tập, 997):
Qua rồi nửa đêm
Chờ nhau chi nữa
Cho thêm ưu phiền
Một tiểu thư đã gửi cho người tình của mình phần đầu bài tanka
với ba câu như trên với ý trách móc người yêu lỗi hẹn. Sau đó, người
ấy nhận được và làm tiếp phần còn lại thành một bài tanka trọn vẹn:
Muốn gặp em trong mộng
Nhưng rồi anh ngủ quên
Thực chất renga là trò chơi nối thơ của các nhà thơ tanka. Giới
quý tộc thời Heian rất thích lối sáng tác như thế. Sau này, trong bài
renga liên hoàn đoạn thơ khởi xướng phần thượng cú được gọi là
hokku (phát cú) và được viết với hình thức 17 âm tiết (5-7-5). Đến
thế kỉ XVI, công chúng yêu thơ Nhật Bản rất thích trò chơi nối thơ
nên renga trở nên phổ biến và bình dân hơn, thậm chí có nhiều bài
renga được làm với mục đích hài hước, châm chọc gọi là haikai no
renga, gọi tắt là haikai. Thể haikai do tầng lớp thị dân sáng tác với


của thiên nhiên. Tuy vậy, thiên nhiên trong thơ haiku thường là
những cảnh vật bình dị, nhỏ bé, tầm thường và dễ bị lãng quên như
chú ếch, con quạ, chú khỉ nhỏ bé, chim đỗ quyên, tiếng ve, đóa hoa 10

dại nở bên bờ suối, hòn đá… Hai đề tài nổi bật của haiku là thiên
nhiên và cuộc sống đời thường.
Về phương thức biểu hiện, do một bài thơ chỉ gồm 17 âm tiết
nên các thi sĩ haiku thường bắt đầu từ những điểm nhìn đơn lẻ, chớp
lấy một khoảnh khắc có thần của thực tại, đẩy lên đỉnh điểm của cảm
xúc và sáng tạo theo nguyên lý mùa và tính tương quan hình ảnh.
Trong một bài thơ haiku thường có một hình ảnh lớn (vũ trụ) tương
xứng với một hình ảnh nhỏ (đời thường). Haiku không mô tả cảm
xúc mà chủ yếu ghi lại sự việc xảy ra trước mắt. Nhà thơ ít dùng tính
từ và trạng từ làm hạn chế sự tưởng tượng của người đọc, vì thế,
haiku rất giàu sức gợi. Ở thơ haiku, ta bắt gặp bút pháp của tranh
thủy mặc, thiên về thần thái hơn là đường nét. Kết cấu bỏ lửng của
thơ haiku chính là cái hư không bảng lảng khó nắm bắt của tinh thần
Thiền tông.
3. Quá trình phát triển
Thơ haiku có một quá trình ra đời lâu dài và phát triển thật
mạnh mẽ. Thơ haiku ra đời từ thế kỉ XVI đến thế kỉ XVII, nó đạt tới
đỉnh cao với Basho. Sau Basho còn có rất nhiều nhà thơ đã chọn
haiku làm “con đường” để bước vào trong nghệ thuật, vào trong một
lối sống, vào một “đạo” và mang những triết lí sâu sắc gọi là “hài cú
đạo” (haikudo) hay “haiku no michi”. Đó là các nhà thơ Yosa Buson
(1716–1784), Kobayashi Issa (1762–1827), Masaoka Shiki (1867–
1902), Onitsura (1660–1738), Ryokan … Đối với họ sáng tác thơ

12

CHƯƠNG 2: THƠ HAIKU CỦA NHÀ THƠ MATSUO BASHO
1. Cuộc đời và sự nghiệp cùa nhà thơ Matsuo Basho
1.1 Cuộc đời
Matsuo Basho (松尾芭蕉, 1644–1694), thiền sư thi sĩ lỗi lạc
của thời Edo, ông sinh ngày 16 tháng 12 năm 1644 trong một gia
đình võ sĩ cấp thấp thời Tokugawa (1603–1868), ở thành Ueno thuộc
Iga (nay là huyện Mie), Basho lúc mới ra đời tên là Matsuo Kinsaku
(松尾,金作) lớn lên đổi tên thành Matsuo Munefusa (松尾宗房).
Năm 9 tuổi, ông vào lâu đài Ueno làm tùy tùng cho lãnh chúa và trở
thành bạn thân của Yoshitada, một người lớn hơn ông vài tuổi và là
con của trai của lãnh chúa. Hai người đã cùng nhau vui chơi, học tập
và làm thơ. Người thầy dìu dắt Yoshitada và Basho về thơ haiku là
Kitamura Kigin, nhà thơ và nhà bình thơ lừng danh lúc bấy giờ.

