Hiệu quả kinh tế xã hội và bài học kinh nghiệm từ chính sách phát triển giáo dục các nước asean - Pdf 30


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HỒ CHÍ MINH
HIỆU QUẢ KINH TẾ - XÃ HỘI VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM
TỪ CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC CÁC NƢỚC ASEAN
ĐỀ TÀI NCKH CẤP CƠ SỞ
Mã số : CS 2002 - 23 - 23. Ngƣời thực hiện :
TS. Ngô Minh Oanh THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
2 - 2005
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HỒ CHÍ MINH
HIỆU QUẢ KINH TẾ - XÃ HỘI VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM
TỪ CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC CÁC NƢỚC ASEAN
ĐỀ TÀI NCKH CẤP CƠ SỞ
Mã số : CS 2002 - 23 - 23.


CHƢƠNG II: HIỆU QUẢ KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN GIÁO
DỤC ĐÀO TẠO VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM 17

2 I. Hiệu quả kinh tế xã hội của chiến lƣợc phát triển giáo dục - đào tạo 17
1. Về kinh tế. 17
2. Về mặt xã hội : 17
4. Về nguồn lực con ngƣời 19
II. Những hạn chế giáo dục ASEAN 20
III. Bài học kinh nghiệm 22
CHƢƠNG III. PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC - ĐÀO TẠO Ở MỘT SỐ NƢỚC ASEAN TIÊU
BIỂU 26
I. BRUNEI. 26
II. INDONESIA. 27
III. CỘNG HÒA DÂN CHỦ NHÂN DÂN LÀO 29
IV. MALAYSIA 33
V. PHILIPPINES. 38
VI. THAILAND. 46
VII. SINGAPORE 53
KẾT LUẬN 66
TÀI LIỆU THAM KHẢO 68
PHẦN PHỤ LỤC 79

3

A. PHẦN MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài :

2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề :
Trong những năm gần đây do bùng nổ nền kinh tế tri thức và nhân loại cũng đã nhận
ra tầm quan trọng của phát triển giáo dục - đào tạo, các nhà nghiên cứu giáo dục thế giới đã
quan tâm nghiên cứu tìm hiểu kinh nghiệm phát triển giáo dục của các nƣớc, nhất là những
nƣớc đạt đƣợc những thành tựu cao về kinh tế - xã hội. Ở nƣớc ta việc nghiên cứu kinh
nghiệm phát triển giáo dục thế giới nhất là những nƣớc phát triển gần gũi với chúng ta ở
Đông Nam Á nhƣ Singapore, Malaysia, Thailand, Brunei
Ngoài các cuốn sách viết về lịch sử giáo dục thế giới của nhà xuất bản giáo dục trên
các tạp chí nghiên cứu giáo dục, nghiên cứu Đông Nam Á, các cuộc hội thảo và các trung tâm
nghiên cứu đã có nhiều bài viết về giáo dục các nƣớc ASEAN nói chung và của từng nƣớc
thành viên cụ thể nói riêng. Có thể kể tên một số bài viết tiêu biểu nhƣ sau" :
- Chính sách Giáo dục - Đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực ở các nƣớc ASEAN trong
thời kỳ công nghiệp hóa của tác giả Hoa Hữu Lân và Trần Lan Hƣơng, Tạp chí nghiên cứu
Đông Nam Á số 4/1998
- Giáo dục đại học ở một số nƣớc Đông nam Á - Thực trạng và xu thế phát triển của
tác giả Trần Thị Vinh, Tạp chí nghiên cứu Việt Nam Đông nam Á, số 2 (15) 1994.
- Giáo dục đào tạo đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế ở các nƣớc ASEAN của tác giả
Hoàng Xuân Long , Tạp chí Cộng sản số 22 (11-1998).

