Nghiên cứu xây dựng tiêu chuẩn đánh giá trình độ thể lực chuyên môn cho nữ vận động viên vật tự do lứa tuổi 14 – 15 của thành phố hà nội - Pdf 43

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI

VŨ THỊ MAI

NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG TIÊU CHUẨN ĐÁNH
GIÁ TRÌNH ĐỘ THỂ LỰC CHUYÊN MÔN CHO NỮ
VẬN ĐỘNG VIÊN VẬT TỰ DO LỨA TUỔI 14-15
CỦA PHỐ HÀ NỘI

Chuyên ngành : Giáo dục Thể chất
Mã số : 60.14.01.03

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học:
PGS.TS Phạm Đông Đức

HÀ NỘI - 2017


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số
liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố
trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác.
Tác giả đề tài

Vũ Thị Mai


DANH MỤC VIẾT TẮT


L

Lần

CM

Centimét


DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1. Kết quả phỏng vấn các chỉ tiêu đánh giá trình độ thể lực của nữ
VĐV Vật tự do lứa tuổi 14-15 ....................................................................... 42
Bảng 2.2. Hệ số tương quan của các chỉ tiêu lựa chọn với thành tích thi đấu
của nữ VĐV Vật tự do lứa tuổi 14-15........................................................... 46
Bảng 2.3. Độ tin cậy của các test đánh giá trình độ thể lực ở nữ VĐV Vật tự
do lứa tuổi 14 (n = 15)..................................................................................... 48
Bảng 2.4. Độ tin cậy của các test đánh giá trình độ thể lực ở nữ VĐV Vật tự
do lứa tuổi 15 (n = 15)..................................................................................... 49
Bảng 3.1. Kết quả kiểm tra trình độ thể lực của nữ VĐV Vật tự do lứa tuổi
14 – 15 ............................................................................................................. 53
Bảng 3.2. Tiêu chuẩn phân loại trình độ thể lực của nữ VĐV Vật tự do lứa
tuổi 14. ............................................................................................................. 55
Bảng 3.3. Tiêu chuẩn phân loại trình độ thể lực của nữ VĐV Vật tự do lứa
tuổi 15. ............................................................................................................. 57
Bảng 3.4. Bảng điểm tổng hợp đánh giá trình độ tập luyện của nữ VĐV Vật
tự do lứa tuổi 14. ............................................................................................. 59
Bảng 4.5. Bảng điểm tổng hợp đánh giá trình độ tập luyện của nữ VĐV Vật
tự do lứa tuổi 15. ............................................................................................. 61
Bảng 3.6. Bảng điểm tổng hợp đánh giá trình độ tập luyện ........................... 64

VĐV Vật tự do lứa tuổi 14-15. ................................................................. 47


CHƢƠNG 3: XÂY DỰNG TIÊU CHUẨN ĐÁNH GIÁ TRÌNH ĐỘ THỂ
LỰC CHO NỮ VẬN ĐỘNG VIÊN VẬT TỰ DO LỨA TUỔI 14 – 15
CỦA THÀNH PHỐ HÀ NỘI ....................................................................... 52
3.1. So sánh trình độ thể lực của nữ VĐV Vật tự do lứa tuổi 14-15
Thành phố Hà Nội ..................................................................................... 53
3.2. Xây dựng tiêu chuẩn phân loại trình độ thể lực cho nữ VĐV Vật
tự do lứa tuổi 14 - 15. ................................................................................ 55
3.3. Xây dựng bảng điểm tổng hợp đánh giá trình độ thể lực của nữ
VĐV Vật tự do lứa tuổi 14-15. ................................................................. 58
3.3.1. Xây dựng bảng điểm tổng hợp đánh giá trình độ thể lực của nữ
VĐV Vật tự do lứa tuổi 14-15. ............................................................... 58
3.3.2. Xây dựng bảng điểm tổng hợp đánh giá trình độ thể lực của nữ
VĐV Vật tự do lứa tuổi 14-15. ................................................................... 63
3.3.3. Kiểm nghiệm tiêu chuẩn đánh giá trình độ thể lực của VĐV Vật
tự do lứa tuổi 14-15 đã xây dựng trong thực tiễn.................................... 66
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ...................................................................... 68
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 70


