MỞ ĐẦU
Ngày nay đất nước ta đang bước vào thời kì đẩy mạnh công nghiệp hoá
hiện đại hoá đất nước nhằm thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội
công bằng, dân chủ văn minh”. Dù muộn màng so với bạn bè khắp năm châu do
nhiều nguyên nhân: Chiến tranh liên miên, nền kinh tế lạc hậu… Song nhiều thế
hệ đàn anh trước đây và thế hệ trẻ bây giờ cũng làm dạng danh đất nước, làm
dạng danh cho nền thể thao nước nhà dù là ít ỏi, nhưng đủ để khẳng định nền thể
thao nước nhà đang từng bước đi lên để hoàn thành được sứ mệnh của mình.
Toàn ngành TDTT không ngừng phấn đấu về mọi mặt. Từ xây dựng cơ sở vật
chất đến nâng cao thành tích các môn thể thao như: Điền kinh, Bóng đá, Bóng
bàn, Vật, Cầu lông và đặc biệt là môn Bắn súng. Cũng như các môn thể thao
khác Bắn súng là môn thể thao trọng tâm được đầu tư phát triển ở nước ta trong
nhiều năm qua cũng như hiện nay và trong tương lai, vì môn thể thao Bắn súng
có vị trí quan trọng và ý nghĩa về mọi mặt.
Môn bắn súng dưới chế độ phong kiến, tư bản phục vụ cho mục đích
chiênns tranh, săn bắn và rò tiêu khiển của giới vua quan quý tộc. Năm 1860 ở
nước Anh đã thành lập hội bắn súng và tổ chức cuộc thi bắn súng đầu tiên do Nữ
hoàng Anh Vichtoria khai mạc ngày 1/7/1860. Trong cuộc thi này chỉ có giải cá
nhân bắn súng trường quân dụng cự ly 370m, bia có 2 vòng. Năm 1958, nước ta
lần đầu tiên cử đoàn thể thao tham dự Đại hội Quân đội các nước xã hội chủ
nghĩa ở Lep-zig (CHDC Đức), trong đó có môn bắn súng. Đến tháng 12/1959,
CLB bắn súng Trung ương được thành lập tại Xuân Mai ( Hà Nội), đây là trung
tâm đào tạo vận động viên bắn súng nâng cao của cả nước ta.
Sự phát triển nền TDTT ở nước ta hiện nay đã hòa nhập nhanh chóng vào
nền thể thao khu vực và thế giới. Thực tế đã chứng tỏ TDTT không thể thiếu
trong đời sống văn hóa – kinh tế – chính trị – xã hội. Vì vậy, nhiệm vụ của Đảng
và nhà nước đặt ra cho ngành TDTT là nhanh chóng phát triển cả về chiều rộng
lẫn chiều sâu đáp ứng được những nhiệm vụ của Đảng và nhà nước đặt ra thì
việc ứng dụng những thành tựu khoa học và công nghệ tiên tiến vào công tác
1
tuyển chọn, huấn luyện và đào tạo VĐV có vai trò rất quan trọng. Bởi vì chính
nhằm nâng cao chất lượng tập luyện để đạt thành tích thể thao cao.
Mặt khác huấn luyện thể thao thực chất là một quá trình sư phạm , nên việc
đề ra nội dung, phương pháp huấn luyện rõ ràng có liên quan chặt chẽ và được
quyết định bởi đặc trưng đối tượng. Với môn súng trường thể thao nữ các VĐV
trong CLB Quân Đội ở lứa tuổi 15-17, độ tuổi có sự phát triển về tâm sinh lý
mạnh. Rõ ràng, điều đó cũng là một yếu tố quan trọng không thể không tính đến
khi xây dựng, lựa chọn các bài tập phát triển thể lực.
Vấn đề đó đặt ra đòi hỏi phải xây dựng được một tiêu chuẩn đánh giá thể
lực chuyên môn cho VĐV Bắn súng đặc biệt là nữ VĐV súng trường thể thao
trong tập luyện, thi đấu nhằm nâng cao thành tích, vấn đề này đã được một số đề
tài nghiên cứu về môn Bắn súng trên các đối tượng khác nhau như: Tác giả
Nguyễn Đức Long “Nghiên cứu tiêu chuẩn đánh giá trình độ thể lực chuyên
môn của nam sinh viên chuyên sâu Bắn súng năm thứ 4 trường đại học TDTT1”
hay tác giả Nguyễn Thị Yến “Nghiên cứu xây dựng tiêu chuẩn đánh giá trình độ
chuẩn bị cho nữ VĐV súng ngắn hơi tuổi 16-17 thành phố Hải Phòng”.
