Lời nói đầu
Tăng trởng kinh tế và công bằng xã hội là những vấn đề gay cấn trong
nền kinh tế thị trờng đặc biệt là thị trờng tự do.Kinh tế thị trờng tuy mới bắt
đầu phát triển ở Việt Nam nhng đã bộc lộ cả những u điểm lẫn những mặt trái
của nó trong nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội.Muốn cho đất nớc phát triển
lâu bền,muốn đạt đợc sự tiến bộ xã hội vững chắc phải giải quyết và xác lập đ-
ợc mối quan hệ cân đối, hài hoà giữa nhân tố kinh tế và nhân tố xã hội , giữa
phát triển kinh tế và giải quyết các vấn đề xã hội .Mục tiêu ''dân giàu, nứơc
mạnh, xã hội công bằng ,văn minh'' càng đòi hỏi nh vậy.Vì thế, văn kiện đại
hội Đảng toàn quốc lần thứ VII đã nhấn mạnh''hiệu qủa kinh tế xã hội là
tiêu chuẩn quan trọng nhất của sự phát triển ''
Nhận thức đợc tầm quan trọng của việc giải quyết mội quan hệ biện
chứng giữa tăng trởng kinh tế và công bằng xã hội nên em đã lựa chọn đề tài''
Mối quan hệ giữa tăng trởng kinh tế và thực hiện công bằng xã hội trong thời
kỳ phát triển kinh tế Việt Nam 2001-2010''.
Kết cấu bài viết bao gồm 3 chơng:
Chơng I:Sự cần thiết khách quan phải giải quyết mội quan hệ giữa tăng tr-
ởng kinh tế và phúc lợi xã hội
Chơng II:Thực trạng về mối quan hệ giữa tăng trởng kinh tế và phúc lợi
xã hội ở Việt Nam trong thời gian qua.
Chơng III:Phơng hớng và các giải pháp cơ bản giả quyết mối quan hệ
giữa tăng trởng kinh tế và phúc lợi xã hội thời kỳ 2001- 2010.
Do phạm vi nghiên cứu của đề tài khá rộng, thêm vào đó kiến thức và sự
hiểu biết còn hạn chế nên đề tài không tránh khỏi những sai sót. Em rất mong
đợc sự đóng góp ý kiến bổ sung những thiếu sót của thầy cô giúp em hoàn
thiện đề tài.
Em xin chân thành cảm ơn sự hớng dẫn tận tình của thầy giáo Nguyễn
Văn ký đã giúp đỡ em hoàn thành bài viết này
1
Chơng I:
Sự cần thiết khách quan phải giải quyết mối
1.2.2.Chỉ tiêu đánh giá tăng trởng kinh tế .
Để đánh giá chính xác về tăng trởng kinh tế thờng dùng 2 chỉ tiêu quy mô
và tốc độ tăng trởng kinh tế.
Mức tăng trởng kinh tế phản ánh quy mô tăng trởng kinh tế nó cho biết
nền kinh tế tăng trởng nhiều hay ít.
Y= Y
t
-Y
0
.
Trong đó
Y
t
:thu nhập quốc dân của năm t.
Y
0
:thu nhập quôc dân cuả năm gốc.
Tăng trởng kinh tế cũng có thể tính bằng mức gia tăng tơng đối (g=Y
t
/
Y
0
)
Xác định tốc độ tăng trởng kinh tế sẽ cho biết nền kinh tế tăng trởng
nhanh hay chậm.
Để so sánh, xếp loại mức độ tăng trởng của các nớc , Liên Hợp Quốc và
Ngân Hàng Thế giới sử dụng chỉ tiêu mức thu nhập quốc dân bình quân đầu
ngời(GNP/ngời).Chỉ tiêu này phản ánh mức thu nhập bình quân đã đợc điều
chỉnh theo sự biến động của dân số, phản ánh khả năng đảm bảo nhu cầu vật
chất cho ngời dân.
Chỉ số HDI đợc đa ra để so sánh trình độ phát triển của các nớc đã làm
đảo lộn vị trí của nhiêù nớc so với xếp hạng theo chỉ tiêu GNP/ngời .Chỉ số
HDI đã chỉ rõ, nhiều nớc có thu nhập cao,nhng do chính sách kinh tế xã hội
không chú ý đến việc nâng cao dân trí một cách thích đáng, nên vị trí của các
nớc đó xếp theo HDI lại giảm, còn một số nớc khác tuy thu nhập thấp hơn nh-
ng giáo dục ,y tế đợc chú ý phát triển, nên vị trí xếp hạng theo HDI lại tăng
lên.
