BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2 NGUYỄN THỊ HỒNG PHẤN TÍNH GIỄU NHẠI TRONG
TIỂU THUYẾT HỒ ANH THÁI
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ
VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
HÀ NỘI, 2014
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
PGS.TS Nguyễn Đăng Điệp, ngƣời thầy đã tận tình giúp đỡ, hƣớng dẫn tôi
hoàn thành luận văn trong suốt thời gian qua.
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong Tổ Lý luận văn học, Phòng
sau Đại học – Trƣờng Đại học sƣ phạm Hà Nội 2 đã tạo điều kiện thuận lợi
cho tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu.
Xin cảm ơn gia đình, nhà trƣờng, bạn bè đã động viên, giúp đỡ tôi hoàn
thành luận văn này.
Hà Nội, tháng 6 năm 2014
Học viên Nguyễn Thị Hồng Phấn
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan những nội dung trình bày trong luận văn là kết quả
quá trình nghiên cứu của bản thân tôi.
Trong quá trình nghiên cứu, tôi có tìm hiểu, tham khảo thành quả khoa
học của các tác giả khác với sự trân trọng và biết ơn, nhƣng những nội dung
tôi nghiên cứu không trùng với kết quả nghiên cứu của các tác giả khác.
Hà Nội, tháng 6 năm 2014
Học viên Nguyễn Thị Hồng Phấn MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
3.2.3. Vận dụng thành ngữ, chơi chữ 101
3.3. Giọng điệu 105
3.3.1. Đặt tên nhân vật – một cách giễu nhại của giọng điệu 105
3.3.2. Giọng giễu nhại thể hiện qua lời văn giễu nhại 110
KẾT LUẬN 128
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 131
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Từ sau đại hội Đảng lần thứ VI, năm 1986, với công cuộc đổi mới do Đảng
cộng sản đề xƣớng và lãnh đạo trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, văn hoá nền văn
học Việt Nam cũng đã có từng bƣớc chuyển biến mạnh mẽ, sâu sắc và khá toàn diện.
Văn học giai đoạn này đề cao cá tính sáng tạo của nhà văn, đổi mới cách nhìn nhận,
cách tiếp cận con ngƣời và hiện thực đời sống, khám phá con ngƣời trong những
mối quan hệ đa dạng và phức tạp, thể hiện con ngƣời ở nhiều phƣơng diện của đời
sống Điều đáng nói nhất là văn học đã quan tâm nhiều hơn tới số phận cá nhân
trong những hoàn cảnh phức tạp, đời thƣờng. Song song với sự đổi mới ở phƣơng
diện nội dung, các nhà văn cũng không ngừng tìm tòi những phƣơng pháp sáng tạo
và cách thức thể hiện mới mẻ, tạo nên những màu sắc đa dạng, phong phú cho hình
thức của các tác phẩm văn chƣơng.
Trong xu thế vận động đó của nền văn học Việt Nam, thể loại tiểu thuyết
đƣơng đại cũng đã có những đóng góp không nhỏ trong việc tạo dựng một diện mạo
mới cho nền văn học nƣớc nhà với những tên tuổi đƣợc đông đảo bạn đọc chú ý nhƣ
Sau một vài truyện ngắn có dƣ vị hài hƣớc trong tập truyện ngắn Mảnh vỡ
của đàn ông, dƣ luận đã bắt đầu chú ý nhiều hơn đến chất giọng hài hƣớc, trào lộng
của Hồ Anh Thái trong tập truyện ngắn Tự sự 265 ngày. Đối tƣợng hài hƣớc, châm
biếm của tập truyện là giới công chức mà tập trung nhất là những trí thức thời đổi
mới. Trong bài Có ai chẳng muốn đùa, nhà văn Ngô Thị Kim Cúc nhận xét: “Thật
thú vị khi đƣợc dẫn đƣờng bởi một ngƣời hiểu chuyện, hóm hỉnh và biết đùa thế. Ở
đâu, với ai, trong chuyện gì Hồ Anh Thái cũng tìm ra đƣợc bao nhiêu là cái hài
hƣớc, đáng cƣời, mà lại cƣời một cách rất đúng mực, chỉn chu, rất an toàn. Tƣởng
có thể cƣời mãi với Hồ Anh Thái cho đến lúc buông sách ra” [41; 231]. Đọc Hồ
Anh Thái “ngƣời ta có thể cƣời một cách vô tƣ nhƣng cũng đầy xót xa” [41; 235].