PHẦN MỞ ĐẦU
1. Đặt vấn đề
Trong những năm gần đây, nhờ những thành tựu lớn lao về kinh tế - xã
hội của đất nước, TDTT nước ta đã hội nhập thành công với khu vực và quốc
tế. Trong các kỳ Đại hội thể thao Đông Nam Á chúng ta luôn giữ vị trí là một
trong ba quốc gia đứng đầu. Trong các kỳ Đại hội thể thao Châu Á, nước ta
đứng thứ hạng trung bình khá. Tại Đại hội thể thao Olympic chúng ta cũng đã
có huy chương ở một số môn. Hiện nay, nước ta có hệ thống tổ chức đào tạo

thể thao TTC”
Thể thao TTC ở nước ta cần phải tích cực đổi mới để theo kịp xu thế
phát triển của quốc tế trong những năm gần đây:
Xu thế mới của quốc tế biểu hiện ở những vấn đề sau đây:
Trình độ thể thao TTC tăng trưởng rõ rệt do các quốc gia đều gia tăng
tranh chấp huy chương trong Đại hội thể thao Olympic.
Tần số các cuộc thi đấu tăng rõ làm thay đổi quan điểm huấn luyện cũ.
Hàm lượng khoa học công nghệ gia tăng, trở thành nhân tố quan trọng
để nâng cao thành tích thể thao.
Thể thao TTC ảnh hưởng ngày càng lớn tới chuyên nghiệp hóa và kinh
doanh TDTT.
Nhiều quốc gia có sự điều chỉnh lớn về thể thao TTC như cơ cấu đầu
tư, lựa chọn môn thể thao trọng điểm, sự tập trung cao độ đào tạo VĐV…
Những lý do trên khiến nước ta phải sớm có chiến lược phát triển thể thao
TTC, trong đó phải xác định đúng các VĐV, môn thể thao trọng điểm. Với
thành tích đã qua và tiềm lực còn lớn, chắc chắn môn Vật tự do vẫn được lựa
chọn là môn thể thao trọng điểm trong tương lai. Để tiếp tục nâng cao thành
tích của môn Vật tự do, phải chú trọng nâng cao chất lượng và hiệu quả huấn
luyện. Thế giới thừa nhận, chất lượng và hiệu quả HLTT được phản ánh qua
TĐTL của VĐV. Vì vậy, TĐTL của VĐV Vật tự do trình độ cao đã được
2


nghiên cứu ít nhiều ở nước ta trong những năm gần đây. Tuy nhiên, TĐTL
của VĐV Vật tự do trẻ vẫn chưa được nghiên cứu, đặc biệt đối với VĐV 14 15 tuổi, bắt đầu bước vào giai đoạn huấn luyện chuyên môn hóa ban đầu.
TĐTL ở VĐV Vật tự do trẻ rất cần được nghiên cứu, mặc dù các thành phần
cấu thành TĐTL rất rộng, chỉ có thể nghiên cứu sâu từng bước cho từng độ
tuổi. Chính vì lý do này, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: " Nghiên cứu xây
dựng tiêu chuẩn đánh giá trình độ thể lực chuyên môn cho nữ vận động
viên Vật tự do lứa tuổi 14-15 của thành phố Hà Nội "

5.1. Nhiệm vụ 1 : Lựa chọn các test đánh giá trình độ thể lực chuyên
môn cho nữ vận động viên Vật tự do lứa tuổi 14-15 của thành phố Hà Nội.
- Tổng hợp các test đánh giá trình độ thể lực chuyên môn cho nữ vận
động viên Vật tự do lứa tuổi 14-15 qua tài liệu và thực tế.
- Phỏng vấn các nhà chuyên môn để lựa chọn các test đánh giá trình độ
thể lực chuyên môn cho nữ vận động viên Vật tự do lứa tuổi 14-15 của thành
phố Hà Nội.
- Xác định độ tin cậy và tính thông báo của các test đánh giá trình độ
thể lực chuyên môn cho nữ vận động viên Vật tự do lứa tuổi 14-15 của thành
phố Hà Nội.
5.1. Nhiệm vụ 2 :: Xây dựng và kiểm nghiệm hiệu quả các tiêu chuẩn
đánh giá trình độ thể lực chuyên môn cho nữ vận động viên Vật tự do

lứa

tuổi 14-15 của thành phố Hà Nội.
- Xây dựng tiêu chuẩn phân loại cho các chỉ tiêu đánh giá trình độ
thể lực chuyên môn cho nữ vận động viên Vật tự do lứa tuổi 14-15 của thành
phố Hà Nội.
- Xây dựng thang điểm cho các chỉ tiêu đánh giá trình độ thể lực
chuyên môn cho nữ vận động viên Vật tự do lứa tuổi 14-15 của thành phố Hà
Nội.
- Xây dựng bảng điểm tổng hợp cho các chỉ tiêu đánh giá trình độ thể
lực chuyên môn cho nữ vận động viên Vật tự do lứa tuổi 14-15 của thành phố
Hà Nội.
- Ứng dụng các tiêu chuẩn vào đánh giá trình độ thể lực chuyên môn
cho nữ vận động viên Vật tự do lứa tuổi 14-15 của thành phố Hà Nội.

