Bộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC sư PHẠM HÀ NỘI 2
— soCũíca
ÂU THỊ PHƯƠNG THANH
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỬNG CỦA PHÂN BÓN ĐẾN NĂNG
SUẤT GIỐNG CHÈ LDP2 VÀ THÀNH PHẦN GIUN ĐẤT TẠI
TRẠI THỰC HÀNH THỰC TẬP TRƯỜNG TRUNG CẤP KINH
TẾ KỸ THUẬT YÊN BÁI
Chuyên ngành'. Sinh thái học Mã số: 60.42.01.20
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC SINH HỌC
• • • •
Người hướng dẫn khoa học: TS. NGUYỄN THỊ HỒNG LIÊN
HÀ NỘI - 2014 ■
Trước hết tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS. Nguyễn Thị Hồng
Liên
- khoa Sinh học - Trường ĐHSP Hà Nội, đã nhiệt tình hướng dẫn và tạo
mọi điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành công trình nghiên cứu này.
Tôi xin trân trọng cảm ơn PGS.TS Đỗ Văn Nhượng - khoa Sinh học Trường ĐHSP
Hà Nội đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành các thí nghiệm về động vật.
Tôi xin trân ttọng cảm ơn các thầy cô giáo trong phòng Sau đại học - Trường ĐHSP
Hà Nội II đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành chương trình học tập và hoàn thành
luận văn thạc sĩ.
Tôi xin trân trọng cảm ơn Trại thực hành thực tập - Trường TC Kinh tế Kĩ thuật Yên
Bái đã giúp đỡ và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình nghiên cứu đề tài
này.
Hoàn thành luận văn này còn có sự động viên, khuyến khích của gia đình, người
thân, bạn bè đồng nghiệp đã giúp đỡ tôi vượt qua mọi khó khăn để hoàn thành khóa học và
công trình nghiên cứu này.
Tôi xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày 10 tháng 12 năm 2014 Tác giả
Âu Thị Phương Thanh
Tôi xin cam đoan rằng mọi số liệu sử dụng để hoàn thành báo cáo luận văn thạc sĩ
vai trò của vật chất hữu cơ và động vật đất. Thực tế sản xuất cho thấy, người
trồng chè thường bón phân hữu cơ chủ yếu là phân chuồng kết họp với phân vô
cơ cho chè ở giai đoạn kiến thiết cơ bản, trồng mới và chủ yếu sử dụng phân vô
cơ cho chè ở các giai đoạn sản xuất kinh doanh để tiết kiệm thời gian và công lao
động, thúc đẩy nhanh quá trình sinh trưởng của búp mới, tăng năng suất. Mặc dù
đã nhận thức được vai trò của phân hữu cơ trong canh tác bền vững nhưng ở Việt
4
Nam việc sử dụng còn hạn chế. Bên cạnh đó sử dụng phân hữu có còn tác dụng
tích cực đến nhóm giun đất vốn được coi là “bạn của nhà nông”.
Yên Bái là tỉnh miền núi có nhiều diện tích đồi gò, điều kiện đất đai khí
hậu phù họp cho sự sinh trưởng và phát triển của cây chè. Cây chè đã có ở Yên
Bái từ rất lâu đời như những cây chè tổ Suối Giàng. Tuy có thời điểm thị trường
tiêu thụ không ổn định, giá chè xuống thấp làm cho đời sống người làm chè gặp
nhiều khó khăn nhưng nhìn chung cây chè vẫn giữ một yị trí quan trọng trong
nền kinh tế của tỉnh, góp phần tạo việc làm, tăng thu nhập cho phần lớn nhân dân
trong tinh và góp phần bảo vệ môi trường sinh thái.
Hiện nay, cây chè vẫn được xác định là cây công nghiệp chủ lực của tỉnh.
Tỉnh Yên Bái có chủ trương phát triển sản xuất chè theo cả 2 hướng, mở rộng
diện tích và thâm canh tăng năng suất, chất lượng chè cùng với cải tiến công
nghệ chế biến. Đến nay diện tích chè của tỉnh Yên Bái là 12.035 ha trong đó có
11.093 ha chè kinh doanh.
Xuất phát từ thực tế trên chúng tôi chọn đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng
của phân bón đến năng suất giống chè LDP 2 và thành phần giun đắt tại Trại
Thực hành thực tập Trường Trung cấp Kỉnh tế Kĩ thuật Yên Bái”.
2. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu ảnh hưởng của việc dùng phân bón hữu cơ đến năng suất
giống chè LDP 2 và thành phàn giun đất trong đất trồng chè từ đó đánh giá hiệu
quả của việc dùng phân bón ưong canh tác cây chè ở miền núi phía bắc Việt nam.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu khả năng sinh trưởng của cây chè khi sử dụng phân bón hữu
nguồn gốc cây chè (Nhị Nguyên thuyết): Cây chè lá to có nguồn gốc ở phía tây
6
cao nguyên Tây Tạng. Cây chè lá nhỏ có nguồn gốc ở phía Đông và phía Đông
Nam Trung Quốc [16].
Năm 1951, Đào Thừa Trân (Trung Quốc) cho rằng: Nguyên sản của cây
chè là tình Vân Nam, chúng di thực về phía đông qua tỉnh Tứ Xuyên bị ảnh
hưởng của khí hậu nên biến thành giống chè lá nhỏ, di thực về phía nam và tây
nam là Ấn Độ, Mianma, Việt Nam biến thành giống chè lá to [15]. Nhiều công
trình nghiên cứu khác cho thấy cách đây 4000 năm, ngưòi Trung Quốc đã biết
dùng chè làm dược liệu và sau đó để uống [16].
Cây chè có nguồn gốc ở Việt Nam: Những công trình của Djemukhatze
(1961- 1971) về phức chất catechin của lá chè có nguồn gốc khác nhau, so sánh
thành phàn các catechin giữa chè được trồng và chè hoang dại đã nêu lên luận
điểm về sự tiến hóa sinh hóa của cây chè và từ đó ông đã đi đến kết luận: “Nguồn
gốc cây chè chính là ở vùng tây bắc Việt Nam” [8].
Các quan điểm trên tuy có sự khác nhau về địa điểm nhưng đều có sự
thống nhất rằng: Nguyên sản của cây chè là ở Châu Á, nơi có điều kiện khí hậu
nóng và ẩm phù hợp cho sinh trưởng, phát triển của chúng.
1.1.2. Phân loại cây chè
Tên của cây chè đã trải qua nhiều tranh luận và có rất nhiều cách đặt tên.
Tên gọi của cây chè đầu tiên được nhà khoa học Thụy Điển Line đặt là Thea
sinensis vào năm 1973. Đến nay danh pháp khoa học của cây chè được nhiều
người công nhận nhất là: Camellia sinensis (L.) Okuntze. [16], thứ assamỉca xếp
trong hệ thống phân loại thực vật như sau:
- Ngành Ngọc Lan (Hạt kín): Angiosepermae.
- Lớp Ngọc Lan (Hai lá mầm): Dicotyleonae.
- Bộ Chè: Theales.
- Họ Chè: Theaceae.
- Chi Chè: Camellia.
7
đạt tới 70%. Năng suất búp trong sản xuất đại trà khi chè 5-19 tuổi thường đạt 4
- 5 tấn/ha.
Các giống chè Trung du chịu được đất xấu, nhưng dễ bị nhiễm nhiều sâu
hại: rầy xanh, bọ cánh tơ , ở vùng cao thường bị bệnh phồng lá. Chè Trung du
thường được dùng chế biến chè xanh, chè đen đều cho phẩm chất tốt.
Camellỉsa sinensis var. Shan được trồng ở miền núi các tỉnh miền bắc và ở
miền nam Tây Nguyên (Lâm Đồng). Ở mỗi địa phương có các giống khác nhau
như: Shan Mộc Châu, Shan Tham Vè, Shan Trấn Ninh Năng suất búp thường
đạt 6 - 7 tấn/ha. Búp chè có nhiều tuyết, dùng chế biến chè xanh, chè đen đều cho
phẩm chất tốt nhưng thích hợp với chế biền chè xanh hơn.