Sau khi nhận xét khá sắc sảo về cái tôi cô đơn của Hồ Anh Thái, Lê Quang
Toản trong bài Che giấu sự cô đơn cũng không quên nhắc đến cái chất cƣời cợt,
trào tiếu của tập truyện: “Hồ Anh Thái cần có nơi để đùa cợt, để xả soupape hay là
tác giả đã quá khéo léo che giấu sự cô đơn của mình trong những tiếng cƣời rất đời”
3
[41; 239]. Vân Long trong Một giọng văn khác đã viết: “Ở tập truyện ngắn này,
nhà văn hình thành một giọng văn hoàn toàn khác thời kỳ đầu: Trào lộng, châm
biếm, hóm hỉnh và sắc sảo những câu chuyện, những thói tật đáng cƣời trong xã hội.
Đọc tập truyện này, ngƣời đọc nhiều chỗ phải bật cƣời thành tiếng nhƣ đọc Số Đỏ
của Vũ Trọng Phụng, truyện ngắn Nguyễn Công Hoan hay Azit Nêxin” [41; 245].
Trên báo Nông nghiệp Việt Nam ngày 05/10/2001, Trần Thị Trƣờng dẫn ra ý kiến
của ngƣời khác cho rằng trong “Tự sự 265 ngày có cái cƣời nửa miệng của thi hào
Gôgôl, có cái giọng điệu hiện thực huyền ảo của Milan Kundera nếu muốn cƣời
mà lòng vẫn đau đủ chín khúc thì hãy đọc Tự sự 265 ngày. Cƣời ngƣời hay cƣời
mình lẫn lộn cả nhƣng đọc rồi cũng thấy muốn cƣời một tí ” [41; 247]. Bằng lập
luận kiểu phản đề, Nguyễn Chí Hoan trong bài Nhà văn không cười đã viết: “Có lẽ
nói cho đúng, nhà văn cƣời nhƣng chỉ nhếch mép Toàn bộ 11 truyện trong tập đều
một lối hoạt kê, không thể không cƣời song “ý tại ngôn ngoại ở đây thì đều đắng đót”
[41; 249].
xét trên đặc điểm đang bàn chúng tôi nhận thấy đáng chú ý nhất là Cõi người rung
chuông tận thế và Mười lẻ một đêm.
Tiểu thuyết Cõi ngƣời rung chuông tận thế không phải ngay từ khi ra đời đã đƣợc
công chúng đón nhận nhiệt tình. Nét nổi bật ở tiểu thuyết này theo nhiều ngƣời đánh giá
là chất giọng đa thanh nhƣng cũng không ít ngƣời đã nhận ra giọng hài hƣớc, trào lộng.
Trong bài Cái ảo trên nền thực tác giả Vân Long viết: “Về mặt này, Hồ Anh Thái đặc
biệt mài sắc đƣợc giọng kể trào lộng, châm biếm có duyên giọng văn trào lộng, hóm
hỉnh nhà văn nhƣ chỉ dành cho nhân vật phản diện ” [24].
