ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
o0o ĐỒNG THỊ THANH THỦY
VĂN HÓA DOANH NGHIỆP
CỦA TẬP ĐOÀN TRUNG NGUYÊNChuyên ngành : Quản trị Kinh doanh
Mã số : 60 34 05
bản luận văn cũng nhƣ đã giúp đỡ và giành thời gian trả lời phỏng vấn, khảo sát để
tôi có số liệu cho việc phân tích luận văn này.
Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn với gia đình tôi, đã động viên, khuyến
khích, tạo điều kiện tốt nhất về thời gian, vật chất và tinh thần để tôi có thể hoàn
thành tốt bài luận văn này.
Hà Nội, ngày tháng năm 2014
Tác giả luận văn Đồng Thị Thanh Thủy
MỤC LỤC
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT i
DANH MỤC BẢNG BIỂU ii
DANH MỤC BIỂU ĐỒ, HÌNH VẼ iii
MỞ ĐẦU 1
1. Tính cấp thiết của đề tài 1
2. Mục đích nghiên cứu 2
3.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu 3
4. Phƣơng pháp nghiên cứu 3
5. Kết cấu dự kiến luận văn 3
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VĂN HÓA DOANH NGHIỆP, ĐỀ XUẤT MÔ
HÌNH NGHIÊN CỨU 5
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 5
1.2 Các khái niệm 6
1.2.1 Khái niệm văn hóa 6
1.2.2 Khái niệm VHDN 9
1.2.3 Vai trò của văn hóa kinh doanh đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp 11
3.3.2 Hạn chế 62
CHƢƠNG 4: MỘT SỐ GIẢI PHÁP XÂY DỰNG VĂN HÓA DOANH NGHIỆP TẠI
TẬP ĐOÀN TRUNG NGUYÊN 65
4.1 Giải pháp hoàn thiện việc xây dựng các yếu tố cấu thành VHDN 65
4.1.1 Giải pháp hoàn thiện, củng cố các giá trị hữu hình 65
4.1.2 Giải pháp điều chỉnh, phát huy hệ thống giá trị đƣợc tuyên bố 66
4.1.3 Giải pháp hoàn thiện các giá trị cơ bản 67
4.2 Các giải pháp hoàn thiện mô hình VHDN 68
4.2.1 Giải pháp củng cố các đặc tính văn hóa gia đình 68
4.2.2 Giải pháp tăng cƣờng các đặc tính văn hóa thị trƣờng và điều chỉnh văn
hóa sáng tạo 70
KẾT LUẬN 74
TÀI LIỆU THAM KHẢO 76
i
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
STT
Ký hiệu
Nguyên nghĩa
1.
CBCNV
Cán bộ công nhân viên
2.
DN
Doanh nghiệp
3.
NV
Nhân viên
4.
DANH MỤC BIỂU ĐỒ, HÌNH VẼ
STT
Số hiệu
Nội dung
Trang
1
Hình 1.1
Mô hình nhận diện văn hóa doanh nghiệp OCAI
23
2
Hình 2.1
Qui trình thực hiện nghiên cứu
33
3
Biểu đồ 3.1
Cơ cấu giới tính mẫu khảo sát
50
4
Biểu đồ 3.2
Cơ cấu trình độ mẫu khảo sát
51
5
Biểu đồ 3.3
Cơ cấu tuổi mẫu khảo sát
51
6
Biểu đồ 3.4
Cơ cấu Kinh nghiệm mẫu khảo sát
52
7
Cà phê là mặt hàng đƣợc buôn bán nhiều nhất trên thế giới chỉ sau dầu mỏ, một
bên là tài nguyên tái tạo, một bên là tài nguyên cạn kiệt. Những nƣớc có lƣợng tiêu
thụ cà phê cao nhất cũng là những nƣớc mạnh nhất: Mỹ, Đức, Nhật… Cà phê lại
đƣợc đất trời chỉ ƣu đãi dành cho một số nơi, và Việt Nam là một trong số đó. Việt
Nam đứng nhất nhì thế giới về xuất khẩu cà phê. Tuy nhiên phần lớn số lƣợng cà
phê xuất khẩu đều là sản phẩm thô có giá trị kinh tế không lớn trong khi cà phê
thành phẩm có giá trị kinh tế cao thì lại chiếm tỷ lệ nhỏ.
