BỘ GIÁO DỤC VÀ ðÀO TẠO
TRƯỜNG ðẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
===***===
BÙI THỊ MINH NGA
ðIỀU TRA TÌNH HÌNH RẦY NÂU (Nilaparvata lugens Stal),
RẦY LƯNG TRẮNG
(
Sogatella furcifera Horvath) VÀ BIỆN
PHÁP PHÒNG TRỪ TẠI HUYỆN VIỆT YÊN - BẮC GIANG
VỤ MÙA NĂM 2011 LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP
Chuyên ngành: BẢO VỆ THỰC VẬT
Mã số : 60620112
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. NGUYỄN VĂN VIÊN
HÀ NỘI - 2012
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ……………………
Tác giả luận văn Bùi Thị Minh Nga
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ……………………
iii
MỤC LỤC
LỜI CAM ðOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC BẢNG vi
DANH MỤC HÌNH ix
1. MỞ ðẦU 1
2.2.1.3. Nghiên cứu về sinh học rầy nâu: 17
2.2.1.4. Nghiên cứu về sinh thái rầy nâu 18
2.2.1.5. Các nghiên cứu về phòng trừ 19
2.2.1.6. Nghiên cứu về biotype rầy nâu 21
2.2.1.7. Nghiên cứu về giống kháng và cơ chế kháng 21
2.2.1.8. Các nghiên cứu khác về rầy nâu 23
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ……………………
iv
2.2.2. Nghiên cứu về rầy nâu trong nước 25
2.2.2.1. Lịch sử phát sinh gây hại của rầy nâu Nilaparvata lugens Stal 25
2.2.2.2. Nghiên cứu về sinh học rầy nâu 25
2.2.2.3. Nghiên cứu về sinh thái rầy nâu 26
3. NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 28
3.1. ðối tượng, vật liệu, ñịa ñiểm và thời gian nghiên cứu 28
3.1.1. ðối tượng nghiên cứu 28
3.1.2. Vật liệu nghiên cứu 28
3.1.3. ðịa ñiểm nghiên cứu 29
3.1.4. Thời gian nghiên cứu 29
3.2. Nội dung nghiên cứu 29
3.3. Phương pháp nghiên cứu 31
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ……………………
v
4.2.1. Ảnh hưởng của giống ñến diễn biến mật ñộ rầy nâu Nilaparvata
lugens Stal và rầy lưng trắng Sogatella furcifera Horvath 45
4.2.2. Ảnh hưởng của thời vụ ñến diễn biến mật ñộ rầy nâu Nilaparvata
lugens Stal và rầy lưng trắng Sogatella furcifera Horvath 50
4.2.3. Ảnh hưởng của chân ñất (cao, vàn, trũng) ñến diễn biến mật ñộ rầy
nâu Nilaparvata lugens Stal và rầy lưng trắng Sogatella furcifera
Horvath 56
4.3. Kết quả nghiên phòng trừ rầy nâu Nilaparvata lugens Stal và rầy
lưng trắng Sogatella furcifera Horvath bằng một số thuốc hóa học
và chế phẩm sinh học Metarhizium anisopliae 62
4.3.1. Kết quả nghiên cứu sử dụng thuốc Cruiser Plus 312.5 FS với các
nồng ñộ khác nhau phòng trừ rầy nâu Nilaparvata lugens Stal và
rầy lưng trắng Sogatella furcifera Horvath 62
4.3.2. Kết quả thí nghiệm xử lý hạt giống bằng Cruiser Plus 312.5 FS khi thả
rầy ở các thời ñiểm khác nhau sau gieo ñối rầy nâu Nilaparvata lugens
Stal và rầy lưng trắng Sogatella furcifera Horvath 65
4.3.3. Kết quả khảo sát phẩm sinh học Nấm xanh (Metarhizium anisoliae)
phòng trừ rầy nâu Nilaparvata lugens Stal, rầy lưng trắng
Sogatella furcifera Horvath trong chậu vại 67
RLT: Rầy lưng trắng
KD18: Khang Dân 18 Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ……………………
vii
DANH MỤC BẢNG
STT Tên bảng Trang
Bảng 4.1: Thành phần rầy hại thân lúa họ Delphacidae, bộ Homoptera vụ
mùa năm 2011 tại Việt Yên, Bắc Giang 42
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ……………………
viii
Bảng 4.9: Hiệu lực của thuốc Cruiser Plus 312.5 FS xử lý hạt giống ở liều
lượng khác nhau ñối với rầy nâu nâu Nilaparvata lugens Stal
trong chậu vại 63
Bảng 4.10: Hiệu lực của thuốc Cruiser Plus 312.5 FS xử lý hạt giống ở liều
lượng khác nhau ñối với rầy lưng trắng Sogatella furcifera