Trần Duy Hiển trong Rung chuông cảnh tỉnh con người nhận xét: “Đọc Cõi
người rung chuông tận thế, ngƣời ta thấy nụ cƣời chua chát của nhà văn trƣớc mọi
nhố nhăng của đời sống ” [37; 325]. Ghi nhận tài năng của lớp trẻ, nhà văn Ma
Văn Kháng khẳng định trong Cái mà văn chương ta còn thiếu rằng: “Tôi thích
giọng văn của Hồ Anh Thái. Nó có cái thông minh, hóm hỉnh, vừa sâu sắc vừa có
tính truyền thống. Hơn nữa, cái này mới là cái thật thích đây: Chất trào phúng, giễu
nhại cay chua mà tâm thiện, chất này văn chƣơng ta thiếu quá. Không có tài, chịu
đấy!” [37; 326, 327]. Phạm Chí Dũng trong bài Ám ảnh và dự cảm đăng trên báo
5
Văn nghệ ngày 22/3/2013 đã nhận định “Cõi người rung chuông tận thế có lẽ là
một trong số ít những sự phơi bầy đƣợc văn học hoá thành công bởi ngoài yếu tố
mạch truyện chuyển động nhanh, hiện đại, đi thẳng vào vấn đề của xã hội hôm nay
nhƣ nhà văn Tô Hoài nhận xét; còn vì bút pháp châm biếm trào lộng mặc dù có đôi
chỗ hơi thái quá nhƣng quả tình là đặc biệt và đặc sắc, với cả một kho ngôn ngữ dân
gian ẩn dụ và tả thực phải nói là rất phong phú, cùng với điểm nhìn xuất phát từ góc
độ khách quan và thái độ giễu cợt của nhà văn với những mặt trái của xã hội cứ thế
mà tuôn trào ra, đƣợc lôi tuột ra, không che giấu gì cả đã làm cho cuốn tiểu thuyết
này trở nên cuốn hút” [37; 334, 335]. Đánh giá chung về Cõi người rung chuông
tận thế và một số sáng tác giai đoạn sau của Hồ Anh Thái, tác giả Nguyễn Đăng
Điệp trong bài nghiên cứu Hồ Anh Thái, người mê chơi cấu trúc đã khái quát:
“Trong sáng tác của Hồ Anh Thái nhất là giai đoạn sau, ta bắt gặp khá nhiều chất
khác” [39; 333]. “Mười lẻ một đêm đƣợc viết bằng giọng hài hƣớc chủ đạo, thậm
chí có đoạn đƣợc lồng vào cả truyện dân gian. Câu văn thụt thò, dài ngắn có chủ
đích. Chƣơng I, Chƣơng II cái ngả nghiêng còn liu riu, rồi cái sự ngả nghiêng cứ
tăng dần ” (Ngả nghiêng trần thế - Sông Thƣơng, báo Thanh niên ngày 11/4/2006
[39; 337]. “Tiểu thuyết Mười lẻ một đêm của nhà văn Hồ Anh Thái có thể khiến
ngƣời ta phải bật cƣời bởi tính chất hài hƣớc của nó có thể thấy giọng văn ở đây là
kiểu giọng phát ngôn tƣng tửng, nó đƣợc xuyên thấm bởi tính chất bỡn cợt giễu
nhại” [27].
Đức Phật, nàng Savitri và tôi; SBC là săn bắt chuột; Dấu về gió xoá là
những cuốn tiểu thuyết mới nhất của Hồ Anh Thái. Ngay sau khi đƣợc xuất bản, các
tác phẩm đã nhanh chóng nhận đƣợc sự chú ý, quan tâm của độc giả và các nhà
nghiên cứu, phê bình văn học. Đó là các ý kiến, nhận xét, đánh giá nghiên cứu tác
phẩm từ góc độ phê bình.
Nguyễn Tham Thiện Kế trong Cảm theo cách của Đức Phật, nàng Savitri
và tôi (Tạp chí Sông Hương 5/10/2009) đã viết: “Đã nhớ Hồ Anh Thái với sự giễu
nhại, hài hƣớc thâm trầm”. Những nụ cƣời chậm đƣợc bật ra khi đã đọc qua vài ba
trang hoặc có khi cả thiên truyện. Lớn hơn hết ở khu vực giọng điệu giễu nhại thẳm
sâu vẫn là sự chia sẻ, cảm thông. Tinh thần của ngƣời có cơ duyên với Phật pháp.