môn đệ khá giả là Sampu (Sam Phong) xây cho Thầy mình túp lều
để làm bạn với thiên nhiên. Basho trồng cạnh túp lều một bụi chuối
do môn đệ biếu, người đời gọi túp lều đó là Basho-an, tức Am Ba
Tiêu, và chẳng bao lâu họ gọi chủ nhân của túp lều đó là Basho
Sensei (Ba Tiêu Tiên Sinh). Chủ nhân của túp lều đắc ý với tên gọi
ấy nên đã lấy Basho làm bút hiệu.
Trong khoảng thời gian này, Basho tu tập Thiền dưới sự hướng
dẫn của Thiền sư Buccho (Phật Đỉnh) ở Choukeiji (Trường Khê Tự).
Năm 1682, Edo xảy ra trận hoả hoạn lớn, túp lều tranh của
Basho cũng chìm trong biển lửa , trắng tay giờ lại trắng tay, Basho
trở thành kẻ không nhà. Ý tưởng phiêu bạt chợt bùng dậy trong tâm
trí ông.
Tháng 5 năm 1683, Basho về lại Edo, môn đệ hợp sức dựng lại
cho ông túp lều nhưng giấc mộng hải hồ cứ thôi thúc ông từng ngày.
Mùa Thu năm 1684, Basho bắt đầu cuộc hành trình “gió biển
mây ngàn” của mình. Ông đi đến Thần cung Ise. Sau khi tham bái
ngôi đền nổi tiếng này, ông trở về cố hương viếng mộ mẫu thân.
Chuyến hành hương kế tiếp hướng về Kashima, Basho đến thăm
Thầy cũ của mình là Thiền sư Buccho. Sau đó ông đi ngắm hoa anh
đào ở núi Yoshino. 14

Ngay sau chuyến đi ngắn ngày ấy, Basho lại bỏ ra một năm trời
đi lang thang cùng thiên nhiên sông núi. Từ Edo đến bờ biển Suma.
Ông đến Sarashina để chứng kiến mùa trăng ở đỉnh Obasute.
Năm 1689, Basho cùng đệ tử Sora thực hiện chuyến đi nổi tiếng
đó là: hành trình lên miền Oku ở Đông Bắc của đảo Honshu – một
vùng thuở ấy còn hoang sơ, chưa có người khai phá. Basho phiêu bạt

Nhật kí hành trình Kashima (Kashima kiko, 1687)
Ghi chép trên chiếc túi hành hương (Oi no kubun, cập chi tiểu
văn, 1688)
Lối lên miền Oku (Oku no hoshomichi, áo chi tế đạo, 1689)
Áo tơi cho khỉ (sarumino, viên thoa, 1691)
2. Phong cách thơ haiku của Matsuo Basho
Haiku là một thể thơ đặc biệt ngắn gọn, xuất phát tự nhiên như
tiếng nói từ tâm đối cảnh trong khoảnh khắc của ngay lúc ấy, trong
đó thời gian và không gian cô đọng lại như khung cảnh hiện thực của
một bức ảnh, vì thế, thơ haiku hàm chứa nhiều nét thi vị Thiền.
Matsuo Basho đã đưa Thiền vào thơ đến mức tuyệt vời, ý thơ của
ông thanh thoát, bàng bạc những ảnh hưởng sâu xa của đạo Phật,
như thơ của một vị Thiền sư. Đó là những vần thơ cao nhã và nhàn
tản u tịch. Do ảnh hưởng của tư tưởng Thiền tông trong nhận thức
cuộc sống nên thơ haiku của Matsu Basho thể hiện những cảm thức
thẩm mỹ khác nhau như là: Sabi, wabi, aware và karumi. Từ những
cảm thức này, Basho đã hình thành phong cách riêng cho mình, được
gọi là Shofu (Tiêu Phong).
2.1. Cảm thức Sabi
Sabi (Tịch) là cảm thức nổi trội của thơ haiku và thể hiện tập
trung nhất tư tưởng của Thiền Tông. Sabi là linh hồn của tịch liêu, là
cảm thức về sự tĩnh mịch sâu xa của sự vật. Sabi là ý thức mỹ học
đầu tiên được phổ biến qua thơ waka của Fujiwara Shunzei (1114–
1204) vào cuối thời Heian và đầu thời Kamakura. Ý thức này được
các nhà thơ sau đó, đặc biệt là Basho, tiếp tục phát triển và định hình.
Trên thực tế, sabi đã trở thành khái niệm căn bản trong thơ Basho.
Cái cô tịch của sabi không phải là sự cô tịch của việc chia rẽ,
tách biệt, phân li. Sabi là cô đơn nhưng là “niềm cô đơn huy hoàng”,
là cảm thức hùng tráng chứ không phải cô đơn cá nhân, không mang