4


5


Chúng tôi sử dụng phương pháp này nhằm tiếp thu những ý kiến của các
nhà chuyên môn đang giảng dạy, huấn luyện, quản lý môn vật ở nước ta hiện
nay bằng hình thức phiếu hỏi và hình thức trao đổi mạn đàm.
Đối tượng phỏng vấn của đề tài là các HLV, giáo viên, các nhà quản
lý chuyên môn vật trong cả nước. Những vấn đề mà đề tài quan tâm khi sử
dụng phương pháp này là: Các hình thức nhằm lựa chọn test đánh giá thể lực
cho nữ VĐV Vật tự do lứa tuổi 14 – 15 của của thành phố Hà Nội. Đây là
những căn cứ khoa học để lựa chọn và sắp xếp các tiêu chuẩn mang tính chất
đại diện cho từng tố chất thể lực.
7.3 Phương pháp quan sát sư phạm.
Đề tài sử dụng phương pháp quan sát sư phạm để thu thập những thông
tin cần thiết từ đối tượng nghiên cứu, phát hiện các vấn đề nghiên cứu liên
quan đến đề tài, đánh giá được thực trạng việc sử dụng các test đánh giá thể
lực của VĐV ở các đơn vị huấn luyện. Từ đó tổng hợp và tiến hành phỏng
vấn để lựa chọn test đánh giá trình độ thể lực cho nữ VĐV Vật tự do lứa tuổi
14 - 15.
7.4. Phương pháp kiểm tra sư phạm
Phương pháp này được sử dụng để kiểm tra trình độ thể lực cho nữ
VĐV Vật tự do lứa tuổi 14 – 15 của thành phố Hà Nội, trên cơ sở đó phân
loại chúng theo các tiêu chuẩn mà đề tài mới xây dựng, sau đó so sánh với
trình độ thi đấu của đối tượng này để thấy sự tương thích giữa hai khả năng,
trình độ thể lực và trình độ thi đấu của các VĐV. Đây là một trong những cơ
sở để đi tới kết luận về độ chuẩn xác của các tiêu chuẩn mà đề tài mới xây
dựng.
7.5. Phương pháp toán học thống kê:

6


  2

2

4/ Hệ số tương quan thứ bậc:

6 xd 2
r=1n(n 2  1)
Trong đó : 1 và 6 là hằng số
d = dx-dy : sự khác biệt của từng cặp biến số
về thứ bậc x và y.
n : Số lượng đối tượng quan trắc.
5/ Công thức so sánh giá trị trung bình

t

x1  x 2

 12
n1



 22
n2

6/ Sai số của số trung bình

x 

- Xác định được tiêu chí đánh giá thể lực chuyên môn cho nữ vận động
viên Vật tự do lứa tuổi 14-15 của của thành phố Hà Nội.
- Xây dựng được tiêu chuẩn đánh giá thể lực chuyên môn cho nữ vận
động viên Vật tự do lứa tuổi 14-15 của của thành phố Hà Nội.
- Đánh giá được thực trạng thể lực chuyên môn cho nữ vận động viên
Vật tự do lứa tuổi 14-15 của của thành phố Hà Nội.
- Xác định được độ chuẩn xác của các tiêu chí đánh giá thể lực chuyên
môn cho nữ vận động viên Vật tự do lứa tuổi 14-15 của của thành phố Hà
Nội.
9. Cấu trúc của luận văn.
Ngoài phần mở đầu và kết luận và kiến nghị
Phần nội dung gồm 3 chương
Chương 1: Tổng quan các vấn đề nghiên cứu
Chương 2: : Nghiên cứu lựa chọn các test đánh giá trình độ thể lực của nữ vận
động viên vật tự do lứa tuổi 14 – 15 thành phố Hà Nội
Chương 3: xây dựng tiêu chuẩn đánh giá trình độ thể lực cho nữ vận động
viên vật tự do lứa tuổi 14 – 15 của thành phố Hà Nội