7
Và cũng không xa lạ với chủ nghĩa nhân văn phƣơng Tây” [17].
Văn Thị Thu Hà nhận xét trong “SBC là săn bắt chuột: Giấu trong tiếng
cười”: “Bằng ngòi bút tài hoa của mình tác giả đã tái hiện bức tranh hiện thực
huyền ảo về cuộc chiến giữa Chuột và Ngƣời với tất cả sự thô lậu, xấu xa hiện hữu
trong cuộc sống đƣợc thể hiện bằng giọng văn giễu cợt, trào lộng, hài hƣớc sâu cay
đầy lôi cuốn”.
Nhận xét về “Giọng điệu Hồ Anh Thái” trong SBC là săn bắt chuột, Ma
Văn Kháng viết “Cuốn sách một lần nữa biểu hiện cái tung hoành về bút lực và chữ
nghĩa tác giả. Nhà văn mà không giàu chữ thì có còn là nhà văn nữa hay không!
Đây là một bữa đại tiệc rất nhiều đặc sản về ngôn từ và giọng điệu. Giễu nhại, hài
3. Mục đích nghiên cứu
Chọn nghiên cứu đề tài này chúng tôi đặt ra mục đích và cũng cố gắng có sự
đối sánh ngay chính giữa các lĩnh vực sáng tác của Hồ Anh Thái với cả các tác giả
đƣơng đại với mong muốn có thể nhận diện và chỉ ra những biểu hiện cơ bản nhất
của tính giễu nhại để có cái nhìn khái quát, toàn diện và sâu sắc hơn về vấn đề này.
Qua việc nghiên cứu tính giễu nhại, luận văn khẳng định những đóng góp
của nhà văn Hồ Anh Thái trong việc khám phá và miêu tả hiện thực đời sống xã hội
và con ngƣời cũng nhƣ những đóng góp của ông cho sự đổi mới nghệ thuật văn
xuôi Việt Nam đƣơng đại.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
Tìm hiểu những vấn đề lý luận về giễu nhại và cảm hứng giễu nhại trong văn học.
Đặt sáng tác của Hồ Anh Thái vào xu hƣớng nảy sinh và phát triển cảm hứng
giễu nhại trong văn học Việt Nam từ sau 1975.
Tìm hiểu những bình diện giễu nhại cơ bản và các phƣơng thức nghệ thuật
đặc trƣng của tính giễu nhại trong tiểu thuyết Hồ Anh Thái.
5. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
5.1. Đối tượng nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu tính giễu nhại trong tiểu thuyết Việt Nam tiêu
biểu là các sáng tác của Hồ Anh Thái. 9
5.2. Phạm vi nghiên cứu
Tính giễu nhại không chỉ có trong tiểu thuyết mà còn có ở những truyện
ngắn của Hồ Anh Thái. Trong khuôn khổ của luận văn thạc sĩ, để thực hiện đƣợc
mục đích khoa học đề ra chúng tôi chỉ tập trung vào các tác phẩm sau:
1. Cõi người rung chuông tận thế Nxb Đà Nẵng, 2004
2. Mười lẻ một đêm Nxb Đà Nẵng, 2006
3. Đức Phật, nàng Savitri và tôi Nxb Đà Nẵng, 2007
4. SBC là săn bắt chuột Nxb trẻ, 2011
điển thuật ngữ văn học (2002) định nghĩa nhại là “một thể văn châm biếm dùng
sự bắt chƣớc để chế giễu một tác phẩm hoặc cả một trào lƣu nghệ thuật. Phƣơng
tiện chủ yếu của nhại là bắt chƣớc phong cách. Hai kiểu nhại chủ yếu (đôi khi
tách thành những thể tài riêng) là kiểu khôi hài trong đó đối tƣợng thấp đƣợc
trình bày bằng một phong cách cao; và kiểu chế nhạo trong đó đối tƣợng cao
đƣợc trình bày bằng một phong cách thấp: Sự chế nhạo có thể nhằm vào phong
cách, có thể nhằm vào đề tài, có thể nhằm vào hiện tƣợng đời sống vốn dung tục
không xứng với thi ca. Có thể có lối nhại một thi pháp, một tác giả, một thể loại,
một thế giới quan ” [14; 155].