1.1.3. Phân bố của cây chè
Sự phân bố của cây chè chịu ảnh hưởng rất lớn của điều kiện tự nhiên, khí
hậu. Ngày nay, cây chè phân bố ở khắp các châu lục, trong đó nhiều nhất là ở
Châu Á, sau đó là Châu Phi, Châu Mỹ, rồi đến Châu Đại Dương là ít nhất. Vùng
chè tập trung nhất phân bố giữa 6-22° vĩ Bắc, trên thế giói vùng chè Miosines của
Achentina là khu vực thấp nhất nam địa cầu [28]. Đen nay trên thế giới có 58
nước trồng chè, sản xuất chế biến chè ở các quy mô khác nhau, phân bố ở khắp 5
châu như sau [15]:
Châu Á: Có 20 nước bao gồm Trung Quốc, Ân Độ, Srilanca, Indonexia,
Nhật Bản, Thổ Nhĩ Kì, Bangladet, Iran, Myanma, Việt Nam, Thái Lan, Lào,
Malaxia, Campuchia, Nepan, Philipin, Triều Tiên, Apganistan và Pakistan.
Châu Phi: Có 21 nước bao gồm Kenia, Malavi, Uganda, Tanzania,
Moozambich, Ruanda, Mali, Ghine, Morrixow, Nam Phi, Ai Cập, Conggo,
9
Camorun, Đảo Reuyniong, Tchat, Rodezia, Abitxi, Brandi, Maroc, Angeri và
Zimbabue.
Châu Mỹ: Có 12 nước bao gồm Achentina, Braxin, Peru, Colombia,
Ecuado, Goatemela, Paraguay, Jamaica, Mehico, Bolovia, Guyanna và Mỹ.
Châu Đại Dương: Có 3 nước bao gồm Papua Tân Ghine, Fiji và Autralia.
Châu Âu: Có Nga và Bồ Đào Nha.
và chế độ canh tác. Toàn bộ chu kì phát triển lớn của cây chè trải qua 5 giai
đoạn.
Giai đoạn 1 (giai đoạn phôi thai): tính từ khi hoa được thụ phấn, hình
thành phôi, hạt, quả đến khi quả chín. Đây là giai đoạn phôi phát triển từ hợp tử
tạo nên một thế hệ thể bào tử mới mang một nửa bộ gen từ bố và một nửa bộ gen
từ mẹ.
Giai đoạn 2 (giai đoạn cây con hay còn gọi là giai đoạn cây mạ): từ khi
hạt nảy mầm mọc thành cây, đến khi cây ra hoa kết quả làn đầu (từ 1-2 năm sau
khi trồng).
Giai đoạn 3 (giai đoạn cây non): từ khi cây ra hoa làn đàu tiên cho tới khi
cây có bộ khung ổn định (từ năm thứ 2-3 đến năm thứ 4 sau trồng).
Giai đoạn 4 (giai đoạn chè lớn hay giai đoạn sản xuất kinh doanh): thời kì
này kéo dài 20 - 30 năm có khi tới 50 - 60 năm phụ thuộc vào điều kiện giống,
đất đai và chế độ canh tác.
Giai đoạn 5 (giai đoạn chè già): giai đoạn này cây chè đã trải qua thời kì
sản xuất kinh doanh, cây chè có biểu hiện già cỗi, năng suất giảm nhanh chóng.
Căn cứ vào đặc điểm của từng giai đoạn để xây dựng các biện pháp kĩ
thuật khác nhau nhằm tạo điều kiện cho cây chè sinh trưởng phát triển tốt, có khả
năng cho năng suất cao, chất lượng tốt phát huy tiềm năng của giống.
1
1
Nghiên cứu về sự hình thành các đợt sinh trưởng của cây chè M.A.
Alikhatde (1964) cho rằng: khi cây chè có 5 lá thì ở nách lá thứ nhất, thứ hai có
chồi bên, khi có lá thứ 6 thì chồi bên thứ 3 xuất hiện, khi có lá thứ 7 thì chồi bên
thứ 4 xuất hiện. Tác giả cho rằng, khi mầm chè (chồi bên) ở trạng thái nghỉ qua
mùa đông, 2 lá đầu tiên bao bọc mầm chè là lá vẩy ốc, tiếp theo là lá cá, hai cặp lá
này có chức năng bảo vệ mô phân sinh ngọn của chồi bên. Các mầm của nách lá
thứ 4 và lá thứ 5 của đợt sinh trưởng thứ nhất sẽ phát triển thành búp của đợt sinh
trưởng thứ 2 [22].