5

- Một vài kinh nghiệm rút ra từ sự phát triển của giáo dục đại học ở Đông Nam Á của
tác giả Trần Văn Tấn, Kỷ yếu hội thảo khoa học, trung tâm Châu Á -Thái Bình Dƣơng, 1992.
- Kinh nghiệm phát triển nguồn nhân lực của các nƣớc Đông Nam Á, Giáo dục quốc
tế, Viện nghiên cứu giáo dục, ĐH Sƣ phạm TPHCM, tháng 5/2002.
- Giáo dục đại học ở các nƣớc Châu Á - Thái Bình Dƣơng và những vấn đề của Việt
Nam, Kỷ yếu hội thảo khoa học , Trung tâm nghiên cứu Châu Á - Thái Bình Dƣơng, 1992
- Dự báo về tình hình phát triển giáo dục trong các thập niên tới ở khu vực Châu Á -
Thái Bình Dƣơng của tác giả Đông Văn Quan, Kỷ yếu hội thảo khoa học, Trung tâm nghiên
cứu châu Á - Thái Bình Duơng, 1992.

tập trung giới hạn vấn đề nghiên cứu nhƣ sau :
- Về không gian : Chúng tôi chỉ tập trung chủ yếu nghiên cứu 4 nƣớc phát triển trong
ASEAN đó là Singapore, Malaysia, Thailand và Brunei - những nƣớc mà giáo dục - đào tạo
đã có tác động không nhỏ đến sự phát triển kinh tế xã hội, và đã mang lại hiệu quả thực sự.
Các nƣớc còn lại chúng tôn sẽ cung cấp tƣ liệu nhằm có sự đối sánh, làm bật lên ƣu
điểm của chiến lƣợc phát triển giáo dục của các nƣớc nằm trong phạm vi nghiên cứu. Riêng
Việt Nam chúng tôi không đƣa vào nội dung đề tài vì đã có quá nhiều công trình đề cập tới và
chúng ta cũng biết quá rõ về nền giáo dục của mình.
- Về thời gian : Chúng tôn cũng chỉ tập trung vào khoảng thời gian 30 năm cuối của
thế kỷ XX, tức là từ thập niên 70 trở đi. Đây là giai đoạn các nƣớc ASEAN có những bƣớc
đột phá trong chiến lƣợc phát triển giáo dục đào tạo và đã mang lại hiệu quả kinh tế xã hội to
lớn.
4. Phương pháp nghiên cứu :
- Trên quan điểm và phƣơng pháp luận chủ nghĩa Mác - Lê nin, tác giả sử dụng
phƣơng pháp lịch sử và phƣơng pháp logíc

7

để xem xét một cách khách quan và biện chứng quá trình phát triển và thành quả giáo dục của
các nƣớc ASEAN.
- Tác giả cũng sử dụng các phƣơng pháp nghiên cứu cụ thể của khoa học lịch sử và
phƣơng pháp nghiên cứu giáo dục để hoàn thành đề tài này.
5. Cấu trúc của đề tài :
Đề tài gồm có phần mở đầu, kết luận và ba chƣơng nội dung, phần phụ lục. Cụ thể
nhƣ sau :
Chƣơng I: Tổng quan về chính sách phát triển giáo dục các nƣớc Đông Nam Á.
I. Khái quát về điều kiện địa lí tự nhiên và lịch sử khu vực
Đông Nam Á
1. Điều kiện tự nhiên
2. Sơ lƣợc về lịch sử phát triển

B. PHẦN NỘI DUNG :
CHƢƠNG I: TỔNG QUAN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC CÁC
NƢỚC ĐÔNG NAM Á
I. Khái quát về điều kiện địa lý tự nhiên và lịch sử khu vực Đông Nam Á
1.Điều kiện địa lý tự nhiên :
Đông Nam Á là một khu vực trải dài trên một phần trái đất từ khoảng 92
0
đến 140
0