Thực tế cho thấy chưa có tác giả nào đi sâu nghiên cứu vấn đề này. Do vậy
chúng tôi mạnh dạn nghiên cứu đề tài:
Xuất phát từ lý do trên chúng tôi mạnh dạn tiến hành nghiên cứu đề tài:
“Nghiên cứu tiêu chuẩn đánh giá trình độ thể lực chuyên môn cho nữ
vận động viên súng trường thể thao 3x20 lứa tuổi 15 – 17 câu lạc bộ bắn súng
quân đội”
* Mục đích nghiên cứu
Dựa trên cơ sở thực tiễn trong công tác huấn luyện VĐV bắn súng trường
thể thao hiện nay, đề tài xây dựng tiêu chuẩn cụ thể để đánh giá thể lực chuyên
môn cho nữ VĐV súng trường thể thao, làm cơ sở để tuyển chọn thể lực cho
VĐV bắn súng trường thể thao nói chung, góp phần nâng cao hiệu quả trong quá
trình đào tạo VĐV bắn súng CLB bắn súng Quân đội. Mục đích nghiên cứu
nhằm đánh giá thể lực chuyên môn cho nữ VĐV súng trường thể thao 3x20 lứa
3
tuổi 15 – 17 câu lạc bộ bắn súng Quân đội, từ đó làm căn cứ để áp dụng các bài
nhau.
Qua phân tích các tài liệu thu thập được ở trong nước và nước ngoài thì
trình độ tập luyện được thể hiện qua một số đặc điểm sau:
* Những biến đổi và thích nghi về trạng thái và chức năng diễn ra trong cơ
thể VĐV dưới tác dụng của lượng vận động tập luyện và lượng vận động thi đấu
* Trình độ tập luyện bao gồm nhiều mặt, nhiều thành phần nhưng dựa trên
cơ sở khoa học, không phải là bất biến mà là một trạng thái luôn biến động trong
quá trình tập luyện.
5
* Thành tích thể thao được xem là yếu tố cơ bản của trình độ tập luyện.
Từ những kết quả phân tích được trình bày ở trên có thể hiểu:
Trình độ tập luyện VĐV Bắn súng là trình độ nâng cao của yếu tố thể lực,
kĩ chiến thuật chức năng và các phẩm chất tâm lý của VĐV thông qua quá trình
tập luyện và được thể hiện chung nhất bằng thành tích thi đấu của VĐV. Trình
độ này được phát triển và nâng cao nhờ tác động của LVĐ tập luyện và LVĐ thi
đấu trong môn Bắn súng. Trình độ tập luyện là phức hợp gồm nhiều mặt thể lực
là một mặt cấu thành của trình độ tập luyện nói chung và là nền tảng nâng cao
trình độ tập luyện các mặt khác.
Trình độ tập luyện bao gồm các yếu tố bên trong về y – sinh như hình thái,
sinh lý, sinh hóa và các yếu tố bộc lộ bên ngoài như thể lực chung, thể lực
chuyện môn, kỹ thuật, chiến thuật và các phẩm chất tâm lý. Nó là một trạng tháI
động luôn luôn phát triển theo các quy luật phát triển thành tích thể thao tùy
thuộc vào đặc điểm giới tính, độ tuổi và môn thể thao chuyên sâu.
Theo tác giả Diên Phong thì: “Trình độ huấn luyện của VĐV do năm yếu tố
cấu thành gồm trình độ huấn luyện thể lực, trình độ huấn luyện kỹ thuật, trình độ
huấn luyện chiến thuật, trình độ huấn luyện trí lực, trình độ huấn luyện tâm lý”
được biểu diễn ở sơ đồ dưới đây
Sơ đồ: Trình độ huấn luyện của VĐV
Trình độ huấn
luyện của VĐV
6
1.2. Vai trò của thể lực chuyên môn đối với thành tích của VĐV Bắn
súng.
