Giáo viên
Giáo viên
:
: Đơn Vị:
Năm Học: -
PHẦN A. ĐẶT VẤN ĐỀ
I. Lý do chọn đề tài.
Đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động,
sáng tạo của học sinh là yêu cầu bức thiết của toàn xã hội và là yếu tố quyết định
trong nền giáo dục nước nhà trong thời kỳ hội nhập hiện nay.
Mục tiêu cơ bản mà ngành giáo dục hướng tới trong việc đổi mới phương
pháp dạy học là hình thành ở học sinh những kiến thức, kĩ năng, thái độ mà gọi
chung đó là năng lực.Việc phát triển tư duy cho học sinh luôn là một trong những
ưu tiên hàng đầu của mục tiêu giáo dục. Để hướng học sinh có cách thức học tập
tích cực và tự chủ, giáo viên không chỉ cần giúp các em khám phá kiến thức mới
mà còn giúp các em hệ thống được những kiến thức đó. Việc xây dựng một
phương pháp học tập thể hiện được mối liên hệ giữa các kiến thức sẽ mang lại
những lợi ích về các mặt: ghi nhớ, nhận thức, tư duy, sáng tạo, mà một trong
những công cụ mang lại được các mặt trên đó chính là bản đồ tư duy.
Chương trình Hóa học lớp 12 có nhiều bài dài, nội dung lí thuyết nhiều vì
vậy mà đối với học sinh của TTGDTXTP nhìn chung ít hứng thú học tập do đặc
điểm của học sinh GDTX đầu vào có chất lượng rất thấp, đa số các em không bị
hổng kiến thức, một số em thì lại phải vừa đi làm ,vừa đi học nên không có nhiều
thời gian học bài nên khả năng tiếp thu kiến thức rất khó khăn. Qua trải nghiệm sử
dụng các phương pháp mới trong dạy học tôi nhận thấy rằng việc sử dụng bản đồ
tư duy sẽ khắc phục được những hạn chế đó.
Khi sử dụng bản đồ tư duy giáo viên sẽ có cơ hội tiếp xúc với học sinh nhiều
não như hình ảnh. Màu sắc mang đến cho bản đồ tư duy những rung động cộng hưởng, mang
lại sức sống và năng lượng vô tận cho tư duy sáng tạo”.
Bản đồ tư duy một công cụ tổ chức tư duy nền tảng, có thể miêu tả nó là một kĩ thuật
hình họa với sự kết hợp giữa từ ngữ, hình ảnh, đường nét, màu sắc phù hợp với cấu trúc, hoạt
động và chức năng của bộ não giúp con người khai thác tiềm năng vô tận của bộ não. Nó được
coi là sự lựa chọn cho toàn bộ trí óc hướng tới lối suy nghĩ mạch lạc.
I.3. Cách lập bản đồ tư duy
BĐTD có thể vẽ trên giấy, bìa, bảng phụ,… bằng cách sử dụng bút chì màu, phấn, tẩy,…
hoặc cũng có thể thiết kế trên powerpoint hoặc các phần mềm bản đồ tư duy.
Khi vẽ bản đồ tư duy chúng ta có thể thực hiện theo các bước sau:
- Dùng từ chìa khóa và ý chính.
- Viết cụm từ, không viết thành câu.
- Dùng các từ viết tắt.
- Có tiêu đề.
- Đánh số các ý.
- Liên kết ý (nên dùng màu sắc, nét đứt, mũi tên )
- Ghi chép nguồn gốc thông tin để có thể tra cứu lại dễ dàng.
- Sử dụng màu sắc để ghi.
Tuy nhiên trong quá trình lập bản đồ tư duy giáo viên và học sinh lưu ý là cần tránh ghi chép:
- Ghi lại nguyên cả đoạn văn dài dòng.
- Ghi qua nhiều ý không cần thiết.
- Dành qúa nhiều thời gian để ghi chép.
I.4. Chức năng của bản đồ tư duy dạy học
Bản đồ tư duy có thể sử dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực khác nhau như: Trong triển
khai kế hoạch cơ quan, tổ nhóm; ghi chép hội họp Trong dạy học bản đồ tư duy sử dụng được
vào hầu hết các khâu cả quá trình dạy học như:
- Sử dụng bản đồ tư duy để kiểm tra kiến thức cũ.
- Sử dụng bản đồ tư duy trong giảng bài mới.
- Sử dụng bản đồ tư duy để củng cố kiến thức.
- Sử dụng bản đồ tư duy để ra bài tập về nhà.
thành hiện thực trong tương lai, các kế hoạch này có thể được bổ sung dần dần theo năm tháng
bằng cách vẽ thêm nhánh khi mỗi người có sự điều chỉnh kế hoạch.
