TÍN HIỆU THẨM MĨ “GIÓ” TRONG “GIÓ LẺ
VÀ CHÍN CÂU CHUYỆN KHÁC” CỦA NGUYỄN NGỌC TƯ
Nguyễn Thị Hiền
1“Gió” là một tín hiệu thẩm mĩ phổ biến và được sử dụng nhiều trong văn học
hậu hiện đại. Trong sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư, tín hiệu thẩm mĩ “gió” được
hiện hình, trở đi trở lại tạo nên dòng chảy sâu kín về ý nghĩa tác phẩm. Chính điều
này đã trực tiếp tạo nên sức hấp dấn cho truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư nói chung.
Trong bài báo này, chúng tôi tập trung khai thác tín hiệu thẩm mĩ “gió” trong tập
truyện ngắn “Gió lẻ và chín câu chuyện khác” của nhà văn, một mặt, nhằm giải mã
những thông điệp thẩm mĩ, những ý tứ sâu xa mà tác giả gửi gắm trong đó; mặt
khác, góp phần khẳng định việc nghiên cứu dựa trên cơ sở những tín hiệu thẩm mĩ
là một hướng đi đúng đắn trong quá trình tiếp nhận các tác phẩm văn chương.
1. Đặt vấn đề
Đặc trưng của văn học, cái tạo nên sự khác biệt của nó so với các loại hình nghệ thuật khác như âm
nhạc, hội họa, điêu khắc, điện ảnh… chính là ở chỗ văn học phản ánh hiện thực cuộc sống bằng ngôn từ.
Ngôn từ là phương tiện, chất liệu để xây dựng hình tượng nghệ thuật trong tác phẩm, truyền tải tư tưởng,
tình cảm của nhà văn trước hiện thực cuộc sống. Mỗi hình tượng nghệ thuật trong tác phẩm cũng đồng
thời là một tín hiệu thẩm mĩ. Tín hiệu thẩm mĩ chứa đựng trong nó những lớp ý nghĩa ẩn sâu dưới các vỉa
tầng ngôn ngữ. Phân tích tác phẩm từ phương diện tín hiệu thẩm mĩ là con đường khoa học để khám phá
những thông điệp nghệ thuật của nhà văn.
2. Nội dung
Gió là một tín hiệu thẩm mĩ phổ biến và được sử dụng nhiều trong văn học hậu hiện đại. Trong
sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư, tín hiệu thẩm mĩ gió được hiện hình, trở đi trở lại tạo nên dòng chảy sâu
kín về ý nghĩa tác phẩm. Chính điều này đã trực tiếp tạo nên sức hấp dẫn cho truyện ngắn Nguyễn Ngọc
Tư nói chung và Gió lẻ và chín câu chuyện khác nói riêng.
Gió là một hiện tượng của tự nhiên, luôn gắn với sự bất định. Nói đến gió, người ta nghĩ ngay đến
sự di chuyển, sự không cố định. Trong văn hoá phương Đông, gió là biểu hiện hữu hình của khí, một
Sầu trên đỉnh Puvan
3
05
Ấu thơ tươi đẹp
1
06
Núi lở
3
07
Thổ sầu
2
08
Của ngày đã mất
3
09
Một chuyện hẹn hò
5
10
Gió lẻ
35
Qua bảng thống kê trên, ta dễ nhận thấy gió xuất hiện xuyên suốt, đều đặn trong các truyện.
Riêng có truyện Tình thầm không có sự xuất hiện của gió. Tất cả những truyện còn lại gió xuất hiện
thường là 2- 3 lần (trừ Ấu thơ tươi đẹp là 1 lần, Một chuyện hẹn hò là 5 lần và đặc biệt Gió lẻ là 35
lần). Gió xuất hiện đều đặn và đậm đặc như vậy đã tạo nên điểm nhấn, tạo mối liên hệ cho các câu
chuyện, cùng hướng đến thể hiện tư tưởng chung của toàn tập truyện.
Trong quá trình khảo sát, chúng tôi nhận thấy tuy có xuất hiện một cách đều đặn ở tất cả các
truyện nhưng gió xuất hiện với tần số cao nhất, thường xuyên nhất trong truyện ngắn Gió lẻ (35 lần).