Trong bất kỳ giai đoạn nào của quá trình đào tạo VĐV, việc chuẩn bị thể
lực tốt được coi là nền tảng nâng cao thành tích thi đấu. Mối quan hệ giữa thể
lực, kỹ chiến thuật, tâm lý và ý chí của VĐV là mối quan hệ hữu cơ. Một VĐV
muốn đạt được thành tích cao trong thi đấu thì không chỉ đơn thuần là tập luyện
kỹ thuật mà việc tập luyện thể lực toàn diện làm cho cơ thể khỏe mạnh phát triển
các tố chất vận động nhanh, mạnh, bền, khéo léo, mềm dẻo đó là cơ sở giúp cho
VĐV có thể tiếp thu nhanh chóng, chính xác kỹ thuật động tác, đồng thời đóng
vai trò quan trọng trong rèn luyện chiến thuật, tâm lý, ý chí và nâng cao thành
tích trong môn thể thao. Huấn luyện thể lực là quá trình tác động liên tục và theo
kế hoạch sắp xếp hợp lý bằng những bài tập nhằm phát triển các tố chất thể lực
và khả năng vận đông, quá trình tác động sâu sắc đối với hệ thần kinh, cơ bắp
cũng như cơ quan nội tạng của con người.
Bắn súng là một môn thể thao mang tính chất vừa trí tuệ vừa hoạt động tĩnh
lực, hoạt động thần kinh nhiều hơn hoạt động cơ bắp. Môn Bắn súng thể thao
đòi hỏi người tập phải có thần kinh vững vàng, tính khéo léo thực hiện kỹ thuật
động tác mà còn phải có thể lực tốt ở sức mạnh ở các cơ tham gia giữ súng im
cùng với sức bền chung và sức bền chuyên môn khi bắn trong nhiều giờ liền mà
mức độ chính xác không bị giảm sút, do đó việc tập thể lực toàn diện ở VĐV
đóng vai trò rất quan trọng.
Quá trình huấn luyện cho VĐV bao gồm:
* Huấn luyện thể lực chung.
Là quá trình giáo dục toàn diện những năng lực thể chất cho VĐV, nội
dung huấn luyện thể lực chung rất đa dạng chủ yếu sử dụng các bài tập khác
nhau để nâng cao những khả năng chức phận của cơ thể, phát triển toàn diện
nhữg năng lực thể chất và làm phong phú thêm vốn kỹ năng kỹ xảo vận động
của VĐV.
7
hướng đúng tính độc lập trong tư duy sẽ giúp các em phát triển theo chiều
hướng tốt. Hứng thú là tiền đề của sáng tạo. Hứng thú đã được xác định rõ rệt
hơn, mang tính bền vững sâu sắc và phong phú hơn. Hứng thú của các em rất
năng động, các em sẵn sàng đi vào lĩnh vực tri thức mình yêu thích. Việc giảng
dạy TDTT cũng như các lĩnh vực mà các em yêu thích, điều đó sẽ giúp các em
tự giác tích cực trong tập luyện. Trí nhớ của các em cũng có nhiều biến đổi,
năng lực nghi nhớ có chủ định tăng lên rõ rệt, cách thức nghi nhớ được cải tiến,
xuất hiện ghi nhớ cũng nâng cao, các em nghi nhớ có tính logic. Vì vậy giáo
viên cần dạy cho học sinh cách nghi nhớ có chọn lọc. Thiếu niên rất nhạy cảm
với sự đánh giá của người xung quanh mình, do đó đôi khi chỉ một thành công
ngẫu nhiên nhưng được mọi người chú ý cũng làm cho các em tự đánh giá quá
cao về bản thân mình và như vậy các em sinh ra tính tự kiêu, tự mãn. Nhưng
ngược lại, dù chỉ thất bại tam thời nhưng bị mọi người dè bửu cũng có thể gây
cho các em tính tự ti, rụt rè nên sẽ ảnh hưởng không tốt đến các em. Vì vậy,
chúng ta cần phải uốn nắn hoặc nhắc nhở chỉ bảo định hướng, động viên khen
thưởng các em thì việc giáo dục mới đạt hiệu quả cao.
1.3.2. Đặc điểm sinh lý lứa tuổi 15-17
Ở lứa tuổi này cơ thể các em phát triển nhanh nhưng chưa hoàn thiện, hệ
thống các cơ quan trong cơ thể vẫn có nhiều biến đổi.
* Hệ Thần Kinh : Bộ não của các em đang trong thời kỳ hoàn chỉnh, tế bào
thần kinh còn yếu, hoạt động thần kinh chưa ổn định, hưng phấn chiếm ưu thế.