khát trở thành người đồng hành của nhà sư. Người lữ hành cô độc và
ánh trăng lẻ loi trên bãi cát đêm hoang vắng gợi lên một niềm cô liêu,
tịch mịch tận nơi sâu thẳm của tâm hồn, nhưng đó không phải là nỗi

1
Trích từ tác phẩm:Tập ký sự trong tay nải (Oi no Kobumi, 1688) của Matsuo Basho. 17

cô đơn u uẩn, xót xa mà là cảm xúc rợn ngợp trước vẻ đẹp dung dị
mà thanh cao về sự hợp nhất của con người và thiên nhiên.
Khi con người để lòng mình lắng sâu đến mức nhìn thấy cái vô
thường trong hữu hạn cuộc đời, có thể cảm nhận bằng các giác quan
cụ thể những thứ không tạo hình, không thanh sắc, lúc ấy, cả tâm
hồn và thể xác như chìm đắm vào sự tĩnh lặng và giao hòa tuyệt đối
với đất trời. Đó là cốt lõi của Thiền. Theo Thiền tông, khi lắng vào
niềm tĩnh tịch thì người ta sẽ lắng nghe được tất cả sự chuyển động
của vạn vật:
Shizuka sa ya Vắng lặng u trầm
Iwa ni shimiiru Thấm sâu vào đá
Semi no koe Tiếng ve ngân
Những hình ảnh trên của bài thơ vẽ nên một khung cảnh heo hút,
đìu hiu bởi tiếng ve kêu khắc khoải. Có gì mỏng manh hơn tiếng một
con ve ở tận sâu trong khu rừng vắng! Không gian yên tĩnh đến mức
thi sĩ có thể nghe thấy tiếng ve thấm sâu vào từng lớp đá, làm run rẩy
linh hồn đá cứng. Thật ra tiếng ve mùa hạ vốn dĩ rất ồn ã. Nhưng với
Basho, tiếng ve mùa hạ kia dường như đã rơi vào hư vô. Vượt lên
trên tất cả những thanh âm ồn ào hỗn độn, tâm hồn thi sĩ đã đạt đến
trạng thái tĩnh lặng hoàn mỹ, và sự yên tĩnh trong tâm hồn đã lan tỏa,

qua hình ảnh “cánh quạ ô trên cành héo hắt”. Giống như một bức
tranh mực Tàu với những nét điểm tinh tế, trầm buồn của chiều thu,
bài thơ vẽ nên một khung cảnh với những chi tiết đối lập, là hiện
thực tạo thành cái sâu thẳm vô hạn nhất của sabi. Cảm nhận về bài
thơ này, Henderson cho rằng: “Ở đây không chỉ đơn giản là phong
cảnh héo úa đậu xuống một chiều thu giống như hình bóng một con
quạ, nó còn là sự tương phản của thân hình đen muội, nhỏ xíu của
con quạ với bóng tối bao la vô định của buổi chiều hôm và với nhiều
điều khác nữa tuỳ người đọc”.
Trong thế giới phồn hoa chốn nhân gian, để lắng nghe được
thanh âm của tự nhiên người ta phải lắng hồn mình đến trạng thái
tuyệt tĩnh của sabi, nơi tâm hồn con người trở thành tấm gương
phẳng lặng soi chiếu vạn vật. 19

2.2. Cảm thức Wabi
Wabi (Đà) là một khái niệm của Phật giáo thiền tông, nói đến
sự cảm nghiệm về sự thanh bần an lạc, sự dung dị nhưng thanh cao
của cuộc sống con người và sự vật.
Cơ sở của wabi chính là bắt nguồn từ quan niệm của người
Nhật Bản “Vạn vật hữu linh”. Theo quan niệm đó, sự sống tồn tại
trong mọi thứ bao quanh con người, dù bé nhỏ hay to lớn, vô tri vô
giác hay có ý thức và cảm giác, đều là biểu hiện của sự sống. Nói
cách khác, tư tưởng “Vạn vật hữu linh” chính là thái độ trân trọng
cuộc sống thực tại. Điều này dẫn đến quan niệm chuộng sự cân bằng
hài hòa giữa con người và thiên nhiên, chuộng sự giản dị, thanh khiết,
mộc mạc, gần gũi. Đó cũng chính là cốt lõi của cảm thức wabi. Hay
nói cách khác, đó cũng chính là tinh thần Thiền tông, đưa con người

