Quản lý chi bảo hiểm thất nghiệp trên địa bàn tỉnh hải dương - Pdf 30


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

NGUYỄN THỊ QUỲNH HOA

QUẢN LÝ CHI BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HẢI DƯƠNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ

CHUYÊN NGÀNH : QUẢN TRỊ KINH DOANH
MÃ SỐ : 60.34.01.02 NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. ĐỖ QUANG GIÁM

HÀ NỘI - 2014
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page i

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này
là trung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào.
Tôi cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã
được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ
nguồn gốc.

Hà Nội, ngày 02 tháng 10 năm 2014
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Quỳnh Hoa

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page iii

MỤC LỤC

Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục chữ viết tắt vi
Danh mục bảng vii
Danh mục hình viii
PHẦN I MỞ ĐẦU 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 3
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
PHẦN 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIẾN 5
2.1 Cơ sở lý luận 5
2.1.1 Một số khái niệm 5
2.1.2 Vai trò quản lý chi bảo hiểm thất nghiệp 9
2.1.3 Nguyên tắc quản lý quỹ BHTN 11
2.1.4 Nguyên tắc quản lý chi BHTN 12
2.1.5 Nội dung quản lý chi BHTN 14
2.1.6 Quy trình hoạt động quản lý chi BHTN 17
2.1.7 Các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý BHTN của BHXH tỉnh 26
2.2 Cơ sở thực tiễn 29
2.2.1 Thực trạng thất nghiệp và thực hiện chính sách BHTN ở Việt Nam 29
2.2.2 Kinh nghiệm của một số nước trên thế giới trong quản lý Bảo
hiểm thất nghiệp 31
2.2.3 Bài học kinh nghiệm về quản lý BHTN rút ra cho BHXH Việt Nam

4.3.2 Định hướng phát triển ngành BHXH tỉnh 96
4.3.3 Giải pháp hoàn thiện quản lý BHTN tại BHXH tỉnh Hải Dương 97
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page v

PHẦN 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 106
5.1 Kết luận 106
5.2 Kiến nghị 107
TÀI LIỆU THAM KHẢO 109
PHỤ LỤC 110

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page vi

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

ASXH: An sinh xã hội
BHTN: Bảo hiểm thất nghiệp
BHXH: Bảo hiểm xã hội
BHYT: Bảo hiểm y tế
Bộ LĐTB&XH: Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội
CB, CC,VC: Cán bộ, công chức, viên chức
CSXH: Chính sách xã hội
HĐLĐ: Hợp đồng lao động

HĐLV: Hợp đồng làm việc

NLĐ: Người lao động
NSDLĐ: Người sử dụng lao động
Sở LĐTB&XH: Sở Lao động - Thương binh và xã hội

4.13 Ý kiến phản ánh về tiến độ chi trả BHTN tại BHXH tỉnh 83
4.14 Đánh giá kết quả chi học nghề cho đối tượng hưởng BHTN tại tỉnh 85
4.15 Hiện trạng lao động theo trình độ đào tạo của tỉnh 89
4.16 Điều tra mức độ hiểu biết BHTN của người lao động tham gia BHTN 90
4.17 Số người đăng ký và được hưởng BHTN tại BHXH tỉnh 91
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page viii

DANH MỤC HÌNH

STT Tên hình Trang

3.1 Bản đồ hành chính tỉnh Hải Dương 37
3.2 Mô hình tổ chức BHXH tỉnh Hải Dương 45
3.3 Khung phân tích tình hình quản lý chi BHTN tại tỉnh Hải Dương 48
4.1 Tổ chức bộ máy quản lý BHTN tại tỉnh Hải Dương 57
4.2 Quy trình lập kế hoạch chi BHTN tại BHXH tỉnh 59
4.3 Quy trình xét duyệt đối tượng hưởng BHTN tại tỉnh 68
4.4 Quy trình chi trả BHTN hàng tháng tại BHXH tỉnh 71
4.5 Quy trình chi trả TCTN một lần tại BHXH tỉnh Hải Dương 73
4.6 Chi BHTN so với kế hoạch tại huyện Cẩm Giàng và TP Hải Dương 82
4.7 Cách xác định kế hoạch chi BHTN tại BHXH tỉnh Hải Dương 98
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 1