Vì vậy trong học tập dễ tập trung tư tưởng, nhưng nếu thời gian kéo dài, nội
dung nghèo nàn, hình thức hoạt động đơn điệu thì thần kinh sẽ chóng mệt mỏi
và dễ phân tán sự chú ý. Do hoạt động hệ thần kinh của các em linh hoạt nên dễ
tiếp thu kiến thức, do vậy khi tiến hành giảng dạy, huấn luyện thì đòi hỏi phải
làm rõ nội dung, hình thức tập luyện phải phong phú,đa dạng và làm mẫu có
trọng tâm, chính xác, đúng lúc. Ngoài ra cần tâng cường tập luyện thể thao cùng
với hình thức vui chơi khác.
* Hệ Vận Động
9
qua đường tiêu hóa tương đối cao, VĐV ở giai đoạn này dễ bị giảm cân do chế
độ dinh dưỡng và sinh hoạt.
* Hệ Bài Tiết: Chịu sự tác động của các tuyến nội tiết phát triển nên cũng
phát triển và có tác động tốt đối với việc điều hòa thân nhiệt do tiêu hóa và bài
tiết tốt nên các em có khả năng hồi phục nhanh.
Hệ Sinh Dục: Đã phát triển thể hiện những nét đặc trưng của giới tính rõ
ràng, sự phát triển của hệ sinh dục ở lứa tuổi này sẽ làm thay đổi tâm lý của các
em khi sủ dụng các hình thức, phương pháp giáo dục. Do vậy giáo viên, huấn
luyện viên cần đặc biệt lưu ý đến vấn đề này.
Qua nghiên cứu chương 1, đề tài đã làm sáng tỏ các vấn đề lý luận có liên
quan tới trình độ thể lực chuyên môn của VĐV Bắn súng thể thao lứa tuổi 15-
17.Đó sẽ là cơ sở lý luận để tiến hành các bước nghiên cứu tiếp theo của đề tài.
11
CHƯƠNG 2. PHƯƠNG PHÁP VÀ TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU
2.1. Phương pháp nghiên cứu
2.1.1. Phương pháp đọc và phân tích tổng hợp tài liệu
Sử dụng phương pháp nhằm tìm ra các cơ sở chung, chuyên môn.chúng tôi
đã đọc và phân tích ,tổng hợp nhiều vấn đề có ý nghĩa khoa học cho việc lựa
chọn ra các chỉ tiêu một cách chính xác hơn.
Chúng tôi đã sử dụng sách và tham khảo tài liệu:
- Các tài liệu gồm có: các chỉ thị, văn bản, quyết định của Đảng và Nhà
Nước về thể dục thể thao trong giai đoạn mới, định hướng công tác thể dục thể
thao
- Các sách gồm có: sách lý luận, tâm lý, sinh lý học, các sách huấn luyện, về
chuyên môn bắn song thể thao.
- Các đề tài nghiên cứu về môn Bắn súng thể thao, các tài liệu nghiên cứu
khoa học tuyển chọn thể dục thể thao
2.1.2. Phương pháp phỏng vấn tọa đàm
Thông qua phỏng vấn trực tiếp và giáp tiếp, phương pháp này được sử
dụng trong quá trình nghiên cứu nhằm tìm hiểu thu thập các tư liệu và thông tin
VĐV đó giương khẩu súng đó và ngắm vào bộ bia có cảm ứng điện tử ở một
khoảng cách nhất định (10 mét). Độ ổn định của súng khi VĐV đó giương súng
được vạch ra thành các đường trên màn hình vô tuyến.
Kết quả được đánh giá bằng thời gian qui định giữ súng ổn định trên bia
và giao động của súng là nhỏ nhất thời gian ổn định càng lâu thì VĐV đó có tính
ổn định càng tốt.
- Test bắn tính độ chụm 20 viên (10 viên /bia )
Cách thức tiến hành :Đối tượng kiểm tra vào vị trí bắn với số lượng đạn
là 60 viên trong đó 20 viên (10 viên/bia) ở tư thế Nằm,20 viên ở tư thế Đứng,
20 viên ở tư thế Qùy. Khi kết thúc người kiểm tra thu bia đo độ chụm. Độ chụm
tính bằng khoảng cách 2 viên xa nhất ( chiều ngang và chiều dọc của bia ).