Là một trong những doanh nghiệp hàng đầu trong sản xuất chế biến và xuất
khẩu cà phê của Việt Nam, Tập đoàn Trung nguyên đang đứng trƣớc những cơ hội
và thách thức lớn lao trong nền kinh tế thị trƣờng cạnh tranh gay gắt này. Để có thể
tồn tại, đứng vững đòi hỏi Trung Nguyên phải có những chiến lƣợc lâu dài và đúng
đắn. Nhận thức đƣợc tầm quan trọng của vấn đề VHDN trong xu thế cạnh tranh
cũng nhƣ mong muốn đƣợc đóng góp những ý kiến để Công ty đẩy mạnh hoạt động
sản xuất kinh doanh. Từ những lý do trên, tôi quyết định lựa chọn đề tài: "VHDN
của Tập đoàn Trung Nguyên" làm đề tài khoá luận tốt nghiệp thạc sỹ chuyên
ngành quản trị kinh doanh của mình. 2
2. Mục đích nghiên cứu
Đề tài đƣợc thực hiện nhằm mục tiêu xây dựng cơ sở lý luận và thực tiễn để
phân tích, đánh giá thực trạng văn hóa của doanh nghiệp của Tập đoàn Trung
Nguyên và đƣa ra một số những giải pháp nhằm hoàn thiện, góp phần vào sự phát
triển bền vững của doanh nghiệp. Để đạt đƣợc mục tiêu cơ bản trên, đề tài thực hiện
3 mục tiêu, nhiệm vụ sau đây:
Một là, trình bày đƣợc một cách đầy đủ, hệ thống những khái niệm, lý thuyết
căn bản về văn hóa trong tổ chức doanh nghiệp đã đƣợc công nhận và nêu ra quan
điểm, cách nhìn nhận của cá nhân đối với những nội dung đó, mối liên quan đến
vấn đề thực tế cần nghiên cứu.
̣
m vi nghiên cƣ
́
u th ực trạng văn hóa tổ chức tại Tập đoàn
Trung Nguyên trong giai đoa
̣
n tƣ
̀
năm 2008 – 2013 và đề xuất các giải pháp hoàn
thiện văn hóa tổ chức tại Tập đoàn Trung Nguyên đến năm 2015.
Về mặt thời gian nghiên cứu
- Luận văn nghiên cứu các thông tin, thu thập tài liệu của cơ quan trong thời gian
từ năm 2011 đến 2014.
- Tập hợp và xử lý số liệu điều tra: tháng 09, 10/2014.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Phƣơng pháp nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu có sử dụng một số phƣơng pháp
nghiên cứu khác nhau nhƣ phƣơng pháp quan sát thực tế, phƣơng pháp phân tích hệ
thống, thống kê và so sánh theo thời gian. Dữ liệu sơ cấp nghiên cứu đƣợc sử dụng
là phỏng vấn và khảo sát bằng phiếu điều tra câu hỏi đối với NV và cấp quản lý trực
tiếp. Dữ liệu thứ cấp nghiên cứu sử dụng là các báo cáo, số liệu nội bộ của công ty
trong thời gian từ năm 2008 đến 2014. Các quan điểm của Đảng và Nhà nƣớc liên
quan đến vấn đề kinh tế cũng đƣợc tác giả đặc biệt quán triệt cho việc tiến hành
nghiên cứu đề tài này.
Phƣơng pháp định lƣợng: Phát phiếu điều tra câu hỏi đối với CBCNV đang làm
việc tại tập đoàn, tổng số 100 phiếu. Các dữ liệu sau khi thu về, những phiếu đạt
yêu cầu đƣợc đƣa vào phân tích và trình bày trong luận văn.
6. Kết cấu dự kiến luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, kết cấu đề
tài gồm 3 chƣơng:
Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về VHDN, mô hình nghiên cứu
còn cho rằng văn hóa và kinh tế là hai lĩnh vực hoàn toàn tách biệt nhau, không có
mối quan hệ tƣơng hỗ, thúc đẩy nào. Kết quả của những nghiên cứu gần đây đã
khẳng định đây là quan điểm hoàn toàn sai lầm, và doanh nghiệp cần coi trọng vấn
đề xây dựng VHDN, coi đó là chiến lƣợc lâu dài, là chìa khóa cho phát triển bền
vững. Sau đại hội VI của Đảng, Chúng ta đã nhận thức đƣợc tầm quan trọng của
văn hóa trong phát triển kinh tế. Văn hóa vừa là mục tiêu, vừa là động lực để phát
triển kinh tế - xã hội. Năm 2011, Ban Tƣ Tƣởng – Văn hóa Trung ƣơng phối hợp
với Bộ Văn hóa – Thông tin và viện Quản trị Doanh nghiệp, xuất bản cuốn sách
Văn hóa và kinh doanh. Trong cuốn sách này các tác giả không đề cập đến Văn hóa
doanh nghiệp mà chỉ nói đến văn hóa trong kinh doanh, quan hệ giữa văn hóa với
6
kinh doanh. Đây chỉ là những ý kiến gợi mở để chúng ta có thể tham khảo, đồng
thời bƣớc đầu làm cơ sở cho việc xây dựng lý luận về hình thành VHDN.