Trong văn học, nhại đƣợc xem là hình thức phê bình châm biếm hoặc là hình
thức chế giễu khôi hài bằng cách bắt chƣớc phong cách và bút pháp của một nhà
văn hoặc một nhóm nhà văn đặc biệt để nhấn mạnh đến sự non yếu của nhà văn ấy
hoặc những quy ƣớc bị lạm dụng của trƣờng phái ấy. Xét theo quan niệm về kiểu
nhại giữa tác phẩm này với các tác phẩm khác nhƣ trên, tức là bao gồm hầu hết các
yếu tố làm nên chỉnh thể tác phẩm nhƣ hình tƣợng nhân vật, hệ thống chi tiết, ngôn
từ nghệ thuật, nghệ thuật trần thuật Nhại khác với trò hài hƣớc (burlesque) ở độ
sâu từ sự xâm nhập kỹ thuật của nó vào đối tƣợng nhại và bởi độ sâu từ sự bôi bác
đƣợc dùng để xử lý những vấn đề đƣợc đề cao trong bút pháp tầm thƣờng, nhại thật
sự bóc trần một cách tàn nhẫn những mánh lới của bút pháp lẫn tƣ tƣởng của những
nạn nhân của nó, nhƣng nhại không thể thực hiện đƣợc nếu không có sự đánh giá
thấu đáo tác phẩm mà nó chế giễu.
11
Xét ở phạm vi rộng hơn, trong văn học còn có những kiểu nhại khác nhƣ
nhại chính các đối tƣợng phản ánh của văn học. Kiểu nhại này đa dạng cả về đối
tƣợng nhại và cấp độ nhại. Các vấn đề về thể chế chính trị, văn hoá khoa học, văn
chƣơng nghệ thuật, đạo đức lối sống thói hƣ tật xấu của con ngƣời ở mọi tầng lớp,
địa vị xã hội Mức độ của nhại có thể đi từ khái quát đến chi tiết tuỳ theo mục đích
của chủ thể sử dụng nhại trong tác phẩm của mình. Đặc điểm dễ nhận thấy nhất ở
nhại là sự mô phỏng, dựa theo, bắt chƣớc đối tƣợng nhại hoặc một đặc điểm nào đó
thân văn học) vừa (và qua đó) nhằm bật lên cái cƣời, cái tầm thƣờng, cái xấu xa, cái
kệch cỡm đáng phê phán của chúng. Giễu nhại mô phỏng, bắt chƣớc là để soi rõ
thêm cái thế vênh lệch giữa nội dung và hình thức, giữa bản chất và hiện tƣợng,
giữa bên trong và bên ngoài chỉ ra cho ngƣời đọc thấy cái lỗi thời, cái khiếm
khuyết, cái phản tiến bộ của đời sống xã hội và cái méo mó ngay trong chính bản
thân con ngƣời để cùng nhau nhận thức lại, hoàn thiện bản thân và thúc đẩy xã hội
tiến bộ. Có nghĩa giễu nhại chủ yếu quan tâm đến việc vạch ra cái xấu, cái lố bịch,
khiếm khuyết để giúp ngƣời ta nhận biết, sửa chữa và hoàn thiện. Cũng có khi, giễu
nhại đƣợc dùng nhƣ một thủ pháp gây cƣời, tạo sự hài hƣớc cho tác phẩm. Theo
M.Bakhtin: giễu nhại là “nói bằng giọng của kẻ khác” nhƣng đƣa vào đó một
khuynh hƣớng nghĩa đối lập hẳn với khuynh hƣớng nghĩa của lời ngƣời đó. Giọng
thứ hai, sau khi chuyển vào trong lời nói của kẻ khác thì xung đột thù địch với chủ
nhân của nó và “buộc nó phải phục vụ cho mục đích đối lập của mình”. Bằng lời
văn giễu nhại của tác giả đã làm đảo lộn những cái gì gọi là nghiêm túc, lột cái vỏ
hào nhoáng để trơ ra cái giả dối, cái lố bịch, cái đáng cƣời. Đó là cách “giải thiêng”
trong văn học. Giễu nhại vừa “lột tả” đƣợc một phần bản chất có thật của đối tƣợng,
vừa dung hợp đƣợc cái bác học của suy tƣ, cái suồng sã của văn học bình dân, sức
mạnh vô địch của trào tiếu dân gian. Và, với lối tự nhại, văn chƣơng chẳng những là
sự hoài nghi về các trật tự đời sống mà còn là sự nghi ngờ chính những khả năng, sứ
mệnh mà ngƣời ta thƣờng đặt ra cho nó.