Điều đó khẳng định rằng Gió lẻ chính là “linh hồn” của cả tập truyện. Đó là lí do vì sao tập truyện
mang tên Gió lẻ và chín câu chuyện khác, cũng đồng thời lí giải vì sao Gió lẻ là tác phẩm dài hơi nhất.
Gió lẻ đã trở thành tác phẩm để nhà văn gửi gắm trong đó những tư tưởng, những tình cảm, nội dung
như những cơn gió, đi trong cuộc đời mà không cảm thấy mình có phần trong đó. Họ cô độc như
những ngọn gió lẻ.
Vết chim trời mở đầu với một buổi trưa đã vĩnh viễn bị tiếng khóc của bà nội đóng đinh vào.
Tiếng khóc ấy như xé lòng người cha, người mà bà nội đã vô tình nhấn chìm trong cõi rơi khi hỏi:
“Sao bây bắn chết Út Hơn của má?”. Người cha cả đời sống trong nỗi lo ấu thấp thỏm, nỗi mặc cảm
cháy lòng bởi một quá khứ xa xôi nào đó giữa ông và em trai mình ở hai đầu chiến tuyến, mặc dù
trước bà nội, chưa có ai nhắc nhở ông về vết quá khứ tật nguyền ấy. Cũng chính nỗi mặc cảm ấy khiến
ông cả đời day dứt, cả đời lo vun vén cho đứa con trai của em mình để lại, thế mà cái ông nhận về lại
là câu hỏi của bà nội như cứa vào trái tim, là sự im lặng đầy trách cứ của đứa cháu trai. Sự chờ đợi ở
cuối được tác giả miêu tả với dấu ba chấm đằng đẵng mù khơi, biết đến bao giờ người cha ấy mới nhận
về mình sự thanh thản cuối đời?
Cũng như vậy với người cha trong Chuồn chuồn đạp nước, sau một câu trợ giúp sai cho con gái
trong một gameshow truyền hình, cuộc đời ông đã thay đổi. Sức mạnh của sự dằn vặt thật ghê gớm, nó
ăn mòn tâm hồn con người: “Cha đã đi qua ba bảy hai mốt bình minh, luôn thức dậy với nỗi tuyệt
vọng mình còn nhớ”. Chẳng thể đau đớn hơn khi nghĩ rằng hình ảnh đẹp đẽ của mình đã sụp đổ trong
mắt vợ con và những người tin yêu mình. Thế nhưng, người cha nhà văn này đã tự đặt chân mình vào
dấu vết do chính những dằn vặt của mình vẽ nên - rối bời và không lối thoát.
Cách mà Nguyễn Ngọc Tư để niềm kiêu hãnh sụp đổ tự dồn người cha vào nỗi tuyệt vọng màu
xám ngoét kia cũng chính như bước chân hẫng xuống vực sâu của người đứng trên đỉnh núi cao, sau
khi người ta tưởng như đã chạm vào mong muốn trong Sầu trên đỉnh Puvan. Ước vọng chiêm ngưỡng
bằng được cảnh bông Sầu nở trên đỉnh Puvan đã thôi thúc Vĩnh, một chàng trai đam mê khám phá lên
đường, dù nó mang theo mình một lời nguyền rất thiêng liêng, rằng ai một lần nhìn thấy Sầu nở, sẽ
vĩnh viễn nằm lại bên vẻ đẹp bất tử ấy. Cái chết của Vĩnh cũng chính là nỗi hoang mang của người
đời, phải chăng khi lên đến đỉnh cao rồi, chỉ một bước chân nữa sẽ là vực thẳm? Vĩnh ngoài tiền bạc
chẳng có lấy nổi một mảnh tình cảm ấm áp nào, những người thân yêu nhất đã xa rời, bỏ mặc anh trơ
trọi trên trên cõi đời thực tại này, chính bởi thế, nên “khi ở trên đỉnh núi rồi, anh chẳng muốn xuống,
chẳng có gì chờ đợi anh ở đó”.