Chọn hoa nào
Làm gối?
Thật đẹp làm sao khi ta bắt gặp một người lữ hành sau chuyến
hành trình mệt lả, thong dong tìm một chỗ để ngã lưng trong khu
vườn cỏ đầy hoa, nhưng phân vân chẳng biết nên gối đầu lên loài
hoa nào. Cuộc đời bần hàn với cỏ là đệm, bầu trời là chăn và những
bông hoa làm gối ấy sao mà đẹp một cách thanh cao và thoát tục.
Đôi mắt không ngừng tìm kiếm vẻ đẹp cuộc sống của Basho
dường như không bao giờ bỏ qua bất cứ sự vật, hiện tượng nào. Dù
là một cách bướm sặc sỡ rập rờn buổi sớm mai đánh thức cánh đồng
đang say ngủ:
Chou no tobu Con bướm bay
Bakari nonaka no Làm cánh đồng thức dậy
Hikage kana Trời đầy nắng
Basho đều phát hiện và đưa chúng vào các vần thơ đẹp đẽ. Có
lẽ cũng chỉ ông mới thi vị hóa những cành dâu mục, làm cho chúng
có sức sống, có cảm xúc da diết:
Akikaze ni Gió thu
Orete kanashiki Buồn bã làm rơi
Kuwa no tsue Mấy cành dâu mục 21

Hồn thơ đa sầu đa cảm của ông nhìn thấy những điều quá đỗi bé
nhỏ và đơn sơ trong cuộc đời vô thường, và ông đồng cảm sâu sắc
với vạn vật:
Yuku haru ya Mùa xuân ra đi
Tori naki uo no Tiếng chim thổn thức
Me wa namida Mắt cá lệ đầy

cảm thâm trầm.
Đối với người Nhật, sự rơi rụng hay tàn héo của một bông hoa
đẹp hơn khi nó ở trạng thái bung nở, một âm thanh mơ hồ hay hơn
khi nó rõ ràng, vầng trăng bị mây che khuất một phần quyến rũ hơn
một vầng trăng tròn đầy viên mãn. Họ đánh giá cao những gì ở trạng
thái ban sơ, tinh khôi, không tồn tại lâu dài và không thể chạm tới.
Đó là cái Đẹp mong manh thấm đượm cảm thức vô thường của Phật
giáo.
Bài thơ sau của Basho là một ví dụ:
Yagate shinu Cái chết gần kề
Keshiki wa miyezu Mặc ai hay biết
Semi no koye Vẫn hoài tiếng ve
Đấy là xúc cảm trước cái đẹp của tiếng ve ngân vang điệp khúc
mùa hè. Tiếng ve tượng trưng cho sự sống. Còn cái chết sắp đến với
ve không là bi kịch mà đó là điều tự nhiên của sự sống và cái chết.
Khoảnh khắc sống và chết không là gì cả, là “vô thường”. Bi cảm
aware là thế đấy. Vì vậy, con người sống trên đời này cũng chỉ là hư
ảo, giữa sự sống và cái chết cũng không có gì phải bận tâm, nhẹ tựa
lông hồng. Trước cái chết của người bạn thân, Basho viết :
Iru tsuki no Trăng rơi rụng
Ato ha tsukue no Bốn gốc bàn quen thuộc
Yosu mi kana Còn lại mà thôi
Sự ra đi của người bạn thân là sự mất mát quá lớn nhưng nhà
thơ không hề nói đến từ “chết”, mà dùng những hình ảnh quen thuộc
để chỉ sự ra đi của bạn. Như vậy, đây là khúc ca bi ai về cái chết của
một người bạn. Ánh trăng đã rụng tức là đang nói đến cái chết nhưng
bốn gốc bàn quen thuộc vẫn còn hiện hữu nơi gốc nhà, tựa như tất cả
về người bạn ấy vẫn còn nơi thế gian. Đây không phải là bi kịch của

Trích đoạn Cuộc đời và sự nghiệp của nhà thơ Kobayashi Issa Tình yêu thương dịu dàng đối với loài vật nhỏ bé
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status