II. Cơ sở thực tiễn
II.1. Thực trạng chung
- Trong quá trình dạy học tại TTGDTX-TP tôi thấy rằng rất ít giáo viên sử dụng bản đồ
tư duy trong dạy học mà vẫn còn tình trạng đang dùng các phương pháp dạy học cũ là đọc -
chép, giáo viên ghi bảng học sinh chép vào vở vì vậy mà hiệu quả dạy và học không cao.
- Qua thực tế giảng dạy tôi thấy, học sinh rất sôi nổi, hào hứng khi được học bằng bản đồ
tư duy, tự mình với óc sáng tạo và kiến thức hội họa tạo ra cho bản thân học sinh một bản đồ
kiến thức. Mặt khác đối với những em ít hoạt động trong lớp, ít tham gia thảo luận tập thể thì đây
là cơ hội để các em hòa đồng với các bạn. Giáo viên sẽ có cơ hội tiếp xúc và uốn nắn những sai
lệch của học sinh nhiều hơn.
- Mặt khác khi dạy học hầu như giáo viên là người chủ động truyền thụ kiến thức, học
sinh lại mang tính thụ động. Như vậy vô tình chúng ta đã không phát huy được tính sáng tạo ở
học sinh mà đẩy học sinh vào tình thế ép buộc phải tiếp thu kiến thức.
II.2. Thực trạng sử dụng bản đồ tư duy trong giảng dạy bộ môn Hóa Học lớp 12 tại TTGD_TX
Thành Phố
Qua thực tế giảng dạy ở Trung tâm GDTX Thành Phố, tôi thấy rõ là mặc dù
nhận thức được tầm quan trọng của việc đổi mới phương pháp dạy học và đánh giá
rất cao mức độ cần thiết cùng ý nghĩa to lớn của Bản đồ tư duy trong dạy học nói
chung và dạy học Hóa Học nói riêng. Song thực tế sử dụng lại chưa cao và còn
đang hạn hẹp ở một số giáo viên, một số môn học. Muốn đổi mới phương pháp dạy
học thì việc dạy học theo bản đồ tư duy là không thể thiếu. Vì vậy để tăng hiệu quả
của việc dạy học nhằm đổi mới phương pháp dạy học thì việc dạy học bằng bản đồ
tư duy và hướng cho học sinh ghi chép bài bằng bản đồ tư duy là một việc làm có ý
nghĩa và rất cần thiết mà tất cả các giáo viên nên làm.
III. Sử dụng bản đồ tư duy trong dạy học Hóa Học 12.
Để sử dụng bản đồ tư duy trong dạy học của giáo viên và ghi chép bài của
học sinh một cách thường xuyên lâu dài thì trước hết giáo viên phải giới thiệu về
bản đồ tư cho học sinh. Giáo viên treo một bản đồ tư duy hoàn chỉnh lên bảng và
chung một kiểu bản đồ tư duy, giáo viên chỉ nên chỉnh sửa cho học sinh về mặt
kiến thức và góp ý thêm về đường nét vẽ và hình thức nếu cần.
Ví dụ: Sau khi thảo luận xong mục 3. Cách làm mềm nước cứng trong Bài
26: Kim loại kiềm thổ và hợp chất quan trọng của kim loại kiền thổ. Giáo viên
dùng bản đồ tư duy sau để học lên trình bày, thuyết minh về kiến thức cách làm
mềm nước cứng:
III.2. Ứng dụng bản đồ tư duy trong một bài của Hóa học lớp 12- Ban cơ bản
III.2.1. Sử dụng bản đồ tư duy trong việc kiểm tra bài cũ
Việc kiểm tra bài cũ trong dạy học hiện nay tuy dễ thực hiện nhưng nhiều
giáo viên không chú trọng thực hiện khâu này trong tiến trình lên lớp. Nếu có thực
hiện thì thường dành 5 - 7 phút hỏi bài cũ, do thời gian quá ngắn nên yêu cầu của
giáo viên là không quá khó, không đòi hỏi nhiều sự phân tích, so sánh. Giáo viên
thường yêu cầu học sinh tái hiện lại một nội dung bài học bằng cách gọi học sinh
lên bảng trả lời câu hỏi mà giáo viên nêu ra, giáo viên sẽ chấm điểm tùy thuộc vào
Na
2
CO
3
Ca(OH)
2
CaCO
3
↓
MgCO
3↓
CaCO
3
2+
, Mg
2+
mức độ thuộc bài của học sinh. Cách làm này đã vô tình để nhiều học sinh rơi vào
tình trạng học vẹt, đọc thuộc lòng, đối phó mà không hiểu bài.