1.1.5. Điều kiện sinh thái của cây chè
nhất là ở các vùng trồng chè cũ. Vì vậy, vấn đề bón phân hữu cơ để bổ sung dinh
dưỡng cho cây chè và cải tạo kết cấu vật lý của đất là rất càn thiết. Bên cạnh đó,
phải coi trọng việc bón đủ và họp lý phân hóa học hàng năm cho chè. Chè là loại
cây kỵ vôi, nhiều tài liệu cho biết ừong đất trồng chè chỉ có một lượng vôi rất ít,
khoảng 0,2% CaC0
3
đã ảnh hưởng đến sinh trưởng của cây do đó, không bao giờ
người trồng chè dùng vôi để bón vào đất trồng chè, trừ trường họp đất có độ pH
quá thấp, dưới 4.
Quan hệ giữa đặc điểm môi trường đất và phẩm chất chè rất phức tạp.
Phẩm chất do nhiều yếu tố quyết định và tác động một cách tổng hợp. Song ừong
những điều kiện nhất định thì điều kiện dinh dưỡng của đất có ảnh hưởng rất lớn
đến phẩm chất. Kinh nghiệm trồng chè của người Trung Quốc cho thấy: chè sinh
trưởng trên loại đất pha cát, nhiều mùn, thích họp cho việc chế biến chè xanh:
mùi vị hương của chè thành phẩm đều tốt. Chè trồng trên đất nặng màu vàng thì
có vị đắng và nước có màu vàng. Chè trồng trên đất xấu hương không thơm, vị
nhạt và chất hòa tan ít [27].
Địa hình và địa thế có ảnh hưởng rất rõ đến sinh trưởng và chất lượng chè.
Thực tiễn ở Trung Quốc, Ấn Độ và Nhật Bản cho thấy: cây chè trồng trên núi cao
1
3
có hương thơm và mùi vị tốt hơn chè trồng ở vùng thấp và đồng bằng. Kinh
nghiệm nhận thấy chè được chế biến từ nguyên liệu ở núi cao Xrilanca có mùi
thơm của hoa mà hương vị đó không thể có được trong chè trồng ở khu vực thấp.
Nhiều tác giả ở Liên Xô (cũ) như Kharabava, Đjêmukhatze đã xác định chè trồng
ở nơi có địa thế càng cao hơn mặt biển (trong một chừng mực nhất định) thì
khuynh hướng tạo thành và tích lũy tanin càng lớn [27].
Phàn lớn các vùng trồng chè có phẩm chất tốt của các nước trên thế giới
thường có độ cao cách mặt biển từ 500 đến 800 mét. Vùng chè ngon có tiếng ở
Ấn Độ trồng ở độ cao cách mặt biển 2.000 mét. Nghiên cứu của Viện nông học
thảnh phần hóa học của chúng.
Bảng 1.2. Sự biến đỗi thành phần hóa học của búp chè trong điều kiện có
che râm (% chất khô) [27]
Thòi gian Ngày 30 - 4 Ngày 26 - 5
Công thức thỉ nghiệm Công thức thí nghiệm
Thành phần sinh hóa Che râm Không che râm Che râm Không che râm
Tanin 10,03 12,75 8,11 8,28
Cafein 4,62 3,76 3,43 2,78
Nitơ tổng số 7,05 6,03 5,84 4,22
Cây chè được che bóng râm, hàm lượng các vật chất có đạm (cafein, N
tổng số, protein ) trong búp và lá tăng lên và tích lũy nhiều hơn; các chất không
có N (tanin, gluxit ) lại có chiều hướng giảm xuống. Sự giảm thấp tanin,
gluxit và tăng hàm lượng các vật chất có đạm ừong lá chè ở một mức độ nhất
định thường có lợi cho phẩm chất chè xanh và không có lợi cho phẩm chất chè
đen. Vì vậy, trồng cây bóng mát cho chè thường áp dụng cho những vùng ừồng
chè sản xuất nguyên liệu để chế biến chè xanh.
1
5
Do cường độ ánh sáng có ảnh hưởng lớn đến sinh trưởng, phẩm chất chè
cho nên điều tiết cường độ ánh sáng có thể làm cho năng suất chè tăng lên rõ rệt.
Những kết quả nghiên cứu tại Trại thí nghiệm chè Tocklai (Ấn Độ) cho thấy:
giảm độ chiếu sáng xuống 30% thì sản lượng búp tươi trong năm đàu tăng 34%
so với xử lý cường độ chiếu sáng hoàn toàn và giảm độ chiếu sáng xuống 50%
thì năng suất đạt cao nhất. Song nếu tiếp tục giảm cường độ chiếu sáng xuống
dưới 50% thì năng suất bắt đàu giảm thấp.