Quan niệm về giễu nhại chung quy lại các nhà nghiên cứu đều thống nhất ở
điểm: coi giễu nhại là một thủ pháp nghệ thuật dựa trên sự nhại lại một tƣ tƣởng,
một quan điểm, cách viết cũ nhằm tạo nên tiếng cƣời giễu cợt với nhiều cấp độ khác
nhau. Trong đó điểm nổi bật trong sáng tác văn chƣơng tồn tại hai kiểu giễu nhại.
13
Giễu nhại truyền thống (hƣớng vào tấn công địch thủ nhằm hạ bệ từ bên ngoài) và
giễu nhại hiện đại (hƣớng vào tự giễu nhại). Giễu nhại có mối liên hệ mật thiết với
phạm trù cái hài và các khái niệm tƣơng liên nhƣ châm biếm, trào phúng.
Từ điển thuật ngữ văn học định nghĩa: Cái hài là phạm trù mỹ học, phản ánh
sắc của hình tƣợng nghệ thuật.
Nhƣ vậy sự khác biệt chủ yếu của giễu nhại với những dạng thức của cái hài
đã nêu ở trên là ở độ sâu của sự thâm nhập vào đối tƣợng giễu nhại. Nói cách khác,
sự giễu nhại có thể xuất hiện ở tất cả các cấp độ của chỉnh thể nghệ thuật, từ cảm
hứng chủ đạo, nội dung tƣ tƣởng và hình thức nghệ thuật (kết cấu, hình tƣợng nghệ
thuật, nghệ thuật xây dựng nhân vật, giọng điệu, ngôn ngữ). Khi đời sống văn học
xuất hiện những tác phẩm mang tính chất giễu nhại là khi ấy xã hội cần có một sự
thay đổi theo hƣớng tiến bộ vì bản chất của giễu nhại là mang tiếng cƣời tống tiễn
cái xấu xa, độc ác tiếp nhận cái đẹp, cái thiện.
Giễu nhại cũng phân biệt với các khái niệm gần nó ở đặc tính tạo nên sự đa
diện mạo, nhiều tầng nghĩa cho những tác phẩm sử dụng nó. Điều này một mặt cung
cấp cho những tác phẩm ấy sự đa năng trong việc đáp ứng nhu cầu thẩm mĩ của
nhiều nhóm ngƣời đọc (giải trí hoặc đòi hỏi chiều sâu), một mặt cũng là nguyên
nhân khiến chúng đƣợc nhận định là khó đọc với đa số. Chúng tôi thiết nghĩ, chính
đó lại càng thách thức ngƣời cầm bút tìm tòi nhiều hơn ở hƣớng thể nghiệm này.