Chính sách đó đã từng bước được bổ sung, sửa đổi và hoàn thiện cho phù hợp
với từng giai đoạn xây dựng và phát triển đất nước.
Hải Dương là một tỉnh thuộc vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc, nơi có
nhiều doanh nghiệp đóng trên địa bàn. Trong những năm gần đây, Hải Dương
cũng chịu ảnh hưởng không nhỏ của suy thoái kinh tế, nhiều lao động bị mất
việc làm. Qúa trình thực hiện chính sách BHTN ở tỉnh Hải Dương trong thời
gian qua vẫn còn bộc lộ những hạn chế, thiết sót, đặc biệt trong công tác quản
lý chi BHTN. Do sự bất cập trong việc thụ hưởng trợ cấp của Nhà nước đối với
người tham gia đóng BHTN nên không ít cá nhân, tổ chức lợi dụng việc chi trả
đối với NLĐ để trục lợi. Trên thực tế, người đóng BHTN chỉ cần chứng minh
mình đang thất nghiệp trong khi đó các Trung tâm giới thiệu việc làm
(TTGTVL) của tỉnh không giải quyết được việc làm thì người đó nghiễm nhiên
được hưởng TCTN. Nếu trong trường hợp có sự bắt tay hợp lý của các tổ chức,
cá nhân đóng BHTN với những nhân viên TTGTVL thì việc rút ruột quỹ
BHTN có thể xảy ra. Bên cạnh đó, có trường hợp NLĐ nghỉ làm việc tại đơn vị
này đã chuyển sang làm việc ở một đơn vị khác, nhưng khi có quyết định nghỉ
việc ở đơn vị cũ họ vẫn đi làm thủ tục để hưởng TCTN, cơ quan BHXH chưa
kiểm soát được chặt chẽ đối tượng hưởng chế độ BHTN nói trên. Đây là những
khó khăn đối với quản lý chi BHTN trên địa bàn tỉnh Hải Dương trong những
năm qua cần được giải quyết, bảo đảm cho NLĐ tham gia BHTN và thụ hưởng
các chế độ, chính sách BHTN được thuận lợi hơn.
Thực tế đó đặt ra yêu cầu phải có sự nghiên cứu một cách có hệ thống,
toàn diện vấn đề quản lý chi BHTN trên địa bàn tỉnh Hải Dương nhằm tìm ra
giải pháp hoàn thiện quản lý chi BHTN tại BHXH tỉnh Hải Dương, đáp ứng
những yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Hải Dương trong điều kiện
kinh tế Việt Nam mở cửa và hội nhập ngày càng sâu rộng hơn vào nền kinh tế
thế giới. Thực hiện tốt công tác quản lý chi BHTN chính là đảm bảo cho quỹ
BHTN được an toàn và phát triển bền vững, điều đó sẽ tạo động lực và là yếu
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 4

tượng hưởng BHTN và hoạt động chi BHTN.
+ Nghiên cứu đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý chi
BHTN tại BHXH tỉnh Hải Dương.
 Phạm vi thời gian
Đề tài tiến hành nghiên cứu từ tháng 5 năm 2013 đến tháng 10 năm
2014. Các thông tin, số liệu phán ánh trong đề tài tập trung chủ yếu trong
khoảng thời gian từ năm 2011 đến hết năm 2013.
 Phạm vi về không gian
Đề tài được thực hiện tại cơ quan BHXH tỉnh Hải Dương và những đơn
vị, cơ quan trên địa bàn tỉnh Hải Dương do cơ quan BHXH tỉnh quản lý. Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 5

PHẦN 2. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIẾN

2.1. Cơ sở lý luận
2.1.1. Một số khái niệm
 Thất nghiệp
Thất nghiệp trong kinh tế học là tình trạng người lao động muốn có việc
làm mà không tìm được việc làm.
Tại hội nghị Quốc tế về thống kê lao động lần thứ 13 tại Genevơ (ILO,
1982) về Thống kê dân số, việc làm, thất nghiệp đã thống nhất đưa ra khái