4
Một vấn đề khác cũng cần đợc xem xét là nhu cầu về bình đẳng tròng xã
hội trớc hết là bình đẳng trong thu nhập.Thực tế cho thấy, ở nhiều quốc gia,sau
một thời gian mặc dù có tốc độ tăng trởng kinh tế rõ rệt, nhng đời sống của
nhiều ngời dân vẫn ở mức nghèo khổ , thất nghiệp gia tăng và ở một số nớc
đông dân hầu nh không đợc hởng thành quả do tăng trởng kinh tế đem lại
trong khi nhóm ngời gíàu có vẫn tiếp tục giàu lên.Rõ ràng tăng trởng là điều
kiện cần nhng cha đủ để cải thiện đời sống vất chất và các vấn đề xã hội cho
nhân dân.
3.Quan hệ khách quan giữa tăng trởng kinh tế và phúc lợi xã hội .
Đặc điểm cơ bản có tính quy luật của mối quan hệ giữa phát triển kinh tế
và giải quyết các vấn đề xã hội trong nền kinh tế thị trờng là sự thống nhất
trong mâu thuẫn giữa mặt kinh tế và mặt xã hội.Trong mối quan hệ này,nếu
quá nhấn mạnh đến sự thống nhất mà bỏ qua xem nhẹ mâu thuẫn hoặc ngợc lại
quá đề cao mâu thuẫn mà không thấy đợc sự thống nhất, đều là phiến diện dẫn
đến sai làm và cản trở đến quá trình phát triển.
Sự thống nhất ngay trong mục tiêu của phát triển kinh tế và giải quyết các
vấn đề xã hội.Mục tiêu của phát triển kinh tế là tăng trởng kinh tế, hiệu quả
kinh tế, tăng GDP.Mục tiêu của giải quyết các vấn đề xã hội là ổn định và bảo
đảm an toàn xã hội, thực hiện công bằng xã hội và mục tiêu xã hội có sự thống
nhất trong mục tiêu tổng quát :tất cả đều vì con ngời, cho con ngời vì sự phát
triển và tiến bộ xã hội.Do đó mọi chính sách kinh tế và chính sách xã hội đều
hớng vào mục tiêu trọng tâm là phát triển con ngời, phát huy nhân tố con ngời
ớc phải có những chính sách xã hội để giải quyết.
Phúc lợi xã hội tạo ra sự cân bằng cần thiết giúp những ngời đang trong
hoàn cảnh khó khăn,chịu thiệt thòi có cơ hội vơn lên để có cuộc sống nh
những ngời bình thờng.Đây không chỉ đơn thuần là vấn đề phân phối thuộc
lĩnh vực kinh tế mà còn có ý nghĩa về chính trị xã hội hết sức sâu sắc,là yếu tố
cần thiết cho sự ổn định vững chắc của một cộng đồng xã hội.Tăng trởng kinh
tế tạo tiền đề cho sự phát triển của phúc lợi xã hội và ngợc lại phúc lợi xã hội
là nhân tố cực kỳ quan trọng tác động trở lại đến sự phát triển kinh tế,là thớc
đo của sự công bằng ổn định của đất nớc.
II.Quan điểm của Đảng và nhà nớc ta về giải quyết tốt mối quan hệ
giữa tăng trởng kinh tế và phúc lợi xã hội .
6
Vấn đề kết hợp tăng trởng kinh tế đi đôi với công bằng xã hội đã đợc
Đảng và nhà nớc hết sức quan tâm.Xuất phát từ quan niệm mới về chủ nghĩa
xã hội về mối quan hệ giữa tăng trởng kinh tế và công bằng xã hội ,tăng trởng
kinh tế đợc coi là sự phát triển cơ bản để phát triển bản thân nó , là một tiêu
chí của sự tiến bộ xã hội.Trong khi đó công bằng xã hội là đích cuối cùng , là
mục tiêu chúng ta cần vơn tới.