Kinh Đông, và từ khoảng 28
0
Vĩ Bắc, chạy qua Xích dạo lên 15
0
Vĩ Nam với trên 4 triệu
kilômét vuông.
Về địa lý hành chính, Đông Nam Á hiện nay gồm có 11 nƣớc : Việt Nam, Laos,
Cămpuchia, Thailand, Myanmar, Malaysia, Singapore, Indonesia, Malaysia, Philipines và
Brunei với dân số khoảng 500 triệu ngƣời.
Khu vực Đông Nam Á có vị trí địa lí rất quan trọng, từ lâu đã đƣợc coi là ngã tƣ
đƣờng, là cầu nối trên con đƣờng giao thƣơng buôn bán từ Nam Á và xa hơn là vùng Địa
Trong Hải với khu vực Đông bắc Á nhƣ các nƣớc Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên
Đông Nam Á năm trong khu vực "Châu Á gió mùa" có tài nguyên đa dạng và phong
phú.
Việc buôn bán giữa các khu vực với Đông Nam Á bằng đƣờng biển đã khá nhộn nhịp
từ thế kỷ II, các thuyền buôn của Ả Rập đã thƣờng xuyên đến Đông Nam Á để thu mua
nguyên liệu, các loại đồ gia vị.
2.Quá trình phát triển lịch sử :
Ngƣời ta đã phát hiện ra nhiều di chỉ khảo cổ học khẳng định ngay từ rất sớm Đông
Nam Á đã có con ngƣời sinh sống,


nƣớc là nhờ chú trọng phát triển giáo dục, đào tạo nguồn nhân lực cho sự nghiệp phát triển
kinh tế - xã hội.
II. Chính sách phát triển giáo dục các nước Đông Nam Á.
1. Quan điểm và các chính sách ƣu tiên phát triển giáo dục đào tạo :
Vào cuối thập niên 60 và đầu thập niên 70 của thế kỷ XX, phần lớn các nƣớc ASEAN
đều là những nƣớc có nền kinh tế nông nghiệp, trên dƣới 50% dân số đều sống dƣới mức
nghèo khổ. Chính phủ các nƣớc đều thấy đƣợc tầm quan trọng của giáo dục và đào tạo, coi
giáo dục đào tạo là một động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Bằng việc coi phát triển
giáo dục đào tạo là quốc sách hàng đầu để tạo khả năng tăng trƣởng kinh tế, tạo công ăn việc
làm, tăng thu nhập cho dân cƣ, xóa bỏ đói nghèo, tạo công bằng xã hội và phát triển bền
vững.
Bên cạnh chủ trƣơng ƣu tiên phát triển giáo dục đào tạo đƣợc thể hiện trong việc tăng
cƣờng đầu tƣ kinh phí, ngân sách cho giáo dục đào tạo luôn tăng hàng năm, các nƣớc
ASEAN ƣu tiên hàng đầu cho giáp dục phổ cập, đặc biệt là giáo dục tiểu học. Một số nƣớc
nhƣ Indonesia, Malayxia ngân sách giành cho giáo dục phổ thông chiếm đến trên 70% kinh
phí.
Chính phủ các nƣớc ASEAN đều quản lý chặt chẽ hệ thống giáo dục, đây là một cơ
chế để đảo bảo cho nhà nƣớc vừa thực hiện đƣợc chiến lƣợc và chính sách phát triển giáo dục
của mình vừa kiểm soát đƣợc hệ thống giáo dục, định hƣớng cho các cơ sở giáo dục phát
triển theo định hƣớng.
Ở Singapore, tất cả các cơ sở giáo dục đào tạo kể cả nhà nƣớc và tƣ nhân đều do Bộ
giáo dục quản lý. Tất cả các học sinh muốn nhập học ở bất kỳ cấp nào cũng đều phải qua sát
hạch kiến thức bằng một kỳ thi tuyển quốc gia.
Ở Malaysia, trƣớc năm 1990, hệ thống giáo dục - đào tạo đƣợc nhà nƣớc quản lý theo
chỉ tiêu sắc tộc. Tuy nhiên chính

12

sách này đã làm hạn chế số ngƣời trong độ tuổi vào học các cấp học, nhất ở ở độ tuổi từ 19