Ngoài ra, còn có một số công trình đã đƣợc nghiên cứu về VHDN và đƣợc
công bố nhƣ: Văn hóa và triết lý kinh doanh của tiến sĩ Đỗ Minh Cƣơng xuất bản
năm 2000). Trong tác phẩm này, tiễn sĩ Đỗ Minh Cƣơng đã đƣa ra định nghĩa về
VHDN và cấu trúc của nó. Nhƣng chƣa đi sâu hƣớng nghiên cứu này, mà chỉ chọn
vấn đề triết lý kinh doanh để nghiên cứu. Ngoài ra còn nhiều bài viết liên quan đến
VHDN, đƣợc đăng tải trên các tạp chí khoa học. Nổi bật hơn cả có thể kể đến Bàn
về văn hóa và văn hóa kinh doanh của GS.TS Hoàng Vinh, đăng trong “Thông tin
Văn hóa và phát triển” của Khoa Văn hóa XHCN, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ
Chí Minh tháng 8 năm 2004. Trong tác phẩm này, GS.TS Hoàng Vinh đã đề cập
đến việc xây dựng thuật ngữ “Văn hóa Kinh doanh”.
Tóm lại, tất cả các công trình nghiên cứu trên mới chỉ dừng lại ở khái niệm
chung và khái quát về VHDN, những tác phẩm này rất có ý nghĩa trong việc đƣa ra
những khái niệm, cơ sở lý luận liên quan đến VHDN. Nhƣng chƣa có công trình
nào nghiên cứu chuyên sâu và có hệ thống về VHDN tại một doanh nghiệp thành
công trong kinh doanh nhờ phát triển VHDN. Tại Việt Nam hiện nay có rất nhiều
nghĩa khác nhau về văn hóa.
Định nghĩa rộng nhất về văn hóa có thể là của E.Heriôt khi ông cho rằng:
"Cái gì còn lại khi tất cả những cái khác bị quên đi - đó chính là văn hóa". (Phan
Ngọc (2002), Bản sắc văn hóa Việt Nam, NXB văn học, Hà Nội). Định nghĩa này
cho thấy tầm quan trọng, mức độ bao trùm của văn hóa nhƣng lại thiếu tính cụ thể.
Triết học Mác – Lê nin thì cho rằng: “Văn hóa là tổng hợp các giá trị vật
chất và tinh thần do con người sáng tạo ra là phương thức, phương pháp mà con
người sử dụng nhằm cải tạo tự nhiên, xã hội và giáo dục con người.”
Theo Unesco: "Văn hóa phản ánh và thể hiện một cách tổng quát, sống động
mọi mặt của cuộc sống (của mỗi cá nhân và của mỗi cộng đồng) đã diễn ra trong
quá khứ cũng như đang diễn ra trong hiện tại, qua hàng bao nhiêu thế kỷ nó đã cấu
thành nên một hệ thống các giá trị, truyền thống, thẩm mỹ và lối sống, và dựa trên
đó, từng dân tộc đã khẳng định bản sắc riêng của nước mình" (Văn hóa và VHDN,
NXB lao động, Hà Nội, 2001)
8
Edward B. Taylor (1924) thì cho rằng: "Văn hóa là một phức thể bao gồm
kiến thức, niềm tin, nghệ thuật, đạo đức, tập quán và tất cả những khả năng và tập
tục khác cần thiết cho con người trong một xã hội".