13
- Test bắn tính điểm 20 viên ( điểm)
Cách thức tiến hành : Đối tượng kiểm tra vào vị trí bắn với só lượng đạn là
60 viên trong đó 20 viên ở tư thế Nằm, 20 viên ở tư thế Đứng, 20 viên ở tư thế
Qùy. Thang điểm chấm là tổng điểm của 20 viên đạn ở mỗi tư thế theo điểm
chạm trên bia ( tư vòng 1 đến vòng 10 )
2.1.5. Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Sau khi tiến hành kiểm tra ban đầu chúng tôi đã phân chia 16 VĐV nữ súng
trường thể thao câu lạc bộ Bắn súng Quân Đội.
- Nhóm A: là nhóm thực nghiệm gồm 8 VĐV
- Nhóm B: là nhóm đối chứng gồm 8 VĐV
Nội dung thực nghiệm: Các bài tập nhằm phát triển thể lưc chuyên môn của
nữ VĐV súng trường thể thao lứa tuổi 15-17 do chúng tôi nghiên cứu đươc thể
hiện ở kết quả nghiên cứu của nhiệm vụ 1, 2.
Trong quá trình nghiên cứu chúng tôi sử dụng phương pháp thực nghiệm so
sáng song song hai nhóm thực nghiệm và đối chiếu.
2.1.6. Phương pháp toán thống kê
Trong đề tài chúng tôi sử dụng phương pháp toán học thống kê nhằm giúp
cho việc đánh giá thể lực chuyên môn cho nữ VĐV súng trường thể thao 3x20
xx
i
δ
- Hệ số tương quan thứ bậc:
r = 1 -
)1(
6
2
−
∑
nn
dx
Trong đó:
r : hệ số tương quan
n :là chỉ số đối tượng quan sát.
1 và 6 : là hằng số.
d = dx – dy: Sự khác biệt của từng cặp biến số về thứ bậc x và y.
d
x
, d
y
: là chỉ số thứ tự xếp hạng tương ứng.
- Tính điểm các thông số thể lực theo công thức của Binét (1927)
C = 5 + 2Z
Trong đó :
δ
xx
i
=
=Ζ
- Giai đoan 3: Từ tháng 9 năm 2010 đến tháng 3 năm 2011: Kiểm nghiệm
hệ thống các test lựa chọn trên đối tượng nghiên cứu.
- Giai đoạn 4: Từ tháng 4 năm 2011 đến hết tháng 5 năm 2011: Viết và
hoàn thiện luận văn, báo cáo trước Hội Đồng khoa học.
16
CHƯƠNG 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN
3.1. Giải quyết mục tiêu 1: Thực trạng trình độ thể lực chuyên môn
cho nữ VĐV súng trường thể thao 3 x 20 lứa tuổi (15-17) CLB Bắn súng
Quân Đội.
Để giải quyết mục tiêu 1, đề tài tiến hành theo các bước:
- Thực trạng công tác đánh giá trình độ thể lực chuyên môn của nữ VĐV
súng trường thể thao 3x20 CLB Quân Đội lứa tuổi 15-17.
- Lựa chọn các test đánh giá thể lực chuyên môn cho nữ VĐV súng trường
thể thao lứa tuổi 15 – 17.
+ Xác định nguyên tắc lựa chọn chỉ tiêu và test đánh giá thể lực chuyên
môn cho nữ VĐV súng trường thể thao 3x20 lứa tuổi 15 – 17 CLB Bắn súng
Quân Đội.
+ Lựa chọn test đánh giá thể lực chuyên môn cho nữ VĐV súng trường thể
thao 3x20 lứa tuổi 15 – 17 CLB Bắn súng Quân Đội.
+ Xác định độ tin cậy của các chỉ tiêu đánh giá thể lực chuyên môn cho nữ
VĐV súng trường thể thao 3x20 lứa tuổi 15 – 17 CLB Bắn súng Quân Đội.
Sau đây là kết quả nghiên cứu cụ thể từng bước:
3.1.1. Thực trạng công tác đánh giá trình độ thể lực chuyên môn cho nữ
vận động viên súng trường thể thao 3 x 20 CLB Bắn súng Quân Đội lứa tuổi
15 – 17.