Ánh sáng còn có quan hệ đến giai đoạn phát dục của cây chè: theo các tài
liệu nghiên cứu của Liên Xô thì giống chè Ấn Độ và giống lai Trung - Ấn nguyên
sản ở vùng ngày ngắn, sinh trưởng trong điều kiện Gruzia (Liên Xô) ngày dài,
không thể hoàn thành giai đoạn ánh sáng cho nên không ra hoa kết quả. Song
giống Trung Quốc lá nhỏ đã thích ứng với điều kiện ngày dài, cho nên ừồng ở
điểm môi trường đất, hàm lượng các chất dinh dưỡng đến năng suất, phẩm
chất chè rất phức tạp. Phẩm chất chè do nhiều yếu tố quyết định. Điều kiện
dinh dưỡng ảnh hưởng rất nhiều đến năng suất, phẩm chất chè, do vậy
ngoài việc sử dụng nguồn dinh dưỡng sẵn có ở trong đất, thì việc bón phân
cho chè là một biện pháp có hiệu quả.
Sản phẩm thu hoạch của chè chỉ chiếm 8-13% tổng lượng chất khô mà
cây tổng họp được nếu tính cả các phàn trên và dưới mặt đất. Theo nguồn tò
nhiều tác giả Ấn Độ thì trong 100 kg chè thương phẩm có chứa lượng dinh dưỡng
là 4 kg N
2
; 1,15 kg p
2
0
5
; 2,4 kg K
2
0; 0,42 kg MgO; 0,8 kg CaO; 100 g Al; 6g Cl;
8g Na [38]. Ngoài lượng dinh dưỡng này cây còn lấy một số lớn dinh dưỡng cho
việc hình thành bộ lá trên bụi chè, cho số lá rụng, cho việc hình thành thân cành
và rễ. Chính YÌ vậy, để hình thành nên 100 kg chè thương phẩm cây lấy đi tổng
1
7
số dinh dưỡng cho tất cả các bộ phận trên là: 16,9 kg N
2
; 5,68 kg p
2
0
5
; 8,8 kg K
2
Chè chê biên ở Trung Quôc 8,9
6,0
30,3 13,7
Chè chê biên ở Trakvi (Liên Xô)
8,1
7,7 30,6 14,5
Lá chè tươi Gruzia (Liên Xô) 9,7 8,7 38,9 19,0
Cũng theo tài liệu của Trung Quốc nếu thu hoạch 7,5 tấn búp/ha, cần
phải cung cấp N
2
: 37,5 kg, p
2
0
5
: 75 kg và K
2
0: 112 - 150 kg [40].
Ngoài ra, hàng năm trọng lượng cành lá đốn cũng xấp xỉ bằng trọng
lượng búp và lá non đã thu hoạch và theo Daraxêli thì lượng đạm bị rửa trôi
thường 1/3 tổng lượng đạm bón vào đất [27].
Achivicy và Tlanfanchi đã nghiên cứu thành công một số loại cây họ Đậu
(Fabaceae) làm cây phân xanh, đồng thời làm cây che bóng cho cây chè [41].
Theo dõi tại vùng chè Assam (Ấn Độ) thấy rằng hiệu lực của đạm tăng
lên đều đặn theo thòi gian, hiệu suất 2 kg đạm của lần 1,2,3,4 lần lượt là
2,4,6,8 kg chè khô. Ở Đông Phi cho thấy: hiệu suất của 1 kg đạm là 4-8 kg
chè khô, nếu hiệu suất < 4 kg chè khô/1 kg N thì đã xuất hiện một yếu tố
nào khác là lân hay kali [27], [42].
1
8
Theo M.L.Bziava (1973) liều lượng đạm tăng lên, sản lượng búp sẽ tăng,
0,75%. Cây chè đủ dinh dưỡng hàm lượng lân tương ứng là 0,33 - 0,39% và 0,82-
0,86% [39].
Theo nghiên cứu của F.Hurisa (Liên Xô) thì hiệu quả trực tiếp của 3 năm
bón lân và liều lượng 126- 196 kg/ha trên nền N, K tăng sản lượng búp 5 - 30%
so với đối chứng chỉ bón N, K song hiệu quả tăng bình quân 21 năm về sau là 60
- 78%. Ở Liên Xô (cũ) trên đất đỏ hiệu quả phân lân ở những năm sau thường cao
hơn năm trực tiếp bón [9].