Định hƣớng của giáo dục của các nƣớc ASEAN là nhất thiết phải gắn mục tiêu giáo
dục với mục tiêu phát triển kinh tế của đất nƣớc, với trình độ công nghệ của từng giai đoạn,
từng lĩnh vực ngành nghề cụ thể. Vừa duy trì hệ thống giáo dục hàn lâm với giáo dục công
nghệ, nhấn mạnh đến kỹ năng thực hành, gắn việc đào tạo của nhà trƣờng với hoạt động của
các nhà máy, doanh nghiệp tạo điều kiện cho học sinh, sinh viên có điều kiện thâm nhập thực
tế từ đó có định hƣớng hoạt động của mình trong tƣơng lai. Định hƣớng gắn giáo dục đào tạo
với chiến lƣợc phát triển đất nƣớc, gắn với thực tiễn đã đƣợc nhà nƣớc và các xí nghiệp tạo
điều kiện tối đa nhƣ : xúc tiến một chƣơng trình về kinh nghiệm làm việc ngay từ khi còn
ngồi trên ghế giảng đƣờng, cho sinh viên làm việc ở các dự án phát triển cộng đồng, xí
nghiệp. Chƣơng trình này ngoài tác dụng gắn chặt giáo dục với cuộc sống lao động, rèn luyện
kỹ năng, vận dụng kiến thức vào thực tiễn, còn tạo ra một thái độ lao động đúng đắn, tôn
trọng lao động chân tay, ý thức về sự hòa đồng xã hội, đóng góp sức mình vào phát triển
quốc gia.
2. Cấu trúc hệ thống Giáo dục - Đào tạo :
Hệ thống giáo dục - đào tạo của các nƣớc ASEAN có giáo dục phổ thông, giáo dục
đại học và hệ thống trung học chuyên nghiệp và dạy nghề.
Về giáo dục phổ thông, phần lớn các nƣớc đều có hệ thống giáo dục 12 năm. Tuổi bắt
đầu đi học là 6 tuổi, trừ Mianmar là 5 tuổi và Indonesia là 7 tuổi. Có 3 nƣớc là Brunei,
Malaysia và

14

Singapore có hệ thống giáo dục phổ thống 13 năm. Hệ thống giáo dục phổ thông các nƣớc
đều dành cho chƣơng trình tiểu học một số năm chủ yếu từ 5 đến 6 năm, còn lại là chƣơng
trình dành cho phổ thông, trong đó phổ thông trung học (cấp 3) từ 2 đến 4 năm.
3. Đầu tƣ kinh phí, cơ sở vật chất và xậy dựng đội ngũ giáo viên.
Để thực hiện mục tiêu phát triển giáo dục - Đào tạo. Chính phủ các nƣớc ASEAN đã
đầu tƣ thích đáng ngân sách cho giáo dục đào tạo. Tỷ lệ ngân sách chi cho giáo dục các nƣớc
ASEAN tăng từ 2,5 % năm 1960 lên 3,7% GNP vào năm 1990 và 3,2 GNP vào năm 1993 -
1994. Và đến năm 1995 tỷ lệ này đã là 5,3% ở Malaysia, 4,2% ở Thailand.

giáo viên cống hiến hết sức mình cho việc dạy học.
4. Nội dung chƣơng trình và phƣơng pháp giáo dục :
Vấn đề nội dung chƣơng trình và phƣơng pháp giáo dục bao giờ cũng là một vấn đề
quan trọng trong chiến lƣợc phát triển giáo dục.
Trong nội dung chƣơng trình giáo dục bao giờ cũng phải có các bộ phận
2
:
- Giáo dục tri thức gồm những tri thức chung của nhân loại với nhiều bộ môn tƣ khoa
học cơ bản đến các tri thức kỹ thuật, thực hành và những tri thức về dân tộc nhƣ ngôn ngữ,
lịch sử, văn hóa.
- Giáo dục nhân văn và nghệ thuận bao gồm tất các các ngành khoa học và các ngành
nghệ thuật nào có khả năng phát triển con ngƣời một cách toàn diện, hài hòa trên nhiều mặt :
thể xác, tình cảm, nhận thức và hành động.
- Giáo dục "ý thức chung" : bao gồm những vấn đề chung của nhân loại nhằm xây
dựng một ý thức chung cho tất cả các dân tộc theo mô hình : "công dân thế giới" đã từng khởi
xƣớng từ những thế kỷ trƣớc. 2
Đông Vãn Quan. Kỷ yếu hội thảo "giáo dục đại học châu Á - Thái Bình Dƣơng. Trung tâm Châu Á - Thái
Bình Dƣơng, ĐH Sƣ Phạm TP. HCM. 1992. trang 71.