8


CHƢƠNG 1: TỔNG QUÁT CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Tổng quan về trình độ tập luyện.
1.1.1 Các khái niệm về trình độ tập luyện.
Từ những năm 60 - 70 của thế kỷ trước đến nay rất nhiều nhà khoa học
đã nghiên cứu, đưa ra các định nghĩa về HLTT và TĐTL trong HLTT. Một số
nhà khoa học nước ta đã tham khảo các tài liệu nước ngoài, chủ yếu của Liên
Xô, CHDC Đức (cũ), Trung Quốc để biên soạn hoặc dịch sách dùng để giảng
dạy cho các trường đại học thể dục thể thao về “Lý luận và phương pháp thể
dục thể thao”, “Học thuyết huấn luyện”, trong đó có đề cập tới TĐTL,

tâm lý”.
Theo quan điểm sư phạm việc đánh giá TĐTL của VĐV chủ yếu dựa
trên những biến đổi về năng lực thể thao gồm kỹ - chiến thuật, thể lực và tâm
lý. Thông qua LVĐ, các năng lực của VĐV được nâng lên dần dần, mặt khác
giữa các năng lực đó được liên kết chặt chẽ với nhau có tác động qua lại. Để
xác định TĐTL của VĐV một môn thể thao nhất định phải xem xét các yếu tố
cấu thành năng lực vận động và lựa chọn tổ hợp các chỉ tiêu đặc trưng xác
định mức độ thích ứng của VĐV đó dưới ảnh hưởng của LVĐ.
Theo D.Harre (1996), HLTT là một quá trình sư phạm nhằm hoàn thiện
thể thao, được tiến hành dựa trên cơ sở các tri thức khoa học. Quá trình này
tác động một cách hệ thống vào khả năng chức phận về tâm - sinh lý và trạng
thái sẵn sàng đạt thành tích, nhằm mục đích dẫn dắt VĐV tới các thành tích
thể thao cao và cao nhất và qua sự đấu tranh một cách tích cực, chủ động với
các yêu cầu đặt ra trong tập luyện, nhân cách VĐV được phát triển…Cũng
theo D.Harre (1996), TĐTL của VĐV thể hiện ở sự nâng cao năng lực thể
thao nhờ ảnh hưởng của LVĐ tập luyện, thi đấu và các biện pháp bổ trợ khác.
Các yếu tố của năng lực thể thao bao gồm các năng lực thể chất, năng lực
phối hợp vận động, năng lực trí tuệ, kỹ thuật kỹ xảo và chiến thuật cũng như
10


các phẩm chất tâm lý… Năng lực thể thao cao nhất mà VĐV đạt được trong
từng thời kỳ thi đấu phù hợp với trình độ huấn luyện của họ được gọi là trạng
thái thi đấu (L.P.Matvêép). Tóm lại, theo D.Harre (1996), TĐTL thể hiện ở
năng lực thể thao, trạng thái sung sức thể thao.
Tác giả Nguyễn Toán, Phạm Danh Tốn và cộng sự (1993), HLTT là
hình thức cơ bản của đào tạo VĐV, là quá trình đào tạo VĐV có hệ thống mà
chủ yếu bằng các phương pháp bài tập. Về thực chất, đó cũng là một quá trình
sư phạm có tổ chức chặt chẽ, giúp thành tích thể thao của VĐV không ngừng
phát triển. Tiếp theo, các tác giả đưa ra khái niệm liên quan đến HLTT là trình

hơn, kịp thời hơn ngay trên sân tập, bể bơi hay phòng tập. Điều đó hỗ trợ
HLV đánh giá, điều chỉnh LVĐ tập luyện một cách hợp lý và giúp công tác
nghiên cứu toàn diện hơn đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của HLTT hiện đại.
Trong thể thao đỉnh cao hiện nay đòi hỏi mỗi VĐV phải có khả năng
thích ứng với những yêu cầu rất cao về mọi mặt như kỹ-chiến thuật, thể lực và
tâm lý do vậy từng VĐV phải luôn cố gắng và nỗ lực rèn luyện, phát triển và
nâng cao các tố chất của mình.
Xét về góc độ sư phạm: TĐTL của VĐV Vật tự do là thước đo khả
năng hoàn thiện về kỹ - chiến thuật và mức độ phát triển ngày càng cao của
các tố chất thể lực như sức nhanh, sức mạnh, sức bền, tố chất mềm dẻo, khéo
léo và những biến đổi thích ứng về sinh học phù hợp với đặc thù của môn Vật
tự do.
Theo Nguyễn Thế Truyền và cộng sự, TĐTL là một phức hợp gồm
nhiều thành tố y-sinh, tâm lý, kỹ-chiến thuật, thể lực, ngày càng được nâng
cao nhờ ảnh hưởng trực tiếp lâu dài của LVĐ tập luyện và thi đấu cũng như
các liệu pháp hỗ trợ ngoại sinh khác. Khái niệm về quá trình biến đổi lâu dài
của TĐTL luôn gắn liền với các phạm trù “phát triển” và “thích nghi”. Tác
12