Để đánh giá thực trạng công tác đánh giá trình độ thể lực chuyên môn cho
nữ VĐV bắn súng trường thể thao 3 x 20 CLB bắn súng Quân Đội trước hết
thông qua quan sát sư thực tế các buổi kiểm tra trình độ VĐV, qua phỏng vấn
trực tiếp các huấn luyện viên làm công tác huấn luyện VĐV bắn súng trường thể
thao 3 x 20 CLB bắn súng Quân Đội cũng như phân tích chương trình, giáo án
18
tổng hợp các tư liệu về khoa học chuyên ngành và một số tài liệu có liên quan
đến chuyên môn, đề tài bước đầu đã lựa chọn được các nguyên tắc có quan hệ
với việc lựa chọn chỉ tiêu đánh giá trình độ tập luyện cho nữ VĐV bắn súng
trường thể thao 3 x 20 lứa tuổi 15 – 17 CLB bắn súng Quân Đội.
Sau khi lựa chọn được các nguyên tắc sử dụng trong quá trình lựa chọn tiêu
chuẩn trình độ tập luyện cho nữ VĐV bắn súng trường thể thao 3 x 20 lứa tuổi
15 – 17 CLB bắn súng Quân Đội, nhằm tăng độ tin cậy và tính khách quan của
kết quả nghiên cứu đề tài đã tiến hành phỏng vấn mức độ cần thiết của các
nguyên tắc đó khi sử dụng. Đề tài phát 20 phiếu cho các đối tượng, thu về 18
phiếu trong đó có 3 phiếu của các chuyên gia (có học vị tiến sỹ chuyên ngành
trở lên), 12 phiếu của các huấn luyện viên (đã có kinh nghiệm huấn luyện trên
10 năm) môn bắn súng nội dung súng trường thể thao, 3 phiếu của các giảng
viên (có học vị thạc sỹ trở lên) đang giảng dạy nội dung súng trường thể thao.
Cụ thể kết quả thành phần phỏng vấn được trình bày ở biểu đồ 3.1
Biểu đồ 3.1. Tỷ lệ thành phần đối tượng phỏng vấn.
Sự cần thiết được đánh giá theo 3 mức độ ứng với các thang điểm như sau:
+ Ưu tiên 1 (luôn chú ý khi lựa chọn chỉ tiêu).
+ Ưu tiên 2 (cần chú ý khi lựa chọn test).
+ Ưu tiên 3 (không phụ thuộc khi lựa chọn chỉ têu).
19
Đề tài sẽ lựa chọn những nguyên tắc đạt từ 80% mức ưu tiên 1 trở lên để
làm nguyên tắc lựa chọn chỉ tiêu, test đánh giá trình độ tập luyện thể lực chuyên
môn cho nữ VĐV bắn súng trường thể thao 3 x 20 lứa tuổi 15 – 17 CLB bắn
súng Quân Đội. Kết quả phỏng vấn được trình bày ở bảng 3.2:
Bảng 3.2. Kết quả phỏng vấn xác định nguyên tắc lựa chọn chỉ tiêu
đánh giá trình độ tập luyện cho nữ VĐV bắn súng trường thể thao 3 x 20
lứa tuổi 15 – 17 CLB bắn súng Quân Đội (n=18)
TT Nội dung phỏng vấn
Kết quả lựa chọn
và các tỉnh lân cận để tìm hiểu các Test được sử dụng trong đánh giá trình độ
nữ VĐV bắn súng trường thể thao, sau đó đưa ra phỏng vấn nhằm thu thập ý
20
kiến đóng góp của các huấn luyện viên, giáo viên môn bắn súng trường thể
thao.
Qua kết quả phỏng vấn ®Ò tµi lùa chän ®îc c¸c chØ tiªu sau:
1. Đánh giá độ ổn định trên máy bắn lasez (giây).
2. Khả năng thăng bằng tĩnh (giây).
3. Giữ tạ (phút).
4. Test cảm giác lực cơ (kg).
5. Bắn 20
V
tính điểm (đ).
6. Bắn tính độ chụm 20
V
10
V
/1bia (cm).