Kết quả nghiên cứu của Curxanop (1954) và J.C.Nigaloblis Vili (1966) ở
Liên Xô (cũ) đã khẳng định bón phân lân trên nền N, K làm tăng Catein trong
búp chè có lợi cho chất lượng chè [24].
Trong đất nếu hàm lượng p
2
0
5
là 30 - 32 mg/100 g đất thì cây chè sinh
trưởng bình thường, nếu là 10 - 12 mg/100 g đất thì thiếu nhiều lân [39].
Trên những nương chè mói trồng, phân kali không có hiệu quả vì trên
những loại đất mới khai phá hàm lượng K
2
0 trong đất đủ cho yêu cầu sinh trưởng
phát triển của cây (20 - 25 mg KO/lOOg đất), ở những nơi thường xuyên bón N,
p với liều lượng cao trong nhiều năm, đất trở nên thiếu kali thì hiệu quả việc bón
K
2
0 rất rõ rệt [9]. Theo số liệu của Goziaxivili (1949) bón K
2
0 trên đất đỏ với liều
lượng 80 - 320 kg/ha có thể tăng sản lượng 28-55% so với đối chứng bón N, p.
Những nghiên cứu của A.D.Makharobitze (1948) cho thấy phẩm chất nguyên liệu
trong các công thức bón phân khác nhau được xếp theo thứ tự sau: p, K, N và
khoáng thường xuyên bón vào đất chè dẫn đến sự biến đổi hóa học của đất. Các
chất dinh dưỡng được hòa tan mạnh hơn khi đất ẩm có mưa, nhất là những vùng á
nhiệt đới và đới ẩm các chất khoáng của đất thường bị rửa trôi. Sử dụng phân
chua sinh lí ở điều kiện thâm canh cao làm thúc đẩy mạnh cường độ rửa ừôi các
ion bazơ trong đất, trong đó có Mg. Khi bón NPK với mức cao, độ chua của đất
2
1
tăng cao, ngược lại hàm lượng bazơ lại giảm thấp: CaO 14,4 mg/100g đất, đặc
biệt MgO chỉ còn 1,8 mg/100g đất. Trong khi đó đối chứng tương tự là CaO:
28,8. MgO: 5,8 mg/100g đất [39], [41]. Geus J.G.De, 1983: Việc sử dụng lâu dài
amon sunfat và các loại phân chua sinh lí đã làm thay đổi đáng kể tính chất lý hóa
học của đất. Trong môi trường chua sự rửa trôi MgO lớn hơn CaO, mặt khác CaO
được bổ sung cùng việc bón lân còn MgO bị lấy đi cùng búp chè thu hoạch, sự
thiếu hụt MgO ngày càng trầm trọng. Sự thể hiện thiếu MgO của cây chè có
nhiều nguyên nhân: do nhiều năm sử dụng amon sunfat liên tục, do nhiều năm sử
dụng kali trên đất feralit nghèo hoặc thiếu magie, do thừa mangan trên đất tto núi
lửa. Khắc phục sự thiếu magie người ta bón vào đất 125 kg dolomiưlha, khi thiếu
magie nặng hơn bón 100 - 125 kg kiseserit (24% MgO), hoặc phun MgS0
4
1 làn
trên năm với nồng độ 2% lá được thực hiện ở Srilanka, Nam Ấn Độ đã làm tăng
sản lượng 11-16% trên các nương chè già [38], [42].
1.2.2. Nghiên cứu về phân bón cho cây chè ở Việt Nam
Hiện nay ở nước ta cây chè được trồng nhiều trên nhiều loại đất, nhưng
chủ yếu là trên nhóm đất đỏ vàng. Cây chè thích hợp trồng trên đất chua vừa đến
ít chua, độ dày tàng đất càng sâu thì cây chè sinh trưởng, phát triển càng tốt và
tuổi thọ của cây càng kéo dài. So vói các loại cây trồng khác thì cây chè có khả
năng sống ở những nơi đất cằn cỗi, nghèo dinh dưỡng mà vẫn cho thu nhập.