Nhiều năm trớc cơ chế tập trung, bao cấp tạo ra sự công bằng theo hớng
san đều mức thu nhập đã không kích thích đợc sự tăng trởng kinh tế.Ngợc lại,
sự cào bằng đã làm cho nền kinh tế bị trì trệ bởi nó thủ tiêu mất động lực của
sự lao động nỗ lực và sáng tạo.Nh vậy sự phát triển của chế độ phúc lợi xã hội
đã vợt quá khả năng của nền kinh tế cho phép.
Khi nớc ta chuyển sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần,vận hành
theo cơ chế thị trờng có sự quản lý của nhà nớc theo định hớng xã hội chủ
nghĩa,nhiều chính sách phúc lợi trớc đay không còn phù hợp.Tuy nhiên do nền
kinh tế thị trờng còn quá mới mẻ đối với nớc ta nên trong quá trình đổi mới
còn nảy sinh một số quan điểm trái ngợc nhau.Một quan điểm cho rằng muốn
tăng trởng kinh tế chỉ cần thực hiện tốt chính sách phúc lợi xã hội không tính
đến khả năng của nền kinh tế.Quan điểm thứ hai lại cho rằng muốn tăng trởng
ởng kinh tế với một tốc độ nhất định để giaỉ quyết các vấn đề xã hội.Đồng thời
tăng trởng kinh tế phải gắn liền với công bằng và công bằng ngay tùng bớc và
trong suốt quá trình phát triển kinh tế xã hội của đất nớc. Nhìn một cách tổng
quát thì đó là nhân tố quyết định đảm bảo giữ vững định hớng xã hội chủ nghĩa
cuả công cuộc đổi mới, là giải pháp cơ bản dể hạn chế mặt trái của cơ chế thị
trờng, là cơ sở để tạo nên sự đồng thuận xã hội rộng lớn cho phát triển .
III.Kinh nghiệm nớc ngoài và sự vận dụng vào Việt Nam về giải
quyết mối quan hệ giữa tăng trởng kinh tế và phúc lợi xã hội .
1.Kinh nghiệm nớc ngoài trong giải quyết mối quan hệ giữa tăng trởng
kinh tế và phúc lợi xã hội .
Thực chất trong việc giải quyết mối quan hệ này là chúng ta phải trả lời
đợc hai câu hỏi:
Thứ nhất, ai đợc hởng lợi ích từ tăng trởng kinh tế , tức là tăng trởng kinh
tế có đi đôi với công bằng xã hội hay không?
8
Thứ hai, tăng trởng kinh tế có đi đến sự phát triển bền vững hay không?
Trong hai thập kỷ qua các nớc Đông Nam á đợc coi là thần kỳ không chỉ
vì đạt mức độ tăng trởng cao mà còn vì gắn đợc tăng trởng kinh tế và công
bằng xã hội và giảm mạnh đói nghèo .
Trớc hết hãy xem xét trờng hợp của Hàn Quốc. Hàn Quốc có mức độ tăng
trởng kinh tế cao với những biện pháp rõ ràng để giảm bớt nghèo khổvà thoả
mạn những nhu cầu cơ bản. Mô hình phát triển của Hàn Quốc có tính chất hợp
lý hơn so với thực tế ở nhiều nớc đang phát triển khác. Bởi vì tài sản đặc biẹt là
đất đai đợc phân phối tơng đối bình đẳng trớc khi bắt đầu có sự tang trởng
nhanh. Sau khi thoát khỏi sự thống trị của Nhật Bản đến năm 1960 tăng trởng
kinh tế bắt đầu tăng nhạnh thu hút nhiều lao động, hệ thống giáo dục đảm bảo
cho tất cả các trẻ em, trình độ phổ cập ngày càng đợc nâng cao. Tăng trởng
kinh tế đã góp phần giảm nhạnh sự nghèo khổ, đồng thời hỗ trợ cho sự công
bằng và bất bình đẳng gia tăng trong quá trình phát triển, đặc biệt những năm
70 nổi lên vấn đề thiếu lao động lành nghề, nhng mức độ bình dẳng vẫn thấp
đáng kể trong việc tạo ra một nèn kinh tế hiện đại, một vài ngành công nghiệp
và thành phố có thể so sánh với các nớc phát triển . Ngoài sự nổi tiếng về một
số ngành công nghiệp và đo thị Braxin cũng tạo ra đợc những tiến bộ quan
trọng trong nông nghiệp, nh sự phát triển của đậu tơng một loại cây công
nghiệp xuaats khẩu chính bên cạnh cây cà phê và các sản phẩm truyền thống
khác nhng sự tăng trởng kinh tế của Braxin là không vững chắc không đồng
đều.Tất cả ngời dân ở phía Đông Bắc hầu nh không đợc hởng thụ lợi ích từ sự
tăng trởng, ngay cả những thành phố lớn hiện đại ở phía Nam cũng có nững
khu ổ chuột đáng kinh sợ, đôi khi liền kề với những khu kiến trúc mới, xa hoa.