16

- Giáo dục môi trƣờng, giáo dục sức khỏe ngày càng có một vị trí quan trọng và thích
đáng trong chƣơng trình học.
Về phƣơng pháp giáo dục, các nƣớc ASEAN đã từng bị ảnh hƣởng bởi mô hình giáo
dục phƣơng Tây từ cuối thế kỉ XIX mang nặng tính suy diễn và giáo điều. Các trƣờng học
thƣờng đào tạo những cán bộ đa năng, trong lúc cơ cấu kinh tế cần chuyên môn hóa tức là
những ngƣời có chuyên môn sâu.

cho ngƣời lao động. Năng xuất lao động, tiền lƣơng ở các nƣớc ASEAN không ngừng đƣợc
tăng lên kéo theo thu nhập bình quân đầu ngƣời cũng tăng lên. Năm 1997, nếu nhƣ GDP bình
quân đầu ngƣời ở Nhật Bản là 23 440 USD và của Hàn Quốc là 12 390 USD thì GDP bình
quân đầu ngƣời của Singapore là 24 610 USD, Malaysia là 9 835 USD, Thailand là 8165
USD, và Indonesia là 4140 USD
Đây là những bằng chứng thuyết phục cho thấy hiệu quả cao của nền giáo dục đƣợc
đầu tƣ đúng mức mang lại.
2. Về mặt xã hội :

18

Phần lớn các nƣớc Đông Nam Á mặc dù đã có những bƣớc phát triển đáng kể nhƣng
sự cách biệt giữa các vùng miền vẫn còn rất lớn. Không chỉ có sự cách biệt về mức sống mà
còn có sự khác biệt rất lớn về trình độ dân trí, văn hóa. Từ thực trạng đó các nƣớc ASEAN đã
chứ trọng phát triển giáo dục đào tạo, hình thành mạng lƣới các trƣờng học từ tiểu học đến
đại học một cách rộng rãi, mang tri thức đến nhiều vùng miền khác nhau. Việc phát triển
trƣờng lớp đi đôi với với việc tăng cƣờng đầu tƣ đội ngũ, kinh phí, trang bị cơ sở vật chất cho
trƣờng học. Nhờ vậy trình độ dân trí ở các nƣớc ngày càng đƣợc nâng cao, nguồn nhân lực có
trình độ cao ngày càng nhiều, đáp ứng cho nhu cầu phát triển đất nƣớc.
Từ một nƣớc nghèo nàn lạc hậu, tỷ lệ dân số mù chữ cao nhƣng đến năm 1996, số
ngƣời biết đọc biết viết ở Malaysia đã đạt đến 89,3%. Tỷ lệ trẻ em đi học là 98,9% . Hàng
năm có khoảng 950 000 học sinh vào phổ thông trung học.
Ở Thailand tỷ lệ ngƣời biết chữ là 90%, năm 2000 Thailand đã phổ cập lớp 9 cho toàn
dân. Tuy nhiên tỷ lệ ngƣời biết đọc biết viết cao nhất Châu Á phải kể đến Philippines, chiếm
tới 94% vào năm 1994.
Các nƣớc nhƣ Singapore, Brunei, Laos, Myanmar cũ có những bƣớc phát triển đáng
kể.
3. Về văn hóa .
Trình độ dân trí ngày càng đựơc nâng cao, đời sống văn hóa tinh thần ngày càng đựơc
cải thiện và phát triển. Đời sống tinh thần luôn đƣợc thỏa mãn với các phƣơng tiện sống và