Trong bản thảo "Nhật ký trong tù" năm 1943, Bác Hồ đã khẳng định "Văn hóa
là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt, cùng với biểu hiện của nó mà loài
người đã sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn"
(Hồ Chí Minh, toàn tập, NXB chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tập 3, trang 431). Bác
chỉ rõ nội hàm của văn hóa, đồng thời, Bác phân tích và luôn nhấn mạnh mối quan hệ
biện chứng giữa văn hóa và cơ sở hạ tầng, văn hóa và kinh tế, chính trị, xã hội. Văn
hóa là kiến trúc thƣợng tầng; nhƣng khi cơ sở hạ tầng của xã hội kiến thiết rồi, lúc đó
văn hóa mới đủ điều kiện phát triển đƣợc. Văn hóa là động lực của phát triển kinh tế,
phát triển xã hội. Văn hóa phải soi đƣờng cho mọi ngƣời tiến tới.
Cựu Tổng giám đốc UNESSCO Federico Mayor nói: "Thực tế đã thừa nhận
Mỗi doanh nghiệp đƣợc thành lập để thực hiện mục đích do nhà kinh doanh đặt
ra. Phƣơng thức thực hiện mục đích kinh doanh trong doanh nghiệp đã tạo cho
doanh nghiệp một sắc thái riêng, một màu sắc riêng, một vị thế riêng. Xét từ góc độ
ấy, chúng ta có thể xác định VHDN nhƣ một hệ thống đặc thù, đặc trƣng cho tổ
chức đó, một hệ thống các mối liên hệ, các hành động, các tác động qua lại và các
mối quan hệ đƣợc thực hiện trong khuôn khổ một hoạt động kinh doanh cụ thể.
Nhà xã hội học ngƣời Mỹ E.N.Schein cho rằng: VHDN hoặc Văn hoá tổ chức là
tổng thể những thủ pháp và quy tắc giải quyết vấn đề thích ứng bên ngoài và thích ứng
bên trong các NV, những quy tắc đã tỏ ra hữu hiệu trong quá khứ và vẫn cấp thiết trong
hiện tại. Những quy tắc và những thủ pháp này là yếu tố khởi nguồn trong việc các NV
lựa chọn phƣơng thức hành động, phân tích và ra quyết định thích hợp. Các thành viên
10
của tổ chức không đắn đo suy nghĩ về ý nghĩa của những quy tắc và thủ pháp ấy, mà
coi chúng là đúng đắn ngay từ đầu [A.A.Radughin (2004), Văn hóa học, Những bài
giảng, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội, tr.150].
Còn nhà xã hội học Pháp N.Đemetr cho rằng: VHDN đó là hệ thống quan
niệm, những biểu tƣợng, những giá trị và mẫu hành vi đƣợc tất cả các thành viên
chia sẻ. Điều đó có nghĩa là trong doanh nghiệp, tất cả các thành viên đó đều gắn bó
vơí nhau bởi quan điểm chung về những vấn đề nhƣ doanh nghiệp đó là gì, vai trò
kinh tế và xã hội của nó nhƣ thế nào, nó chiếm vị trí ra sao đối với những doanh
nghiệp cạnh tranh với nó, những nghĩa vụ của nó đối với khách hàng là gì…Chức
năng văn hoá tổ chức là tạo ra cảm giác thống nhất của mọi thành viên, tạo ra hình
ảnh cái “chúng tôi” tập thể [A.A.Radughin (2004), Văn hóa học, Những bài giảng,
Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội, tr.151].
Tiến sĩ Đỗ Minh Cƣơng trong cuốn sách: "Văn hoá và triết lý kinh doanh" Xuất
bản năm 2000, đã đƣa ra một khái niệm VHDN nhƣ sau: “Văn hoá kinh doanh là
việc sử dung các nhân tố văn hoá vào trong hoạt động kinh doanh của chủ thể, là
cái văn hoá mà các chủ thể tạo ra trong quá trình kinh doanh, hình thành nên
Ngày nay, cạnh tranh giữa các nƣớc, các doanh nghiệp và sức mạnh kinh tế
thực ra là một hình thức của công cuộc cạnh tranh về chất lƣợng khoa học và công
nghệ. Kinh doanh là cạnh tranh, là đọ sức với các đối thủ trong nƣớc và thế giới để
mua hàng và bán hàng. Về bản chất cạnh tranh là cuộc chiến trên thƣơng trƣờng
không chút khoan nhƣợng. Cạnh tranh mang những sắc thái cơ bản và nguyên tắc
cơ bản của chiến tranh. Sự thỏa hiệp với các đối thủ (đối tác) có thể là sách lƣợc
trong những tình huống cụ thể với khoảng không gian và thời gian nhất định để đôi
bên cùng có lợi. Điều đó không thể che giấu hết tính quyết liệt, sống còn trong quá
trình tồn tại và phát triển của doanh nghiệp và triết lý kinh doanh bằng cách vƣợt lên.
Lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp là nét đặc trƣng cơ bản của văn hóa kinh doanh.
Văn hóa kinh doanh có tác động quyết định đến năng lực cạnh tranh của
doanh nghiệp. Sở dĩ có thể khẳng định nhƣ vậy bởi vì để thực hiện hoạt động kinh
doanh, doanh nghiệp nào cũng cần có các nguồn lực vật chất và tinh thần. Trong đó
12
nguồn lực tinh thần, đặc biệt văn hóa kinh doanh chính là một trong trụ cột chính
của các yếu tố cấu thành năng lực cạnh tranh.
Năng lực của các nhà quản trị có tính quyết định đối với sự thành bại của
doanh nghiệp trong kinh doanh. Một nhà quản trị giỏi có thể xây dựng đƣợc yếu tố
văn hóa kinh doanh làm cơ sở vững chắc cho quá trình hoạt động kinh doanh của
mình. Qua khảo sát các doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả có thể rút ra hệ quả là:
doanh nghiệp mạnh gắn liền với giám đốc giỏi. Lãnh đạo một số địa phƣơng và Bộ,
Ngành cũng cho rằng, tìm sản phẩm kinh doanh không khó, cái khó chính là tìm
giám đốc doanh nghiệp giỏi. Một giám đốc - nhà quản trị giỏi có thể đƣa một doanh
nghiệp từ thua lỗ đến chỗ có lợi nhuận, từ yếu trở nên mạnh, trong khi việc đổi mới
kỹ thuật, công nghệ hoặc tái cấu trúc lại khó có thể đƣa lại một kết quả khả quan
nhƣ vậy. Đặc biệt, trong hoàn cảnh của Việt Nam hiện nay cả hai giải pháp sau đều
rất khó thực hiện bởi cả lý do kinh tế lẫn xã hội. Các nhà quản trị giỏi sẽ biết cách
tạo lập chiến lƣợc cạnh tranh, phát huy năng lực sáng tạo của kỹ sƣ và công nhân để
tâm hiệp lực của các thành viên chỉ có đƣợc khi họ cùng nhau chấp nhận và chia sẻ
những giá trị và chuẩn mực chung. Một doanh nghiệp đã xây dựng đƣợc văn hóa
kinh doanh mạnh thì tự nó sẽ giúp các thành viên hành động một cách tự nguyện,
đúng hƣớng và có hiệu quả mà không cần có quá nhiều quy chế và mệnh lệnh hành
chính từ cấp trên.
Thứ hai, văn hóa kinh doanh tạo cho doanh nghiệp một phong cách, cá tính
hay bản sắc riêng, để phân biệt doanh nghiệp này với doanh nghiệp khác. Văn hóa
kinh doanh đƣợc duy trì bảo tồn qua nhiều thế hệ quản trị, tạo ra khả năng phát triển
bền vững của doanh nghiệp.
Một doanh nghiệp trong thời gian đầu khởi sự chƣa thể có ngay đƣợc văn
hóa kinh doanh. Qua quá trình hoạt động, các yếu tố của văn hóa kinh doanh sẽ
đƣợc tạo lập, thử thách để rồi tồn tại trong chủ đích của ngƣời chủ doanh nghiệp,
tạo ra cho doanh nghiệp một ấn tƣợng, hình ảnh và bản sắc riêng. Văn hóa kinh
doanh vì vậy góp phần tạo dựng một hình ảnh riêng của doanh nghiệp trong con
mắt của khách hàng, của các đối tác, của những ngƣời đi tìm việc làm và của xã hội.
Nói cách khác, văn hóa kinh doanh góp phần tạo ra sự khác biệt và lợi thế cạnh
tranh cho doanh nghiệp.
14
Thứ ba, văn hóa kinh doanh có tác dụng điều tiết hành vi và thái độ của các
nhà quản trị. Nếu nhƣ các nội quy, quy chế, mệnh lệnh hành chính, kỷ luật đƣợc
coi là những công cụ điều tiết "cứng" (luật thành văn) thì văn hóa kinh doanh đƣợc
coi là công cụ điều tiết "mềm" (luật bất thành văn) thông qua hệ thống triết lý, các
chuẩn mực, truyền thống, tập tục, nêu gƣơng đã đƣợc xây dựng, duy trì và thừa
nhận trong doanh nghiệp.