Sử dụng bản đồ tư duy trong hỏi bài cũ đầu giờ vừa giúp giáo viên việc kiểm
tra được phần nhớ lẫn phần hiểu của học sinh đối với bài học trước. Các bản đồ tư
duy mà giáo viên đưa ra có dạng thiếu thông tin, yêu cầu học sinh điền các thông
tin còn thiếu và rút ra nhận xét về mối quan hệ của các nhánh với từ chìa khóa
trung tâm.
Ví dụ 1: Trước khi đi vào học Bài 31: Sắt, giáo viên đưa ra bản đồ khuyết và
gọi em học sinh lên bảng điền thông tin vào bản đồ khuyết đó:
Ví dụ 2: Trước khi đi vào học Bài 14:Vật liệu polime, giáo viên sử dụng bản đồ
khuyết sau để hỏi bài cũ
Sau khi học sinh lên bảng điền thông tin khuyết xong, giáo viên yêu cầu một
học sinh khác nhận xét bài làm của bạn, tiếp theo giáo viên sẽ đánh giá và cho
điểm.
Nhận xét chung :
- Khi sử dụng bản đồ tư duy trong việc kiểm tra bài cũ sẽ biết được mức độ
nắm kiến thức và hệ thống hóa kiến thức của học sinh. Việc hoàn thành một bản đồ
khuyết thông tin là yêu cầu đơn giản, không mất nhiều thời gian nhưng với học
sinh không học thuộc bài thì không điền được thông tin hoặc điền không chính xác.
- Giáo viên có thể vẽ bản đồ tư duy khuyết thông tin đó trên bạt để sử dụng
hỏi bài cũ được nhiều lớp và trở thành đồ dùng dạy học cho bản thân mình.
- Từ bản đồ khuyết thông tin này giáo viên có thể sử dụng để vào bài mới,
hoặc dùng để củng cố kiến thức của chính bài đó sau mỗi tiết học.
III.2.2. Sử dụng bản đồ tư duy trong dạy học kiến thức mới
Sử dụng bản đồ tư duy là một gợi ý cho cách trình bày mới. Giáo viên thay
Bước 1. Giáo viên chia lớp thành 4 nhóm xong sau đó nêu vến đề: Nguyên
tố X ở trên chính là nguyên tố nhôm. Vậy nhôm có những tính chất gì, được ứng
dụng và sản xuất như thế nào? Tiết học hôm nay chúng ta sẽ nghiên cứu.
Bước 2. Giáo viên chuẩn bị sẵn trên bạt có ghi từ chìa khóa và một số nhánh
cơ bản làm sườn, treo lên bảng và yêu cầu các nhóm thể hiện kiến thức bằng một
bản đồ tư duy bằng cách hoàn thiện bản đồ tư duy trên. Chuẩn bị thêm trên giấy A4
để các nhóm hoàn thành trước dưới lớp sau đó mới lên bảng điền vào.
Bước 3. Các nhóm thực hiện, giáo viên theo dõi quá trình làm việc và hỗ trợ
các nhóm khi cần thiết.
Hoạt động 3: Các nhóm báo cáo, thuyết minh về bản đồ tư duy của nhóm mình.
Giáo viên gọi lần lượt các đại diện lên bảng thuyết minh lại bản đồ tư duy
của nhóm mình và điền vào bản đồ tư duy ở trên bảng. Qua hoạt động này giáo vên
vừa biết rõ việc hiểu kiến thức của các em về nhôm, cũng từ đây sẽ bộc lộ những
khuyết điểm của các em. Thông qua hoạt động này học sinh sẽ tự tin hơn, mạnh
dạn hơn khi được bày tỏ ý kiến của mình.
Hoạt động 4. Các nhóm thảo luận, chỉnh sửa, hoàn thiện bản đồ tư duy.
Bước 1. Giáo viên cho các nhóm bổ sung, nhận xét kết quả của từng nhóm
để hoàn thiện kiến thức. Trong quá trình giáo viên xen kẽ tiến hành làm các thí
nghiệm nhôm tác dụng với oxi và nhôm tác dụng với dung dịch NaOH, yêu cầu
HS quan sát, nêu hiện tượng viết phương trình giải thích.
Bước 2. Giáo viên với chức danh là người trọng tài để các nhóm thảo luận.
công nhận và bổ sung những ý kiến đúng, chỉnh sửa uốn nắn những ý kiến sai của
học sinh.
Lưu ý: - Nên định lượng thời gian cho học sinh thảo luận.
- Tạo ra không khí sôi nổi trên tinh thần xây dựng bài
Hoạt động 4. Củng cố kiến thức bằng bản đồ tư duy.