Thổ Sầu lại vẽ nên hình ảnh của một cùng quê nghèo xơ xác. Nhưng đó lại chính là điểm thu hút
khách du lịch, bởi cái vẻ hiu hắt, cũ kỹ của những ngôi nhà xiêu vẹo, xộc xệch. Sự đói nghèo của nơi
đây biến thành lý do cuốn hút ánh mắt ngạc nhiên, trầm trồ của những người đến vùng đất này. Tất cả
Gió trong Gió lẻ và chín câu chuyện khác là những cơn gió đơn côi, lẻ loi, mà nhà văn gọi là
những cơn “gió cô độc”. Đó cũng chính là những cuộc đời cô đơn, sống giữa con người mà thấy mình
lẻ loi, trơ trọi, thấy mình không được thấu hiểu, thấy họ xa lạ với mình. Đó là những cuộc đời đau khổ
và bất hạnh, luôn sống trong những dằn vặt, suy tư, những bi kịch, khiến họ trở nên tuyệt vọng và sụp
đổ, thậm chí có những khi đó là bi kịch do chính họ tạo ra. Thật không sai khi người ta gọi Nguyễn
Ngọc Tư là nhà văn của những cơn gió lẻ.
Tuy nhiên, những ngọn gió của Nguyễn Ngọc Tư không phải là thứ gió tình, thứ gió coi sự lang
thang vô định suốt đời là mục đích. Gió trong tác phẩm của chị luôn trên con đường đi tìm hạnh phúc,
tìm ý nghĩa đích thực của cuộc đời.
Gió - hiện thân của hành trình đi tìm hạnh phúc. Gió của Nguyễn Ngọc Tư luôn luôn khát khao
kiếm tìm hạnh phúc. Hành trình của gió là hành trình đi tìm nhau và tìm ý nghĩa cuộc đời. Bên dưới
lớp vỏ lạnh lùng, dửng dưng, kiêu ngạo hay bất cần là những tâm hồn đầy sóng gió, đầy khát khao yêu
thương song dường như lại không muốn cho ai chạm vào tâm hồn đó, sợ rằng một lần nữa mình lại bị
tổn thương. Vì thế, gió được miêu tả với những từ gợi sự day dứt, dằng xé và nhức buốt: cơn buốt
lạnh, gió dằn vặt, gió xé nhỏ đau đớn buốt lạnh, gió cồn cào, gió buốt tận xương, gió tơi bời… Gió
cũng chính là những nhân vật luôn trong hành trình đi liếm tìm hạnh phúc, kiếm tìn yêu thương để
thoát khỏi nỗi cô đơn.
Nguyễn Ngọc Tư đã miêu tả khá tinh tế những rung động trong tâm hồn của vị giáo sư già trước
cô sinh viên trẻ kém mình gần năm mươi tuổi trong Của ngày đã mất. Những rung động đến nhẹ
nhàng như làn gió, khơi dậy những khát khao, làm sống lại một tâm hồn biết yêu thương. Nhưng cũng
không thể làm tươi lại thể xác đã bị thời gian làm khô héo đi. Tâm trạng vị giáo sư già bị rằng xé bởi
hai thứ tình cảm trái ngược nhau - vui sướng và đau xót. Và cũng vì thế, gió xuất hiện vừa nhẹ nhàng,
dịu mát, vừa buốt lạnh xao xác: Em cười, “Dạ không sao đâu. Miễn là em được ở bên thầy…,”. Câu
cuối cùng hạ giọng, nghe nhẹ như một lọn gió bấc buốt qua lớp áo, tôi lấy kính ra lau, …giữa đêm em
mở lại tiếng gà trưa, hay ai đó ới lên “ăn cơm…” trong một khu vườn thăm thẳm. Bờ lau xào xạc
gió… Một ngày đã qua với em là một ngày không bao giờ mất. Tôi thì mất trắng…, Em cười giòn. Sau
đó là tiếng gió xào xạc, tôi đoán là em và Sáng đang ngồi dưới một bờ tre… Tôi thờ ơ vặn mình cho đỡ
mỏi, rồi nằm khoan khoái trên sạp ghe. Ở đằng mũi, em làm sao thấy tôi đang tái nhợt đi. Những rung
động tâm hồn chứa những khát khao yêu đương cháy bỏng ấy cuối cùng lại là những cơn buốt lạnh tê
tái hay tiếng xao xác của một tâm hồn đang xao động.
cuộc đời. Hạnh phúc quá mong manh, dễ dàng bị tuột khỏi tay cũng như những cơn gió lẻ yếu ớt, dù
có “gào thét” đến đâu cũng không chiến thắng nổi cái dữ dội của bão táp cuộc đời.
