Hội thảo khoa học Quốc gia về Khí tượng Thủy văn, Môi trường và Biến đổi khí hậu lần thứ XVI
Tập 2: Thủy văn - Tài nguyên nước, Biển, Môi trường 143
SỬ DỤNG VÀ PHÁT TRIỂN TÀI NGUYÊN NƯỚC
TRÊN LÃNH THỔ VIỆT NAM
Hoàng Niêm, Huỳnh Thị Lan Hương
Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn và Môi trường
Nước là một nguồn tài nguyên vô cùng quý giá; nước không thể thiếu cho cuộc sống
con người và hệ sinh thái. Gần như tất cả các vấn đề môi trường đều có liên quan nhiều hay
ít đến nước. Việt Nam đất nước đang phát triển nên nước là một yếu tố cực kỳ quan trọng.
Mặt khác, tài nguyên nước (TNN) là hữu hạn, hiện nay vấn đề sử dụng và phát triển tài
nguyên nước đang trở thành một vấn đề cấp thiết ở nhiều quốc gia trong đó có Việt Nam.
Bài báo này trình bày tổng quan đánh giá TNN và phân tích các tồn tại trong quản lý
sử dụng và phát triển TNN trên lãnh thổ Việt Nam.
1. Khái quát về tài nguyên nước ở Việt Nam
Tài nguyên nước (TNN) được hình thành trong những điều kiện địa lý nhât
định. Lãnh thổ Việt Nam, phần đất liền, có diện tích trên 331211km
2
, giáp liền Biển
Đông, ¾ diện tích là đồi núi. Các đồng bằng thấp, hẹp chịu tác động của biển. Khí hậu
Việt Nam là khí hậu nhiệt đới gió mùa, có hai mùa rõ rệt, mùa mưa và mùa khô. Trên
lãnh thổ lượng mưa trung bình hàng năm 1960mm, một số nơi đạt đến 3000- 4000mm,
nhưng cá biệt có nơi dưới 1000mm. Về mùa hè thường có bão, lượng mưa trong bão
khá lớn, có nơi đạt đến trên 700-800mm/ngày, lượng mưa 3 ngày liên tục đạt đến trên
1000mm.
Với điều kiện địa hình chia cắt và lượng nước mưa lớn, Việt Nam có nhiều
sông suối; các sông có dòng chính từ 10 km trở lên là 2355 sông. Các sông phần lơn là
lít/ngày [3].
Lượng dòng chảy các sông phân bố không đều giữa các vùng miền và phân
phối rất chênh lệch theo các tháng trong năm. Những nơi có mưa rất lớn thì dòng chảy
lớn, thường đạt đến 40 l/s.km
2
, có nơi 100 l/s.km
2
; nơi mưa ít thì dòng chảy bé, thường
dưới 40 l/s.km
2
, có nơi chỉ từ 5 l/s.km
2
. Lượng dòng chảy các sông trong mùa lũ chiếm
70 - 80% lượng dòng chảy cả năm, còn mùa khô cạn chỉ khoảng 20-30%. Dòng chảy
các sông ở mùa lũ thường tập trung vào 2 - 3 tháng giữa mùa, ở miền Bắc vào các
tháng VII – IX, ở miền Trung và Nam Bộ là các tháng IX – XI. Mùa cạn kéo dài, vào
giữa mùa cạn lượng nước các sông ít, tháng cạn nhất chỉ chiếm 1- 2% lượng nước cả
Hội thảo khoa học Quốc gia về Khí tượng Thủy văn, Môi trường và Biến đổi khí hậu lần thứ XVI
144 Tập 2: Thủy văn - Tài nguyên nước, Biển, Môi trường
năm.Về mùa lũ thường xảy ra ngập lụt ở vùng đồng bằng, còn mùa cạn thì khô hạn,
nhất là ở trung du miền núi, nước mặn xâm nhập sâu vào vùng cửa sông. Thủy triều
ảnh hường vào sông Hồng đến vài trăm cây số, ở sông Cửu Long đến 400 km.
Nước sông chứa nhiều bùn cát, về mùa lũ lượng bùn cát trong nước sông chiếm
tới 80-90% lượng bùn cát của cả năm. Nước sông bị nhiễm mặn và chua phèn ở vùng
đồng bằng; ở đồng bằng sông Cửu Long có đến trên 2 triệu ha bị nhiễm mặn trong
mùa khô. Độ khoáng hóa nước sông thuộc loại trung bình. Một số nơi, một số đoạn
sông nước sông bị nhiễm bẩn bởi các loại chất thải, nước thải. Chất lượng nước dưới
/người.năm là quốc gia thiếu nước, như vậy nước ta được đánh
giá là quốc gia thiếu nước. Nếu cho rằng, hiện nay chúng ta dùng 3400m
3
/người.năm
thì coi như đã dùng gần hết phần lượng nước sản sinh trong nội địa.