Bước 1. Giáo viên treo bản đồ tư duy mà đã chuẩn bị sẵn lên bảng và yêu
cầu một học lên bảng thuyết minh lại bản đồ tư duy đó cho cả lớp nghe. Các
phương trình phản ứng hóa học cụ thể yêu cầu HS dùng phấn viết lên phần bảng
còn trống.
Al
2
S
3
Al
2
O
3
+Cr
Al
2
O
3
+Fe
Al(OH)
3
+H
2
13
3
III
1s
2
2s
2
2p
6
3s
2
3p
thức của tiết học này. Cho HS thực hiện các hoạt động tương tự ở ví dụ 1. Sau khi
thực hiện các hoạt động trên, GV giới thiệu cho HS BĐTD có thêm các kiến thức
về toàn bộ bài 21: Điều chế kim loại (kể cả kiến thức đã học ở tiết trước).
Có thể tóm tắt một số hoạt động dạy học trên lớp với BĐTD:
Hoạt động 1: HS lập BĐTD theo nhóm với gợi ý của GV.
- Thế nào là phương pháp điện?
- Điện phân có mấy loại?
- Những kim loại có độ hoạt động như thế nào thì được điều chế bằng phương pháp
điện phân nóng chảy, điện phân dung dịch? Chúng đứng ở vị trí nào trong dãy hoạt
động hóa học của kim loại?
Hoạt động 2: Đại diện của các nhóm HS lên báo cáo, thuyết minh về BĐTD mà
nhóm mình đã thiết lập.
Hoạt động 3: HS thảo luận, bổ sung, chỉnh sửa để hoàn thiện BĐTD về kiến thức
của tiết học này. GV sẽ là người cố vấn, là trọng tài giúp HS hoàn chỉnh BĐTD, từ
đó dẫn dắt đến kiến thức của bài học.
Hoạt động 4: Củng cố kiến thức bằng một BĐTD mà GV đã chuẩn bị sẵn BĐTD
có thêm các kiến thức về toàn bộ bài 21: Điều chế kim loại (kể cả kiến thức đã
học ở tiết trước), cho HS lên trình bày, thuyết minh về kiến thức đó.
III.2.2.2. Sử dụng bản đồ tư duy để dạy một mục.
Do nhiều lúc cấu trúc của bài học tuy có nhiều mục nhưng giữa các mục
không có mối liên hệ với nhau, hoặc dung lượng kiến thức quá nhiều thì chúng ta
có thể lựa chọn riêng một mục nào đó để sử dụng bản đồ tư duy.
Ví dụ 1: Khi dạy Bài 9: Amin
Cấu trúc bài: Gồm 3 mục:
- Khái niệm, phân loại và danh pháp.
- Tính chất vật lí.
- Cấu tạo phân tử và Tính chất hóa học.
Trong các mục đó tôi sử dụng bản đồ tư duy để dạy mục III. Cấu tạo phân tử
và tính chất hóa học.
Các bước thực hiện như sau:
trong các đề thi đại học cao đẳng. Vì vậy GV có thể đưa vào và thuyết minh nhanh,
và tùy đối tượng HS có thể không đề cập mục này.
Bước 2. Giáo viên cho học sinh so sánh bản đồ tư duy của giáo viên và 4 bản
đồ tư duy của 4 nhóm để rút ra được những thiếu sót về kến thức, đường nét.
Bước 3. Giáo viên thuyết minh lại bản đồ tư duy và đánh giá nhận xét kết
quả của các nhóm.
Ví dụ 2: ở Bài 1: ESTE
Cấu trúc của bài học; Gồm 5 phần chính
- Khái niệm, danh pháp.
- Tính chất vật lí.
- Tính chất hóa học.
- Điều chế.
- Ứng dụng.
Đặc điểm của tiết học này là HS đã được học về phản ứng este hóa và đã nắm
được cấu tạo một số chất este cụ thể, biết được đặc điểm của phản ứng este hóa ở
bài ancol và axit cacboxylic ở lớp 11.
Trong các mục đó tôi sử dụng bản đồ tư duy để dạy mục III. Tính chất hóa học.
Có thể tóm tắt một số hoạt động dạy học trên lớp với BĐTD:
Hoạt động 1: HS lập BĐTD theo nhóm với gợi ý của GV.
- Este có cấu tạo như thế nào? Từ đó dự đoán các tính chất hóa học của este?
- Đặc điểm của phản ứng este hóa là gì?
- Viết PTPƯ của các chất sau với dung dich NaOH: CH
3
COOCH=CH
2
,
CH
3
COOC(CH
3
H2O
Este no, mạch hở, đơn chức
C
n
H
2n
O
2
RCOOC
6
H
5
RCOOC=C
RCOOCH=C
CH
3
COO(CH
3
)C=CH
2