giả phân tích, sự phát triển TĐTL nhờ tác động lâu dài của LVĐ tạo nên
những biến đổi về chức năng và cấu trúc trong các cơ quan và các hệ thống cơ
thể. Tuy nhiên mọi quá trình phát triển đều tịnh tiến thường gắn với các yếu
tố có tính chu kỳ. Do đó quá trình phát triển TĐTL được thực hiện không theo
đường vòng, không theo đường thẳng mà dường như theo đường xoáy chôn
ốc bao gồm các yếu tố đối lập nhau, nghĩa là vừa có tính chu kỳ, vừa có dạng
tuyến tính trong quá trình phát triển TĐTL. Tác giả còn phân tích về sự phát
triển TĐTL theo chu kỳ của những thích nghi, theo các căn cứ lý thuyết sau
đây:
H. Selye (1936), chia những chấn động stress căng thẳng, kể cả LVĐ

triển TĐTL. Như vậy, khi định nghĩa và lý giải về sự phát triển TĐTL,
Nguyễn Thế Truyền nhấn mạnh quá trình thích nghi của cơ thể đối với LVĐ
theo những chu kỳ, giai đoạn biến đổi sinh học (trong đó có biến đổi tâm lý).
Tudor O.Bompa và Michael C.Carrera (2005), đã viết trong “Chu kỳ
huấn luyện thể thao” như sau: “Thời gian của từng giai đoạn phụ thuộc chủ
yếu vào lịch thi đấu cũng như phụ thuộc vào thời gian cần thiết để nâng cao
kỹ năng (Skills) và để phát triển ưu thế về khả năng vận động sinh học
(dominant biomotor abilities). Trong giai đoạn chuẩn bị thì nhiệm vụ đầu tiên
của HLV là phát triển cơ sở sinh lý của VĐV, trong giai đoạn thi đấu thì cần
phải tập trung và hoàn thiện theo yêu cầu chuyên môn của thi đấu”.
Như vậy các tác giả rất chú trọng tới tính chất chu kỳ và giai đoạn của
quá trình thích ứng với LVĐ. O.Bompa và Carrera coi nâng cao TĐTL để đạt
thành tích thể thao tốt nhờ nâng cao kỹ năng và nhờ phát triển ưu thế về khả
năng vận động sinh học.
1.1.2. Nghiên cứu về cơ sở sinh học của trình độ tập luyện.
Khi nghiên cứu về TĐTL của VĐV một môn thể thao bất kỳ, trước tiên
phải nghiên cứu sâu về cơ sở sinh học của nó. Nhiều nhà khoa học đã nghiên
14


cứu cơ sở sinh học của tố chất thể lực, một trong những yếu tố cấu thành của
TĐTL. Gần đây Hội y học của Uỷ ban Olympic quốc tế, Liên hiệp Hội y học
thể thao quốc tế đã cho xuất bản “Bách khoa toàn thư y học thể thao”, trong
đó có “Sức bền thể thao” quyển 2 (2004) do Haward G.Knuttgen chủ biên và
“Sức mạnh và sức mạnh tốc độ” quyển 3 (2004) do PAAVO V.Komi chủ
biên. Trong các cuốn sách này, các tác giả đã đề cập sâu về cơ sở sinh học của
sức bền, sức mạnh và sức mạnh tốc độ trong huấn luyện nâng cao thành tích
thể thao nói chung và dẫn chứng ở một số môn thể thao như điền kinh, bơi lội,
bóng đá, bóng rổ, tennis, bơi thuyền, vật, Judo… Tuy nhiên, các tác giả vẫn
chưa nghiên cứu về cơ sở sinh học trong huấn luyện thể lực của VĐV Vật tự