Có thể nói, văn hóa kinh doanh xác định "luật chơi" chung, nó nói với các
thành viên trong doanh nghiệp mọi việc nên làm thế nào và điều gì là quan trọng.
Đối với các thành viên trong doanh nghiệp, văn hóa kinh doanh đƣợc coi là công cụ
điều tiết cực kỳ hữu hiệu vì nó đánh vào lòng tự trọng (tự tôn) cá nhân và khi hành
xây dựng cho doanh nghiệp mình một đội ngũ nhân sự đồng nhất. Đối với các thành
viên mới ra nhập doanh nghiệp, họ cần nhanh chóng học hỏi, tiếp thu những giá trị
văn hóa để hòa nhập thực sự với môi trƣờng làm việc mới.
1.3 Các mô hình văn hóa
Văn hóa tổ chức rất đa dạng, có vô số những loại hình văn hóa tổ chức đang
tồn tại ngày nay. Tuy nhiên, có thể phân loại nhƣ sau:
- Văn hóa thống trị và tiểu văn hóa (dominant and subcultures).
- Văn hóa vững mạnh và văn hóa yếu (strong and weak cultures).
- Văn hóa đáp ứng và văn hóa không đáp ứng (adaptive and unadaptive
cultures).
Văn hóa thống trị là loại văn hóa thể hiện quan điểm chung của phần lớn các
thành viên trong một tổ chức. Trong bất kỳ một tổ chức nào mà có sự phân chia
thành từng nhóm nhỏ, mỗi nhóm sẽ có một đặc trƣng riêng, gọi là tiểu văn hóa.
Tiểu văn hóa phản ánh văn hóa của các thành viên trong một nhóm, nó nằm trong
mối liên hệ tổng hòa với văn hóa của toàn bộ tổ chức đó. Nhƣ vậy, có thể thấy rằng,
những ngƣời trong bộ phận nghiên cứu, nhân sự hay bộ phận liên quan tới sản
phẩm… thì có văn hóa khác những ngƣời khác, tuy nhiên vẫn nằm trong văn hóa
chung của toàn bộ công ty.
Văn hóa vững mạnh hay văn hóa mong muốn (desirable cultures) đƣợc đặc
trƣng bởi tính nhất quán và sự đồng thuận dẫn đến các thành viên có sự gắn kết cao
16
và hiệu quả kinh doanh tốt. Trong các nền văn hóa nhƣ vậy các thành viên rất gắn
bó với tổ chức, họ đồng ý đi bất cứ đâu với bất cứ lý do gì với mong muốn phát
triển tổ chức. Khi nói tới loại hình văn hóa tổ chức này là có hàm ý nói tới VHDN
tốt. Ngƣợc lại với văn hóa vững mạnh là văn hóa yếu kém. Loại hình văn hóa này
thể hiện ở tính không nhất quán, mơ hồ và thiếu sự đồng thuận dẫn đến kết quả
khác nhau trong hoạt động.
Văn hóa đáp ứng và văn hóa không đáp ứng đƣợc xem xét qua bảng sau:
chiến lƣợc của họ một cách
nhanh chóng để điều chỉnh
hoặc tận dụng lợi thế của
những thay đổi trong môi
trƣờng kinh doanh
Có rất nhiều mô hình văn hóa tổ chức đƣợc các chuyên gia đƣa ra.
Bảng 1.2 Phân loại các mô hình văn hóa
17
Tên tác giả
Phân loại mô hình văn hóa
Harrison và handy
- văn hóa quyền lực (Power Culture)
- Văn hóa vai trò (Role Culture)
- Văn hóa nhiệm vụ (Task Culture)
- văn hóa hỗ trợ (People/Support culture)
Robert A. Cooke
- Văn hóa xây dựng (Constructive Culture)
- Văn hóa thụ động/phòng thủ (Passive/Defensive Culture)
- Văn hóa tích cực/phòng thủ (Aggressive/Defensive
Culture)
Trompenaars và
Hampden Tunner
- Văn hóa gia đình (Family)
- Văn hóa tháp Eiffel (Eiffel Tower)
- Văn hóa tên lửa dẫn đƣờng (Guided Missile)
- Văn hóa lò ấp trứng (Incubator)
Denison và