được việc làm. (Bộ LĐTB&XH,2008)
 Bảo hiểm thất nghiệp
BHTN là một trong ba loại hình của BHXH. Có thể hiểu BHTN là quá
trình tổ chức và sử dụng quỹ tiền tệ tập trung - Quỹ bảo BHTN - được hình
thành do sự đóng góp của các bên tham gia (NLĐ, NSDLĐ và sự hỗ trợ của
Nhà nước) nhằm đảm bảo ổn định đời sống cho NLĐ họ khi gặp rủi ro về
việc làm.
Quốc hội nước Cộng Hoà xã hội Việt Nam (2006) đã thông qua Luật
BHXH, trong đó đã quy định về BHTN và có hiệu lực thi hành từ 01/01/2009.
Đây là chính sách mới có tác động trực tiếp đến quyền và nghĩa vụ của NLĐ,
NSDLĐ về vấn đề ASXH; chính sách BHTN nhằm bù đắp một phần thu nhập
của NLĐ bị thiếu hụt do thất nghiệp và quan trọng hơn là hỗ trợ NLĐ bị thất
nghiệp được học nghề, được hỗ trợ tìm việc làm để người thất nghiệp nhanh
chóng trở lại thị trường lao động, đồng thời NLĐ bị thất nghiệp còn được
hưởng BHYT.
Chính sách BHTN là một trong những chính sách được Nhà nước ban
hành để giải quyết mâu thuẫn không thể tự giải quyết được giữa NLĐ và
NSDLĐ trong việc đáp ứng quyền và nhu cầu hiển nhiên của con người về việc
làm, góp phần đảm bảo ASXH.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 7

 Quản lý Bảo hiểm thất nghiệp
Quản lý BHTN thực chất bao gồm một chuỗi các hoạt động bao gồm:
- Quản lý quá trình thu: Dựa trên cơ sở thông tin NDSLĐ đăng ký về số
lượng người tham gia, mức lương của đơn vị, BHXH tỉnh tiến hành tổ chức thu
BHTN từ đơn vị sử dụng lao động. Trên thực tế, công việc này còn gồm cả các
hoạt động lên kế hoạch thu BHTN trên địa bàn, tổ chức thu và kiểm soát trong
và sau quá trình thu.
- Quản lý quá trình chi: Sau khi NLĐ xác nhận là đã mất việc làm và có

tác động có hướng, có mục tiêu, thể hiện mối quan hệ giữa chủ thể quản lý
(quản lý, điều khiển) và đối tượng quản lý (chịu sự quản lý), đây là quan hệ
giữa lãnh đạo, không đồng cấp và có tính bắt buộc. Nó diễn ra trong mọi
lĩnh vực hoạt động của con người với nhiều cấp độ, nhiều mối quan hệ với
nhau. Đối với hoạt động BHTN thì quản lý bao gồm cả quản lý đối tượng
tham gia và thụ hưởng, quản lý thu, quản lý chi và quản lý nguồn quỹ từ đầu
từ tăng trưởng.
Quản lý chi BHTN được hiểu là sự tác động của các chủ thể quản lý
vào đối tượng quản lý trong các hoạt động như: lập, xét duyệt dự toán, tổ
chức thực hiện, điều hành và kiểm tra, giám sát hoạt động chi trả các chế độ
BHTN nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra theo những nguyên tắc và phương
pháp quản lý nhất định.
Khi nói tới chi BHTN là nói đến một loạt các mối quan hệ, bao gồm
quan hệ giữa Nhà nước, cơ quan LĐTB&XH, cơ quan BHXH, NLĐ và
NSDLĐ. Trong các mối quan hệ trên thì NLĐ và NSDLĐ là đối tượng quản
lý. Chủ thể quản lý chính là Nhà nước, cơ quan LĐTB&XH và cơ quan
BHXH các cấp từ Trung ương tới địa phương. Theo Nghị định 19/CP ngày
16/02/1995 của Chính phủ về việc thành lập BHXH Việt Nam, cơ quan quản
lý BHXH ở trung ương là BHXH Việt Nam; ở địa phương có BHXH các
tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; BHXH huyện, quận, thành phố trực
thuộc tỉnh.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 9