Phương pháp đo lường đánh giá hình thái cơ thể, Nguyễn Kim Minh
(1994).
Đo lường đánh giá tính chất động lực học trong vận cơ theo phương
pháp Isokinetic, Dương Nghiệp Chí (2004).
Đo lường đánh giá xung lực tấn công của VĐV võ với hệ thống vô
tuyến SM102, Dương Nghiệp Chí và cộng sự (2004).
Đo lường tính chất động học trong kỹ thuật chuyển động bằng công
nghệ Video, Dương Nghiệp Chí và cộng sự (2004).
Nghiên cứu phương pháp kiểm tra sư phạm ở một số môn thể thao:
Môn điền kinh, Nguyễn Đại Dương (2006).
Môn bơi lội, Chung Tấn Phong (2000).
Môn thể dục, Lê Văn Lẫm, Nguyễn Xuân Sinh, Nguyễn Kim Xuân
(2004).
Các môn võ vật và Judo, Nguyễn Thế Truyền và cộng sự (2004).
Môn bóng đá, Trần Quốc Tuấn và cộng sự (2004).
Môn bóng bàn, Nguyễn Danh Thái và cộng sự (2004).
Môn bóng chuyền, Nguyễn Thành Lâm (2004).
16


Môn bóng rổ, Lê Nguyệt Nga, Đặng Hà Việt (2004).
Nghiên cứu nội dung, tiêu chuẩn đánh giá TĐTL ở một số môn thể thao:
VĐV chạy cự ly ngắn trẻ, Đàm Quốc Chính (2000).
VĐV bơi lội 9-12 tuổi, Chung Tấn Phong (2004).
Nữ VĐV TDDC 6-8 tuổi, Nguyễn Xuân Sinh, Nguyễn Kim Xuân (2004).
VĐV bóng đá nam quốc gia, Phạm Quang (2004).
VĐV bóng bàn nam 12 - 15 tuổi, Nguyễn Tiên Tiến (2004).
Thể lực và kỹ thuật của VĐV Vật tự do đội tuyển quốc gia, Nguyễn Thế
Truyền và cộng sự (2004).
Các công trình nghiên cứu trên, đánh giá TĐTL đều là đánh giá định

lực chung và tố chất thể lực chuyên môn, chưa phân loại chi tiết như tốc độ,
sức mạnh, sức bền... ngoài ra cũng chưa nghiên cứu về sinh lý, phản ánh sự
biến đổi bên trong cơ thể khi thực hiện bài tập thể lực. Chính vì vậy trong
phần tổng quan, các tác giả không cần tổng hợp một số vấn đề về cơ chế sinh
lý của tố chất thể lực.
Bên cạnh đó còn có các công trình võ - vật nghiên cứu về thể lực:
“Nghiên cứu các bài tập phát triển sức bền đối với VĐV nam 15 - 17
tuổi” (dẫn chứng ở môn karate-do), Nguyễn Đương Bắc (2006).
“Nghiên cứu các bài tập phát triển sức mạnh đối với VĐV nam 15 - 17
tuổi” (dẫn chứng ở môn vật tự do), Ngô Ích Quân (2006).
Xin tổng hợp một số vấn đề có liên quan như sau:
Tác giả Ngô Ích Quân đánh giá sức mạnh của VĐV vật tự do thông qua
15 test sư phạm thuộc 4 nhóm yếu tố sức mạnh thành phần. Trên cơ sở đó tiến
hành đánh giá phân loại.
Tác giả Nguyễn Đương Bắc đánh giá sức bền của VĐV Karate-do qua
8 test sư phạm; 2 test tâm lý (sự chú ý và ý chí); 2 test y sinh (công năng tim,
VO2max xác định gián tiếp). Trên cơ sở này, tiến hành đánh giá phân loại.
18


Khi nghiên cứu về sức mạnh và sức bền của VĐV nhóm môn võ - vật,
các tác giả sử dụng phương pháp lập test sư phạm, chưa có điều kiện ứng
dụng các thiết bị thực nghiệm sinh lý và sinh cơ trong vận động.
Các tác giả nghiên cứu theo độ tuổi, không đủ số lượng VĐV để nghiên
cứu theo độ tuổi, theo hạng cân. VĐV ở mỗi độ tuổi nghiên cứu gồm một số
hạng cân theo quy định trong thi đấu, tuy nhiên, các tác giả nêu rõ chỉ giới các
hạng cân hoặc chỉ số thể trọng trung bình của VĐV từng lứa tuổi.
Các công trình về các môn võ - vật đã giải quyết nhiều vấn đề rộng,
phức tạp, tạo tiền đề tốt để nghiên cứu về TĐTL của VĐV Vật tự do trẻ. Tuy
nhiên, một số vấn đề hạn chế của các luận án không dễ khắc phục.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status