Horvath trong chậu vại 64
Bảng 4.11: Hiệu lực của thuốc Cruiser Plus 312.5 FS 0,15ml xử lý hạt giống
lúa ñối với rầy nâu Nilaparvata lugens Stal ñược thả vào các thời
ñiểm khác nhau sau gieo hạt 65
Bảng 4.12: Hiệu lực của thuốc Cruiser Plus 312.5 FS 0,15ml xử lý hạt giống
lúa ñối với rầy lưng trắng Sogatella furcifera Horvath ñược thả
vào các thời ñiểm khác nhau sau gieo hạt 66
Bảng 4.13. Hiệu lực của chế phẩm Metarhizium anisopliae ñối với rầy nâu
Nilaparvata lugens Stal thí nghiệm trong chậu vại 68
Bảng 4.14: Hiệu lực của chế phẩm Metarhizium anisopliae ñối với rầy lưng
trắng Sogatella furcifera Horvath thí nghiệm trong chậu vại 69
Bảng 4.15. Hiệu lực của một số thuốc ñối với rầy nâu Nilaparvata lugens
Stal trên ñồng ruộng trong vụ Mùa tại Việt Yên, Bắc Giang 71
Bảng 4.16. Hiệu lực của một số thuốc ñối với rầy lưng trắng Sogatella
Bích Sơn - Việt Yên - Bắc Giang 50
Hình 4.4. Ảnh hưởng của thời vụ cấy ñến diễn biến mật ñộ rầy nâu
Nilaparvata lugens Stal trong vụ Mùa năm 2011 trên giống
lúa Khang Dân 18 cấy ở các trà khác nhau tại xã Bích Sơn -
Việt Yên - Bắc Giang 53
Hình 4.5. Ảnh hưởng của thời vụ ñến diễn biến mật ñộ rầy lưng trắng
Sogatella furcifera Horvath trong vụ Mùa năm 2011 trên
giống lúa Khang Dân 18 cấy ở các trà khác nhau tại xã Bích
Sơn - Việt Yên - Bắc Giang 56
Hình 4.6. Ảnh hưởng của chân ñất ñến diễn biến mật ñộ rầy nâu
Nilaparvata lugens Stal trong vụ Mùa năm 2011 trên giống
lúa Khang Dân 18 tại xã Bích Sơn - Việt Yên - Bắc Giang 59
Hình 4.7. Ảnh hưởng của chân ñấy ñến diễn biến mật ñộ rầy lưng trắng
Sogatella furcifera Horvath trong vụ Mùa năm 2011 trên
giống lúa Khang Dân 18 tại xã Bích Sơn - Việt Yên - Bắc
Giang 61Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ……………………
1
1. MỞ ðẦU
1.1. ðặt vấn ñề
Lúa ñược coi là một trong ba cây lương thực chủ yếu trên thế giới: Lúa
trong vụ mùa năm 2009, ñã xuất hiện một bệnh virus mới gây hại cho lúa
tại nhiều tỉnh thuộc khu 4 và ñồng bằng sông Hồng. Ở Nghệ An có nhiều
ruộng lúa bị hại 30 – 100% do bệnh virus mới này. Bệnh virus mới này
ñược xác ñịnh là bệnh virus lùn sọc ñen do rầy lưng trắng là môi giới
truyền bệnh. Như vậy, rầy lưng trắng phát sinh với sự gia tăng mật ñộ ñã
kéo theo dịch bệnh cho cây lúa.
Vụ Xuân năm 2010 và 2011, theo báo cáo cáo của Trạm BVTV huyện
Việt Yên diện tích nhiễm rầy nâu và rầy lưng trắng rất ít khoảng 20 – 30 ha,
diện tích nhiễm nặng khoảng 3 – 4 ha, và không có diện tích cháy rầy. Tuy
nhiên, trong vụ Mùa năm 2010 tình hình rầy nâu và rầy lưng trắng gây hại
khá nặng, diện tích nhiễm rầy nâu là 2.500 ha và diện tích nhiễm rầy lưng
trắng là 500 ha. Trong khi ñó, diện tích nhiễm nặng rầy nâu là 1.000 ha và rầy
lưng trắng là 30 ha, diện tích cháy rầy nâu 5,7 ha. Qua kết quả ñiều tra 2 vụ
Xuân năm 2010, 2011 và vụ Mùa năm 2010 tại Việt Yên – Bắc Giang cho
thấy vụ xuân diện tích nhiễm và nhiễm nặng rầy nâu, rầy lưng trắng ít hơn so
với vụ Mùa năm 2010 [theo Phụ lục báo cáo]. Hiện nay, trong phòng chống
bệnh virus hại cây trồng cần phải tiêu diệt môi giới truyền bệnh là ñiều rất
quan trọng. ðể hạn chế virus vàng lùn, lùn xoắn lá cũng như virus lùn sọc ñen
cần phải tìm ra bộ thuốc phòng trừ rầy nâu và rầy lưng trắng (môi giới truyền
bệnh) một cách hiệu quả. Tuy nhiên, cho ñến nay bộ thuốc BVTV ñể phòng
trừ rầy nâu và rầy lưng trắng ở nước ta vẫn còn hạn chế, các thuốc hóa học
ñược ñăng ký ñể trừ rầy còn rất ít, ñặc biệt là thuốc trừ rầy lưng trắng.