Mục tiêu của quản lý chi BHTN là làm cho quá trình tổ chức chi trả chế độ
BHTN thông suốt, chi đúng, đủ, kịp thời, phục vụ cho người tham gia hưởng
BHTN ngày càng tốt hơn, góp phần ổn định, bảo đảm an toàn xã hội và thúc
đẩy sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
2.1.2.Vai trò quản lý chi bảo hiểm thất nghiệp
 Đối với đối tượng thụ hưởng chính sách BHTN

quan hệ lao động được giải tỏa về cơ bản. Đây là tiền đề về mặt kinh tế
kích thích tính tự giác, sáng tạo của NLĐ, góp phần nâng cao năng suất lao
động cá nhân tức là sẽ nâng cao năng suất lao động xã hội.
Đồng thời, khi quản lý chi BHTN hiệu quả sẽ làm giảm gánh nặng cho
ngân sách nhà nước. Như đã biết, ngân sách nhà nước là quỹ tiền tệ lớn nhất
của Nhà nước, phục vụ lợi ích của toàn dân nên nếu dân gặp phải biến cố rủi
ro thì Nhà nước cũng phải có trách nhiệm một phần. Nhưng nhờ có BHTN hỗ
trợ khắc phục rủi ro nên nhà nước sẽ chỉ cần hỗ trợ một phần nhỏ từ đó tránh
được tình trạng bội chi ngân sách.
Nếu chi trả các chế độ BHTN cho NLĐ được hiệu quả, tiết kiệm thì sẽ
có lượng vốn lớn nhàn rỗi được đầu tư vào các hoạt động tài chính để bảo tồn
và tăng trưởng quỹ. Như vậy, nếu xét trên cả phương diện chi trả các chế độ
BHTN cũng như đầu tư tăng trưởng quỹ, hoạt động của quỹ BHTN đều góp
phần thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế.
Mặt khác, BHTN thực hiện nguyên tắc tương trợ cộng đồng, lấy số
đông bù số ít nên khi tham gia BHTN, NLĐ sẽ được san sẻ rủi ro khi mất việc
làm để duy trì cuộc sống, giảm bớt gánh nặng cho gia đình, góp phần cho
từng tế bào của xã hội ổn định, bền vững và phát triển. Khi NLĐ có cuộc sống
được đảm bảo, sẽ hạn chế được sự phân biệt đối xử, giảm bớt được khoảng
cách giàu nghèo. Thông qua hoạt động BHTN nói chung và hoạt động quản lý
chi trả các chế độ BHTN nói riêng, Nhà nước sẽ là bộ phận trung gian đứng ra
điều chỉnh thu nhập, đảm bảo hài hoà lợi ích và công bằng xã hội cho NLĐ
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 11

trong mọi thành phần kinh tế. Hay nói cách khác, NLĐ sẽ được công bằng
hơn về quyền lợi, khi được Nhà nước thực hiện và phân phối lại thu nhập
thông qua chính sách BHTN.
2.1.3 Nguyên tắc quản lý quỹ BHTN
Nguyên tắc 1: Quản lý thống nhất theo ngành dọc từ Trung ương đến địa