Mặt khác để tìm hiểu phù hợp trong đánh giá thể lực chuyên môn cho đối
tượng nghiên cứu, để tiến hành nghiên cứu chọn các biện pháp chúng tôi đã tổng
hợp 1 số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả huấn luyên cho các VĐV và tiến
hành phỏng vấn các HLV, giảng viên, giáo viên đang giảng dạy nội dung súng
trường thể thao đã thu được những biện pháp để nâng cao trình độ thể lực
chuyên môn cho nữ VĐV súng trường thể thao 3x20 lứa tuổi 15 – 17 CLB bắn
súng Quân đội. Đề tài sẽ lựa chọn những chỉ tiêu đạt từ 80% tổng số điểm phỏng
vấn trở lên để đánh giá trình độ thể lực chuyên môn cho đối tượng nghiên cứu
được trình bày ở bảng 3.3:
21
Bảng 3.3. Kết quả phỏng vấn lựa chọn chỉ tiêu đánh giá thể lực chuyên
môn cho nữ VĐV bắn súng thể thao 3 x 20 lứa tuổi 15 – 17 CLB bắn súng
V
/1bia (cm)
16 88,88 2 11,12
6 Bắn 20
V
tính điểm (đ) 17 94,44 1 5,56
1
Đứng
Khả năng thăng bằng tĩnh
(giây)
14 77,77 4 22,23
2 Giữ tạ (phút) 14 77,77 4 22,23
3 Test cảm giác lực cơ (kg) 13 72,22 5 27,78
4
Đánh giá độ ổn định trên
máy bắn lasez (giây)
17 94,44 1 5,56
5
Bắn tính độ chụm 20
V
10
V
/1bia (cm)
16 88,88 2 11,12
6 Bắn 20
V
tính điểm (đ) 17 94,44 1 5,56
1
Quỳ
/1bia (cm)
- Bắn 20
V
tính điểm (đ)
Các test còn lại vì có điểm phỏng vấn nhở hơn 80% tổng điểm tối đa nên
theo nguyên tắc phỏng vấn đặt ra, đề tài loại khỏi vòng thử nghiệm tiếp theo. Cụ
thể gồm:
- Khả năng thăng bằng tĩnh (giây)
- Giữ tạ (phút).
- Test cảm giác lực cơ (kg).
Như vậy, qua phỏng vấn đề tài đã lựa chọn được 3 Test đánh giá thể lực
chuyên môn cho nữ VĐV súng trường thể thao 3 x 20 lứa tuổi 15 – 17 CLB bắn
súng Quân Đội.
3.1.2.3. Xác định độ tin cậy của các chỉ tiêu đánh giá thể lực chuyên
môn cho nữ vận động viên súng trường thể thao 3 x 20 lứa tuổi 15 – 17 CLB
bắn súng Quân Đội.
Trong thực tế chỉ một chỉ tiêu được sử dụng rộng rãi trong nghiên cứu cũng
như trong thực tiễn huấn luyện, đánh giá trình độ VĐV phải đảm bảo tính thông
báo và độ tin cậy.
Để xác định hệ số tin cậy của Test có ba phương pháp là phương pháp Test
lặp lại, phương pháp Test gấp đôi và phương pháp Test hình thức song song. ở
đây đề tài sử dụng phương pháp Test lặp lại. Để đánh giá độ tin cậy của Test qua
phỏng vấn phải kiểm nghiệm bằng phương pháp Test lặp lại (lặp lại hai lần yêu
cầu của Test cách nhau 7 ngày), ở nữ VĐV bắn súng trường thể thao 3 x 20 lứa
tuổi 15 – 17 CLB bắn súng Quân Đội, (mỗi lứa tuổi 10 người). Tuần tự lập test
của các đối tượng và điều kiện lập test được đảm bảo như nhau. Kết quả lập test
được trình bày ở bảng 3.4.
23
Thông qua kết quả thu được ở bảng 3.4 cho thấy: Trong 3 chỉ tiêu đánh giá
thể lực chuyên môn đưa ra phỏng vấn, cả 3 chỉ tiêu đạt độ tin cậy r ≥ 0.80 (với
(giây)
0,75 <0,05 0,80 <0,05 0,78 <0,05
Bắn tính độ chụm
20viên 10
V
/1bia (cm)
0,82 <0,05 0,84 <0,05 0,84 <0,05
Bắn tính điểm
20viên(đ)
0,87 <0,05 0,82 <0,05 0,85 <0,05
2 Đứng
Đánh giá độ ổn định
trên máy bắn lasez
(giây)
0,76 <0,05 0,81 <0,05 0,82 <0,05
Bắn tính độ chụm
20viên 10
V
/1bia (cm)
0,81 <0,05 0,83 <0,05 0,83 <0,05
Bắn tính điểm
20viên(đ)
0,78 <0,05 0,82 <0,05 0,85 <0,05
3 Quỳ
Đánh giá độ ổn định
trên máy bắn lasez
(giây)
0,74 <0,05 0,78 <0,05 0,80 <0,05
Bắn tính độ chụm
20viên 10