1.1.2. Giễu nhại - một phương cách tư duy trong văn học hiện đại và hậu hiện
đại
Hiện nay, trong văn học hậu hiện đại, giễu nhại đƣợc coi là một trong những
đặc điểm chủ đạo của trào lƣu văn học này. Ngƣời ta có thể dễ dàng thấy đƣợc dấu
vết của giễu nhại trong các sáng tác của Phạm Thị Hoài, Nguyễn Huy Thiệp,
Nguyễn Bình Phƣơng, Hồ Anh Thái, Tạ Duy Anh…
Tuy nhiên, giễu nhại không chỉ là đặc quyền của chủ nghĩa hậu hiện đại mà
thực chất nó đã hình thành và phát triển từ những giai đoạn văn học trƣớc đó. Trở
về thời Phục Hƣng ta có thể thấy đƣợc những Rable, Cervantes, hoặc gần hơn nữa
là chủ nghĩa hiện đại với Jamer Joyce và Fran Kafka ở thế kỷ XX. Ở Việt Nam, nổi
bật lên với những Hồ Xuân Hƣơng, Tú Xƣơng, Vũ Trọng Phụng, Nam Cao,
15
Ở đây không bàn tới vấn đề “lịch sử của giễu nhại” mà chúng tôi đi sâu tìm hiểu
một phƣơng cách tƣ duy trong văn học hiện đại và hậu hiện đại đó chính là giễu nhại.
buồn thƣơng thƣờng là kết quả của cảm hứng bi ai. Chiều nghịch trong mối quan hệ này
thƣờng lộ ra thủ pháp nghệ thuật giấu mình của nhà văn: tình cảm thì nồng, giọng văn lại
đạm. Sự độc đáo trong giọng điệu nghệ thuật, xét đến cùng đều bị chi phối bởi cái nhìn con
ngƣời và cuộc đời của nhà văn. Cái nhìn ấy, thế giới quan ấy làm nảy sinh cảm hứng sáng
tác, rồi gọi ra giọng điệu. Đầu thế kỷ XX, Vũ Trọng Phụng và Nguyễn Công Hoan nhìn
cuộc đời nhƣ một sân khấu hài kịch, một canh bạc đầy những chuyện vô nghĩa lý, con
ngƣời tham lam, vô nhân tính, biến chất Do vậy, xuất hiện ở sáng tác của họ giọng giễu
cợt, đả phá, phẫn uất, châm biếm là chuyện dễ giải thích. Nam Cao lại coi sự phản ánh thế
giới hiện thực qua tâm hồn con ngƣời nhƣ nguồn mạch chính. Từ cảm hứng thiết tha và
mãnh liệt với số phận con ngƣời, từ cách nhìn đời, nhìn ngƣời không phiến diện, một chiều,
giọng điệu trong sáng tác của Nam Cao vừa độc đáo vừa đa dạng mà chủ âm là giọng điệu
khách quan, lạnh lùng mà thƣơng xót, chua cay.
Trào lƣu văn học những năm trƣớc cách mạng tháng Tám khởi sắc bởi phong
trào Thơ mới, dòng văn học lãng mạn của Tự lực văn đoàn và dòng văn học hiện
thực với nhiều cây bút tên tuổi: Phạm Duy Tốn, Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan,
Vũ Trọng Phụng, Nam Cao Trong hoàn cảnh xã hội thực dân, nửa phong kiến
mục nát, lúc nào cũng ngây ngất nhƣ lên cơn sốt ấy, những nhà văn quan niệm
“nghệ thuật vị nhân sinh” đều hƣớng ngòi bút của mình tới cảm hứng phê phán một
cách rõ rệt. Họ không chỉ phê phán mà còn lên án cái xã hội bất công với bao hiện
tƣợng nhố nhăng không chỉ ở thành thị với lớp ngƣời mới nổi dở ông dở thằng,
những cách tân kệch cỡm, nửa mùa mà còn phơi bày bức tranh nông thôn với những
bậc quan phụ mẫu nhũng nhiễu, tham lam, ăn bòn ăn mót trên xƣơng máu nông dân
nghèo, với sự tha hoá của nhân cách con ngƣời trƣớc biến cố lịch sử qua một loạt
sáng tác bao gồm cả tiểu thuyết và truyện ngắn: Số đỏ (Vũ Trọng Phụng), Tắt đèn
(Ngô Tất Tố), Lão Hạc, Trẻ con không được ăn thịt chó, Một bữa no, (Nam
Cao); Bước đường cùng, Người ngựa – ngựa người, Thế là mợ nó đi Tây,
(Nguyễn Công Hoan) Cảm hứng phê phán ấy đƣợc thể hiện bằng nhiều giọng điệu,
lạnh lùng khách quan, trữ tình có, buồn thƣơng bi ai cũng có nhƣng đặc sắc nhất vẫn là
17
18
sức phong phú với cảm hứng giễu nhại bao trùm. Họ đang nỗ lực phát huy sức
mạnh nội sinh để tìm tòi và đổi mới văn học nƣớc nhà.