Nhà nước bảo hộ. Quỹ BHTN được quản lý và sử dụng theo chế độ tài chính
của Nhà nước, bảo đảm chi ổn định, lâu dài các chế độ BHTN. Khi quỹ nhàn
rỗi được sử dụng đầu tư trên thị trường tài chính với mục đích phát triển quỹ từ
đó giảm dần sự cấp phát từ Ngân sách Nhà nước.
2.1.4. Nguyên tắc quản lý chi BHTN
 Nguyên tắc có đóng - có hưởng.
Theo nguyên tắc này, những người muốn hưởng thụ từ quỹ BHTN thì đều
phải tham gia đóng góp tài chính vào quỹ BHTN trong một thời gian nhất
định. Đây là nguyên tắc cơ bản nhất trong hoạt động BHTN nói chung và hoạt
động chi BHTN nói riêng, nhằm đảm bảo duy trì và tồn tại nguồn tài chính
phục vụ cho hoạt động chi trả chế độ cho người tham gia BHTN. Nguồn đóng
góp của các đối tượng tham gia BHTN là nguồn đóng góp quan trọng để có
nguồn đảm bảo chi trả các chế độ BHTN.
 Chi đúng, đủ và kịp thời.
Chi đúng là đúng đối tượng tham gia BHTN. Thực hiện chi đúng cho đối
tượng là đảm bảo sự công bằng trong việc hưởng chế độ BHTN, loại bỏ các
trường hợp gian lận để hưởng các chế độ BHTN.
Chi đủ khoản trợ cấp cho các đối tượng cũng là nguyên tắc của công tác
quản lý chi trả. Nội dung chính của nguyên tắc này là đối tượng tham gia
BHTN khi được hưởng TCTN thì cơ quan BHXH phải chi trả đầy đủ khoản
trợ cấp. Mặt khác, nguyên tắc này cũng yêu cầu đối tượng tham gia BHTN
đóng góp tài chính nhiều thì được hưởng trợ cấp mức cao, đóng góp ít thì
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 13

được hưởng mức trợ cấp thấp. Khi đã xác định đúng mức trợ cấp phải tổ chức
chi trả đủ số tiền cho người được hưởng. Để thực hiện được yêu cầu này cần
thiết phải quản lý đồng bộ từ khâu xác định mức hưởng đến khâu xét duyệt hồ
sơ xác định đối tượng được hưởng, mức hưởng, thời gian hưởng và cuối cùng
là khâu chi trả.

sống ở mức tối thiểu trong thời gian không có việc làm, đồng thời làm sao để
họ không thể lạm dụng muốn hưởng trợ cấp hơn là đi làm.
- Quản lý chi hỗ trợ tìm việc và học nghề: Người đang hưởng TCTN
hàng tháng được tư vấn, giới thiệu việc làm miễn phí. Thời gian được hỗ trợ tư
vấn, giới thiệu việc làm tính từ ngày NLĐ được hưởng TCTN hàng tháng và
không quá tổng thời gian mà NLĐ đó được hưởng trợ cấp theo quy định. Cơ
quan BHXH thực hiện thanh toán chi phí tư vấn, giới thiệu việc làm cho
TTGTVL và chi phí hỗ trợ học nghề cho cơ sở dạy nghề, không chi trực tiếp
cho NLĐ đang hưởng TCTN.
- Quản lý chi đóng bảo hiểm y tế (BHYT): NLĐ đang hưởng TCTN sẽ
được hưởng chế độ BHYT và phí BHYT sẽ do tổ chức BHXH trích quỹ BHTN
đóng. Mức đóng BHYT cho NLĐ đang hưởng TCTN thực hiện theo quy định
của Luật BHYT và các văn bản hướng dẫn Luật. Thời gian đóng BHYT là thời
gian chi trả TCTN theo quy định.
- Chi phí quản lý BHTN: Chi phí quản lý BHTN hàng năm của BHXH
Việt Nam và cơ quan LĐTB&XH các cấp được trích từ quỹ BHTN và bằng
mức chi phí quản lý của cơ quan hành chính Nhà nước; được bố trí trong dự
toán chi phí quản lý bộ máy của BHXH Việt Nam theo quy định của Thủ
tướng Chính phủ.
Hàng năm, cùng quy định về lập dự toán ngân sách nhà nước, Bộ
LĐTB&XH căn cứ nhu cầu công việc lập dự toán chi phí quản lý BHTN của
ngành LĐTB&XH gửi BHXH Việt Nam để tổng hợp trình cấp có thẩm quyền
xem xét quyết định theo quy định. Căn cứ dự toán chi quản lý bộ máy của
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 15

BHXH Việt Nam được Thủ tướng Chính phủ giao, BHXH Việt Nam thực
hiện chuyển kinh phí cho Bộ LĐTB&XH để Bộ LĐTB&XH chuyển cho các
đơn vị thực hiện.
Cơ quan LĐTB&XH được cấp kinh phí quản lý từ quỹ BHTN không


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status