Mức độ bất bình đẳng của Braxin là rất cao và có ít tiến bộ trong việc giảm bớt
nghèo khổ, mặc dù tăng trởng kinh tế nhanh.
2.Bài học rút ra và sự vận dụng vào Việt Nam.
Qua phân tích mô hình của Braxin, Liên Xô hay các nớc Đông á và thực
tế nớc ta đã trải qua thời kỳ kế hoạch hoá tập trung bao cấp. Đảng ta thấy đợc
những mặt hạn chế của việc coi trọng tăng trởng kinh tế mà bỏ quên vấn đề
phúc lợi xã hội và nếu nh chỉ tập trung giải quyết vấn đề xã hội thì cha đủ bởi
vì không có tăng trởng kinh tế thì không đủ nguồn lực chi cho hoạt động phúc
lợi xã hội . Đây là mối quan hệ biện chứng có tính hai mặt, vừa thốnh nhất vừa
10
mâu thuẫn. Để lựa chọn mô hình cho Việt Nam, Đảng ta nhấn mạnh:' Tăng tr-
ởng kinh tế phải gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội trong từng bớc và
suốt quá trình phát triển.Công bằng xã hội phải thể hiện cả khâu phân phối hợp
lý t liệu sản xuất lẫn cả khâu phân phối kết quả sản xuất, ở việc tạo điều kiện
cho mọi ngời có cơ hội phát triển và sử dụng tốt năng lực của mình".
11
Chơng II: Thực trạng về mối quan hệ giữa tăng
trởng kinh tế và phúc lợi xã hội ở Việt Nam trong
thời gian qua.
I.Thực trạng tăng trởng kinh tế và phúc lợi xã hội ở Việt Nam
1.Tăng trởng kinh tế thời kỳ đổi mới.
Bớc vào kế hoạch 1996-2000, Việt Nam có những thuận lợi cơ bản là:thế
và lực của đất nớc đã tăng nên đáng kể sau 15 năm thực hiện đờng lối đổi mới
cơ chế thị trờng đang đợc hình thành sự quản lý của nhà nớc đã có nhiều bài
học kinh nghiệm. Song thời kỳ này chùng ta cũng gặp không ít khó khăn nh
yêu cầu đặt ra lớn trong khi tiềm lực đất nứơc có hạn đặc biệt là ngân sách
thiếu hụt, nợ nớc ngoài gia tăng thêm vào đó là ảnh hởng của cuộc khủng
hoảng tài chính tiền tệ năm 1997 đã tác động xấu đến nền kinh tế Việt
Nam.Tuy vậy hai năm 1996-1997 tình hình kinh tế vẫn tăng trởng chuyển biến
theo chiều hớng tích cực .Tổng sản phẩm quốc nội năm 1996 tăng 9,3% năm
1997 là 9% ;riêng năm 1999 có sự giảm sút nghiêm trọmg xuống còn 4,8%.
Tốc độ tăng GDP trung bình hàng năm thời kỳ 1996-2000 khoảng 7%
Năm Dân số(triệu ngời) Tăng GDP(%) GDP/ngời(%)
1990 66,23 5,1 3,24
1991 67,77 6,0 3,54
1992 69,41 8,6 6,39
1993 71,03 8,1 5,82
1994 72,51 8,8 6,61
1995 74,00 9,5 7,35
1996 75,52, 9,3 7,2
1997 77,08 9,0 7,0
Biểu 2:dân số, tốc độ tăng trởng kinh tế (GDP vf GDP/ngời)
Cơ cấu của nền kinh tế đã có sự chuyển dịch rõ rệt nhất là cơ cấu
ngành:tỷ trọng công nghiệp và xây dựng giai đoạn 1991-2000 tăng từ 22,7%
lên 36,6%; dịch vụ từ 38,6% lên 39,1%; và nông nghiệp từ 38,7% giảm xuống
13