Trong truyện ngắn Sầu trên đỉnh Puvan Vĩnh đã luôn khao khát được nhìn thấy những bông hoa
Sầu nở sau mười ba tháng hạn. Anh kiên nhẫn chờ đợi và lên tận đỉnh Puvan cao nghìn mét để thấy
được cây sầu trổ bông. Anh thấy được trong bông sầu ý nghĩa cuộc đời mình, đồng thời cay đắng nhận
ra anh đã sống một cuộc đời tầm thường nhạt nhẽo, một cuộc đời đã vĩnh viễn mất đi gia đình và người
con gái anh yêu. Anh đã chọn cái chết dưới những bông sầu vì biết rằng anh mãi mãi là kẻ cô độc
trong cuộc đời: “Và Vĩnh treo mình lơ lửng trên cành sầu khẳng khiu, trơ trụi. Trên đỉnh núi không có
thêm đỉnh núi, và Vĩnh không muốn xuống núi, chẳng có gì chờ đợi anh, ở đó”. Cái chết của Vĩnh
cũng chính là một kết thúc bi kịch cho một số phận vĩnh viễn không tìm lại được hạnh phúc đã đánh
mất.
Trong Của ngày đã mất, tình yêu mới nở tươi mát như một làn gió đã đem lại cho vị giáo sư già
sự sống và niềm khao khát, để rồi, cuối cùng chính ông lại là người chối bỏ tình yêu ấy. Ông nhận ra
mình không thể mang đến hạnh phúc cho cô gái mà ông yêu. Ông đã chọn một cái kết đó là sống trong
sự cô đơn vì ông không muốn người mình yêu phải rơi nước mắt: “May quá, mai kia khi trút hơi thở
cuối cùng, tôi chẳng phải nặng lo cho em, lúc đó ngồi cạnh tôi với gương mặt ướt”.
Ba con người trong Gió lẻ là ba mảnh cuộc đời bị chắp vá, ba mảnh kí ức buồn đau và ba mảnh
hiện tại vô định. Yêu thương tưởng chừng sẽ là chất keo kết dính lại những cuộc đời ấy, nhưng cuối
cùng lại là “nỗi mất mát tê dại, là tiếng gọi chơi vơi, rã rời trong gió lẻ, sương mù, đá và cây…”. Kết
thúc truyện là cái chết của cô gái câm và anh Tìm Nội, cùng với nỗi đau đớn tuyệt vọng “trong cơn
thèm muốn yêu thương người” của “gã” Gió mãi mãi bị xé ra bởi một bàn tay vô hình…
Những cuộc đời, những con người ấy, cuối cùng họ vẫn chỉ là những mảnh đời cô đơn, bất hạnh,
vẫn đắm chìm trong những bi kịch tâm hồn mà họ không thể nào thoát ra được. Những bi kịch tâm hồn
ấy đã bám theo họ trong suốt tập truyện. Đó là những cuộc đời luôn biến động dữ dội, chứa đựng trong
đó những bất trắc, những đau thương và mất mát.
3. Kết luận
Nguyễn Ngọc Tư đã xây dựng thành công tín hiệu thẩm mĩ gió trong Gió lẻ và chín câu chuyện
khác. Với cách kết hợp từ ngữ, cách tạo câu, Nguyễn Ngọc Tư đã mang đến cho gió những giá trị biểu
hiện rất sâu sắc. Gió là hiện thân cho sự cô độc, cho những tâm hồn cô đơn, những nỗi đau khổ giằng
xé trong tâm hồn con người. Tuy luôn khát khao, kiếm tìm hạnh phúc, luôn kiếm tìm yêu thương để