ðể khắc phục tình trạng trên việc ñi sâu nghiên cứu về nhóm rầy hại
thân ñặc biệt là rầy nâu (Nilaparvata lugens Stal), rầy lưng trắng (Sogatella
furcifera Horvath) và tìm ra biện pháp phòng chống hợp lý là vấn ñề cấp thiết,
góp phần tích cực cho công tác Bảo vệ thực vật ñạt hiệu quả cao, ñồng thời
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ……………………
3
1.2.3. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của ñề tài
- ðiều tra nhóm rầy hại thân trên lúa và ñánh giá ñược thực trạng của
giống lúa nhiễm rầy trong các ñiều kiện trồng trọt nhất ñịnh ở các ñiều kiện
kỹ thuật canh tác, ñiều kiện sinh thái khác nhau, nắm ñược diễn biến mật
ñộ rầy nâu và rầy lưng trắng trên ñồng ruộng ñể có biện pháp phòng chống
kịp thời.
- ðề tài ñã ñưa ra một số loại thuốc Bảo vệ thực vật có hiệu lực cao
trong phòng trừ rầy nâu và rầy lưng trắng. Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ……………………
5
2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. Tình hình nghiên cứu rầy lưng trắng
2.1.1. Tình hình nghiên cứu rầy lưng trắng ngoài nước
2.1.1.1. Vị trí phân loại, triệu chứng gây hại, ký chủ và phân bố của rầy lưng
trắng
* Phân loại
Rầy lưng trắng lần ñầu tiên ñược Horvath mô tả và ñặt tên là Delphax
furcifera vào năm 1899 trên cơ sở mẫu thu thập tại Nhật Bản, và sau ñó ñược ñổi
là Sogatella furcifera. Ngoài ra rầy lưng trắng còn có các tên khác ñồng danh ñã
ñược sử dụng như:
- Năm 1899: Delphax furcifera Horvath
- Năm 1899: Liburnia furcifera Horvath
- Năm 1899: Calligypona furcifera Horvath
- Năm 1912: Sogata distincta Distant
- Năm 1912: Sogata furcifera Distancta
pha phát dục của mình trên ngô (Zea mays), cỏ lồng vực cạn (Echinochloa
cololum), lồng vực nước (Echinochloa glabrescens), cỏ ñuôi phượng
(Leptochloa chinensis). Misral (1980) còn phát hiện rầy lưng trắng có trên lúa
mỳ, mía, và lúa mạch nhưng chưa xác ñịnh rầy lưng trắng có khả năng hoàn
thành chu kỳ phát dục trên các ký chủ này [59].
Theo Dale, 1994, S. furcifera ñã ñược quan sát thấy trên lúa mì, mía
(Misra, 1980), kê, cỏ, tuy nhiên không có thông tin về việc liệu các loại cây
trồng hoặc cỏ dại hỗ trợ hoàn thành chu kỳ phát dục trên các ký chủ này [34].
S. furcifera chủ yếu tấn công gốc của cây lúa, ưa cây lúa lúc còn non,
nhưng thiệt hại có thể xảy ra ngay cả ở giai ñoạn sinh sản [34].
* Triệu chứng gây hại
Cả rầy non và rầy trưởng thành ñều gây hại trong toàn bộ giai ñoạn
phát triển của cây lúa. Chúng phát triển và gây hại mạnh ở giai ñoạn mạ
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ……………………
7
bị tấn công nặng nên cây mạ có hiện tượng bị còi cọc, héo, và cuối cùng
chết (Dale, 1994)[34].
Theo Atwal et al, 1967; Dale, 1994, trên cây lúa trưởng thành: Rầy
non và rầy trưởng thành hút tế bào nhựa tại thân lúa và bề mặt lá. Các cây bị
tấn công chuyển sang màu vàng và sau ñó có màu gỉ sắt, lan rộng từ ñầu lá
ñến phần còn lại của cây. S. furcifera với mật ñộ cao sẽ gây hiện tượng “cháy
rầy” cây lúa bị vàng ñỏ, héo khô và chuyển sang màu nâu do cây mất quá
nhiều nhựa. Con cái mang trứng gây thiệt hại bổ sung bằng cách chọc lỗ ñẻ
trứng trên bẹ lá. Dịch ngọt ñược tiết ra bởi rầy cái kích thích sự phát triển của
nấm mốc (Dale, 1994), làm cho ñồng lúa có màu khói (hiện tượng cháy) ñây
chính là nguyên nhân gián tiếp dẫn ñến bệnh muội ñen trên lúa[34].