Cây chè yêu càu về đất không chặt chẽ lắm. Song để cây chè sinh trưởng
tốt, năng suất cao và ổn định thì đất trồng chè phải đạt những yêu cầu sau: tốt,
rõ rệt qua 10 năm 1 kg P2O5 làm tăng được 3,5 kg chè búp tươi [25].
Quy trình bón P2O5 của Liên hiệp xí nghiệp chè Việt Nam 1988 quy định 5
năm bón P2O5 một lần với liều lượng 100 kg/ha, bón kết hợp với phân chuồng
sau khi đốn, bón sâu khoảng 20-30cm [14].
Nghiên cứu về ảnh hưởng của phân bón đến chỉ tiêu hóa sinh chất lượng
búp chè tác giả Trịnh Văn Loan đã nêu: Những dạng phân bón khác nhau có ảnh
hưởng ở các mức độ khác nhau đến hoạt tính của men peroxydaza ở dạng liên kết
hay hòa tan trong lá chè. Hoạt tính của men peroxydaza cao trong những trường
họp bón phân photphat và kèm theo đó là hàm lượng tannin trong lá chè tăng lên
2
3
đáng kể. Bón phân photpho có ảnh hưởng tốt đến đặc tính hóa sinh, dẫn đến sự
tạo thành hợp chất poliphenol trong lá chè cao [24].
Kết quả 10 năm (1969-1979) nghiên cứu về phân bón NPK cho chè ở Trại
thí nghiệm chè Phú Hộ cho thấy, khi bón đạm và kali cho giống chè Trung Du có
tác dụng rõ về năng suất và chất lượng búp chè, hàm lượng tannin và chất hòa tan
đều cao. Tỉ lệ phối hợp bón NPK cho chè hợp H là 3:1:1 [1].
Kết quả nghiên cứu của Đinh Thị Ngọ (1998) về bón phân cho các giống
chè cho thấy, các giống chè và tuổi chè khác nhau có yêu cầu lượng phân bón
khác nhau [1].
Bón phân khoáng cân đối và bổ sung phân hữu cơ đều làm tăng sản lượng
chè. Nhưng liều lượng NPK thích hợp cho nương chè còn phụ thuộc vào tính chất
lí hóa của đất, tuổi chè và yếu tố tác động các yếu tố sinh thái [12].
Sử dụng các nguyên tố vi lượng (Bo, đồng, mangan, molipđen, kẽm, coban
và iot) vào việc trồng trọt (xử lí các hạt trước khi gieo) và bón vào đất, phun lên
lá, có thể tác động mạnh vào các quá trình sinh lý của cây trồng khác nhau, do đó
có thể làm tăng năng suất và phẩm chất chè [10].
Ở Việt Nam bước đầu đang nghiên cứu ảnh hưởng của một số nguyên tố vi
lượng như Zn, B, Mo, Mn, Cu, đối với sự sinh trưởng và phát dục của chè, hoặc
dung dịch H3BO4 (0,02%) phun phối hợp với ure (2%) để trừ sâu và thúc sinh
với đối chứng. Bón Mg làm tăng hàm lượng đường khử, đặc biệt axit amin, do đó
ảnh hưởng tốt đến chất lượng chè [11].
Chè là cây công nghiệp dài ngày cho sản phẩm thu hái nhiều lần trong
năm, ừong đó sản phẩm thu hoạch (búp chè) chỉ chiếm 8-13% tổng sinh khối của
toàn bộ cây chè và năng suất chè thường chưa cao nên nhu càu dinh dưỡng của
cây chè không lớn. Trung bình năng suất 2 tấn búp khô lấy đi 80kg N, 23kg p
2
0
5
48kg K
2
0, 8 kg MgO và 16 kg CaO [31]. Như vậy, lượng hút dinh dưỡng của chè
lại cần tính đến cả lượng dinh dưỡng bị mất theo cành, thân do đốn định kì. Do
vậy tổng số hàng năm cây chè hút khoảng 144 kg N, 71 kg P2O5, 62 kg K
2
0, 24
kg MgO và 40 kg CaO. Tuy đạm là yếu tố dinh dưỡng bị chè hút nhiều nhất,
song cân đối đạm-kali-magie là rất quan trọng. Tỉ lệ này là thay đổi tùy theo tuổi
cây và ổn định khi thu hoạch. Thông thường, những năm trồng đầu tiên, lượng
đạm bón thường cao hơn, biến động trong khoảng 120-240 kg N/ha vói tỉ lệ
2
5