1.2. Giễu nhại - một cảm hứng nổi bật trong văn học hiện đại và hậu hiện đại
1.2.1. Những tiền đề chủ yếu làm hồi sinh cảm hứng giễu nhại
Đại thắng mùa xuân 1975 đã mở ra một trang mới trong lịch sử đất nƣớc.
Bƣớc ra từ cuộc chiến tranh, xã hội Việt Nam đang dần vận động và chuyển mình
mạnh mẽ. Một hiện thực mới, cuộc sống mới không chỉ đƣợc “tắm” trong không khí
chiến đấu hăng say đầy tinh thần ngợi ca của thời kỳ trƣớc mà một hiện thực trần trụi,
đầy góc cạnh với hơi thở cuộc sống đã xuất hiện trong văn học Việt Nam.
Cùng với tình hình kinh tế – xã hội đất nƣớc đang gặp rất nhiều khó khăn
khủng hoảng, văn học cũng chững lại và dƣờng nhƣ rơi vào “khoảng chân không”.
Đứng trƣớc hiện thực đó, nhu cầu đổi mới đã trở thành cấp thiết hơn bao giờ hết. Ở
vào thời kỳ đó “những nhà văn mẫn cảm với cuộc sống và có ý thức trách nhiệm cao
về ngòi bút của mình đã không ngừng nỗ lực, tìm tòi đổi mới”. Cùng thời điểm này,
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI nêu ra yêu cầu đổi mới “Đối với nƣớc ta, đổi mới
đang là yêu cầu bức thiết của sự nghiệp cách mạng, là vấn đề có ý nghĩa sống còn,
phải đổi mới, trƣớc hết là đổi mới tƣ duy, chúng ta mới có thể vƣợt qua khó khăn ”
[56; 64]. Những đòi hỏi từ sự phát triển của nền kinh tế thị trƣờng, sự hội nhập kinh
tế quốc tế và giao lƣu văn hoá trong khu vực và trên thế giới đã làm nảy sinh những
quan hệ xã hội mới, thời cơ và thách thức trên cả phƣơng diện kinh tế và văn hoá, vấn
đề cũ mới, sự suy thoái về đạo đức lối sống; những biểu hiện mới của tính cách con
ngƣời đã trở thành chất liệu mới của văn học. Cuộc sống mới có nhiều giá trị tốt
đẹp song cũng không ít điều tồi tệ, xấu xa. Đây là lúc văn học có thể ngợi ca và cũng
có thể lựa chọn cảm hứng phê phán với cái xấu xa, lạc hậu, lỗi thời thì tiếng cƣời giễu
nhại nhƣ một cái chổi quét sạch mọi rác rƣởi xã hội đã đƣợc văn học lựa chọn.
Trên tinh thần dân chủ của thời đại, quan điểm chỉ đạo văn nghệ thông
thoáng và cởi mở hơn “Đã thổi một luồng gió lớn vào đời sống văn học nghệ thuật
nƣớc nhà, mở ra một thời kỳ đổi mới của văn học Việt Nam trong tinh thần đổi mới
tƣ duy và dám nhìn thẳng vào sự thật” [11; 23]. Điều đó cho phép con ngƣời thể
lộ. Chỉ có điều bây giờ họ mới đủ bình tĩnh, đủ tâm thế, đủ bản lĩnh để nhìn nhận,