Nước tiềm ẩn nhiều thách thức đối với sử dụng và phát triển TNN; đó là:
Lượng nước từ bên ngoài chảy vào lớn, chiếm hơn 62% tổng lượng nước mặt và chủ
yếu chuyển qua hạ lưu của hai con sông lớn; lượng nước trên lãnh thổ phân bố không
đồng đều giữa các vùng miến và đặc biệt phân phối theo thời gian trong năm rất chênh
lệch; ¾ lãnh thổ là đồi núi, đồng bằng hẹp và thấp; dân số đông và tăng nhanh (mỗi
năm tăng trung bình trên 1 triệu người); trình độ dân trí thấp; các ngành kinh tế phát
triển mạnh mẽ; đô thị hóa nhanh; bên cạnh đó khí hậu biến đổi thất thường,…
Cũng như nhiều nước khác ở Châu Á, TNN ở nước ta được khai thác phục vụ
trước tiên cho ăn uống, sinh hoạt và nhiều nhất cho sản xuất nông nghiệp, một phần
cho công nghiệp và các ngành dịch vụ. Hiện nay, mỗi năm Việt Nam sử dụng khoảng
80,6 tỉ m
3
nước. Đến năm 2020, con số này dự kiến sẽ tăng lên khoảng 120 tỉ m
3
, với
mức tăng 48%. Trong đó nước cho tưới dự kiến sẽ tăng khoảng 30%, công nghiệp tăng
gần 190%, đô thị 150% và nuôi trồng thủy sản 90%. Đến năm 2020, mặc dù sử dụng
nước cho tưới vẫn tăng đáng kể và vẫn là sử dụng nước lớn nhất nhưng tỉ trọng này sẽ
giảm đi từ 82% xuống 72% Nếu tính toán mức sử dụng nước mùa khô dự kiến trong
tương lai đến năm 2020 thì tỷ lệ sử dụng nước so với nguồn nước sẵn có cho thấy cụm
lưu vực sông ĐNB ở trên ngưỡng 100%, có nghĩa là sử dụng nước dự kiến sẽ vượt quá
tổng khả năng nguồn nước ở lưu vực trong mùa khô. Lưu vực sông Mã sẽ ở ngưỡng
100% và lưu vực sông Kone sẽ tiến gần sát ngưỡng này. Các lưu vực sông Hồng, Ba,
Đồng Nai, Hương và Trà Khúc sẽ ở vùng căng thẳng cao. Các lưu vực sông khác sẽ ở
vùng căng thẳng trung bình, và chỉ có lưu vực sông Sê San và Thạch Hãn có thể sẽ
Bộ Tài nguyên và Môi trường được giao quản lý nhà nước về Quy hoạch lưu
vực sông (Nghị định 120/2008 NĐ-CP ngày 01/12/2008 về quản lý lưu vực sông, Luật
TNN được Quốc hội khóa XIII thông qua tại kỳ họp thứ 3, ngày 21 tháng 6 năm
2012).
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn được giao Quản lý quy hoạch Thủy lợi
trong cả nước, mới đây nhất Bộ Nông nghiệp và PTNT trình Thủ tướng và được Thủ
tướng phê duyệt 3 Quy hoạch Thủy lợi gồm: Quy hoạch thủy lợi đồng bằng sông Cửu
Long giai đoạn 2012 - 2020 và định hướng đến năm 2050 trong điều kiện biến đổi khí
hậu, nước biển dâng, Quy hoạch thủy lợi vùng đồng bằng sông Hồng giai đoạn 2012 -
2020 và định hướng đến năm 2050 trong điều kiện biến đổi khí hậu, nước biển dâng,
Quy hoạch thủy lợi khu vực miền Trung giai đoạn 2012 - 2020 và định hướng đến năm
2050 trong điều kiện biến đổi khí hậu, nước biển dâng. Các Quy hoạch nêu trên không
chỉ bao gồm một mà nhiều lưu vực sông, không chỉ bao gồm một mà gồm nhiều tỉnh
việc đó dẫn đến chồng chéo với các quy hoạch các lưu vực sông đã được phê duyệt
trước đây.
Bộ Công thương được giao quản lý Quy hoạch hệ thống bậc thang Thủy điện,
đã trình chính phủ phê duyệt nhiều hệ thống bậc thang thủy điện trên các sông lớn,
nhỏ; tuy vậy, trong quá trình thực thi có rất nhiều bất cập, nhiều khi không thống nhất
với các quy hoạch TNN khác. Ví dụ, khi đề xuất quy hoạch hệ thống dung tích phòng
Hội thảo khoa học Quốc gia về Khí tượng Thủy văn, Môi trường và Biến đổi khí hậu lần thứ XVI
146 Tập 2: Thủy văn - Tài nguyên nước, Biển, Môi trường
lũ cho các hồ chứa đa mục tiêu trên hệ thống sông Vu Gia – Thu Bồn, ngành nông
nghiệp đề xuất dung tích phòng lũ lên đến hơn 1 tỷ m3 nước nhưng ngành điện quy
hoạch và đã xây dựng các hồ chứa thủy điện cũng chỉ dành hơn 100 triệu m3 cho
phòng lũ, chưa kể trong khi vận hành mùa lũ do lợi ích tăng sản lượng điện các nhà
máy thủy điện lại giảm các dung tích này đi.
Bộ Xây dựng được giao quản lý Quy hoạch cấp, thoát nước sinh hoạt thành
Tập 2: Thủy văn - Tài nguyên nước, Biển, Môi trường 147
USE AND DEVELOPMENT OF WATER RESOURCE WITHIN
THE TERRITORY OF VIETNAM
Hoang Niem, Huynh Thi Lan Huong
Vietnam Institute of Meteorology, Hydrology and Environment
Water is a vital and indispensable resource for human life and ecosystems. Most of
environmental problems are related more or less to the water. Vietnam is a developing
country so water is an extremely important factor for its development. On the other hand,
water resource is finite, issue of water use and development is becoming a critical topic in
many countries, including Vietnam.
This paper presents an overview of water resources assessment and analyses
limitations in the management, use and development of water resources within the territory of
Vietnam