3
. 3
ASEAN và các nƣớc thành viên. trang 94

20

Nếu tính trên một kilômet vuông thì ở Singapore có nhiều nhà triệu phú hơn bất kỳ
nơi nào trên thế giới.
Ở Thailand do hệ thông đào tạo nghề và hƣớng nghiệp của bộ giáo dục có trách nhiệm
cung cấp đội ngũ lao động có tay nghề cao nên nguồn lực mà ngành giáo dục đào tạo cung
cấp nên đáp ứng đƣợc đòi hỏi cho xã hội. Cùng với chƣơng trình đào tạo nội bộ các công ty,
Thailand còn gửi đi đào tạo ở các nƣớc tƣ bản phát triển hay cho các công ty của Nhật, Mỹ tổ
chức tay nghề tại Thailand.
II. Những hạn chế giáo dục ASEAN
Ở Châu Á nói chung và các nƣớc ASEAN hiện nay tình trạng thất học vẫn còn phổ
biến, trở thành mối lo ngại của chính phủ các nƣớc : Theo bản báo cáo mới đây, dựa trên
phân tích dữ liệu giáo dục trong năm học 2000 - 2001 từ 22 quốc gia châu Á của Tổ chức
giáo dục Liên hiệp quốc (UNESCO) thì châu Á là khu vực chiếm phần lớn nhất trong số trẻ
em không đƣợc thụ hƣởng nền giáo dục.
Mặc dù tỷ lệ trẻ đƣợc học tập đã tăng nhƣng còn tới 46 triệu trẻ em trong độ tuổi tiểu
học ở khu vực châu Á không đƣợc đến trƣờng (trong đó có tới 28 triệu trẻ em gái) tức là
chiếm 45% tổng số trẻ em trên toàn thế giới không đƣợc đến trƣờng.
Nguyên nhân của tình trạng trên có thể do điều kiện dạy học khó khăn và bất cập
trong đào tạo giáo viên. Theo bản báo cáo này thì chất lƣợng giáo dục giữa các khu vực thuộc
châu Á rất khác xa nhau. Học sinh thuộc khu vực Đông Á nhận đƣợc tỷ lệ giáo viên tốt nhất
là 1 giáo viên /21 học sinh trong trƣờng tiểu học, trong khi đó ở Nam và Tây Á thì tỷ lệ trên
là 1/40.

lúc đó chƣơng trình đào tạo đƣợc soạn theo hƣớng dân tộc chủ nghĩa. Tiêng Indonesia đƣợc
sử 4
Thanh Anh. Háo Giáo dục thời đại. số 52

22

dụng làm ngôn ngữ chính nên tiếng Anh của sinh viên thƣờng yếu kém hơn sinh viên các
nƣớc khác. Mặt khác nội dung chƣơng trình và phƣơng pháp học tập còn nhiều bất cập, chƣa
thực sự thu hút sinh viên và phụ huynh học sinh. Do đó hàng ngàn gia đình đã gửi con em
của mình ra nƣớc ngoài để học tập.
Ở Malaysia, xu hƣớng du học cũng rất phổ biến, số học học sinh du học chiếm tỉ lệ
cao trên số dân so với các nƣớc trong khối ASEAN khoảng hơn 50 nghìn ngƣời.
Trong nhiều thập kỷ qua các chuyên gia nƣớc ngoài đến công tác và giảng dạy tại các
nƣớc Đông Nam Á đều nhận xét và phê phán cách học thụ động, sao chép và ngại đặt câu hỏi
của sinh viên Đông-Nam Á
5
.
Những hạn chế trên đây đã làm cho sự nghiệp giáo dục các nƣớc ASEAN không thể
phát triển một cách toàn diện, và không đáp ứng đƣợc vai trò to lớn của mình đối với sự
nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của đất nƣớc. Hiện nay các nƣớc ASEAN cũng đang xem
xét lại chính sách phát triển giáo dục của mình nhằm rút ra những bài học kinh nghiệm cho
thời gian tới.
III. Bài học kinh nghiệm
1. Nhận thức đúng vị trí và tầm quan trọng của giáo dục đào tạo, coi giáo dục là quốc
sách hàng đầu.
Trong những năm thập kỉ sáu mƣơi và đầu thập kỉ bảy mƣơi tình hình kinh tế - xã hội
các nƣớc ASEAN đều ở trong tình trạng lạc hậu và kém phát triển. Chính phủ các nƣớc

4. Đa dạng hóa mô hình đào tạo, khuyến khích cả khu vực nhà nƣớc và tƣ nhân,
trƣờng tƣ và trƣờng công, huy động nguồn lực trong nƣớc và nƣớc ngoài, đào tạo tại chỗ và
gửi đi đào tạo, đa dạng hóa loại hình trƣờng lớp.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status