Rầy lưng trắng S. furcifera gây hại làm ảnh hưởng ñến số lượng hạt và
chiều dài bông giảm bị ảnh hưởng khi lúa bị nhiễm virus ở giai ñoạn trổ bông
mưa là ñiều kiện thuận lợi cho sự phát triển quần thể rầy lưng trắng. Theo Zhu X.
W (1985), ở Yiang Trung Quốc rầy lưng trắng ưu thích thời kỳ cây lúa còn non và
có 5 thế hệ trong một năm, ñỉnh cao mật ñộ quần thể vào giữa ñến cuối tháng 7. Ở
Ấn ðộ (bang Andra Prades) quần thể rầy lưng trắng trong mùa mưa cao hơn mùa
khô và có ít nhất 3 lứa/vụ trong ñó vụ mùa rầy lưng trắng có số lượng cao trong
suốt thời kỳ ñầu vụ chúng ñạt ñỉnh cao vào cuối tháng 10; giữa số lượng quần thể
với thời gian chiếu sáng có sự tương quan khá chặt [48].
Tại ðài Loan rầy lưng trắng có 7 ñến 8 lứa/năm, trong ñó vụ lúa thứ nhất,
trưởng thành bắt ñầu xâm nhập vào ruộng lúa từ cuối tháng 3 ñầu tháng 4, trong
một vụ có từ 3 ñến 4 lứa; mật ñộ quần thể giảm nhanh chóng ở lứa thứ 8 vào
cuối tháng 10 cho ñến ñầu tháng 11. Kết quả theo dõi một số năm cho thấy rầy
lưng trắng qua ñông ở dạng cánh dài trên lúa chét từ tháng 12 năm trước ñến
tháng 1 năm sau.
* Chế ñộ canh tác ảnh hưởng ñến phát sinh gây hại của rầy lưng trắng
Ảnh hưởng của thời vụ, phân bón, tưới nước và sử dụng thuốc hóa học
Theo Bhathas & Dhaliwal, (1991) trên các trà lúa muộn thường có mật ñộ
rầy lưng trắng cao hơn so với các trà sớm và chính vụ; sự phát sinh và gây hại
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ……………………
9
của rầy lưng trắng có tương quan thuận với các mức ñộ bón ñạm. Sử dụng quá
nhiều phân ñạm, cấy dầy, ñầy ñủ nước tưới và lạm dụng quá mức thuốc hóa học
là những yếu tố làm bùng phát số lượng quần thể rầy trên ñồng ruộng [1].
Việc ñiều tiết nước hợp lý cũng có khả năng hạn chế số lượng quần thể
rầy lưng trắng trên ñồng ruộng. Theo Zhang (1991) trên các ruộng lúa tại
Zhejiang (Trung Quốc) ñược rút cạn nước vào tháng 7 với vụ 1 và cuối tháng 8
ñầu tháng 9 với lúa vụ 2 thì ngoài tác dụng tốt ñến sinh trưởng và phát triển cây
lúa thì còn có tác dụng hạn chế ñáng kể ñến sự phát triển và gây hại của quần thể
rầy lưng trắng [60].
trên ñồng ruộng, cường ñộ, màu sắc ánh sáng ñèn và nhiệt ñộ, ẩm ñộ và áp suất
khí quyển quyết ñịnh việc phát tán của rầy lưng trắng, quá trình xâm nhập của
rầy di cư có tính chất ñịnh hướng vào ñồng lúa. Khoảng cách di chuyển, hướng
di chuyển của chúng phụ thuộc vào tốc ñộ, hướng gió. Nhóm rầy trong ñó có rầy
lưng trắng có khả năng di chuyển với khoảng cách rất xa, chúng có khả năng di
chuyển từ phía Bắc Việt Nam tới phía Nam Trung Quốc và từ ñó chúng di cư tới
Nhật Bản và Hàn Quốc [45]
Bằng việc sử dụng hệ thống bẫy ñèn trên ñất liền, ven biển và trên biển và
sử dụng phương pháp ñánh dấu, các tác giả ñã xác ñịnh ñược quá trình di chuyển
qua biển với số lượng lớn của rầy lưng trắng và rầy nâu vào bán ñảo Triều Tiên
từ cuối tháng 6 ñến ñầu tháng 7 ở ñảo Jeju (Nam Jeju), giữa tháng 7 ở phía Nam
và cuối tháng 7 ở các ñảo miền Trung. Theo Kisimoto (1971), Trung Quốc có 5
ñợt rầy di chuyển từ giữa tháng 4 ñến ñầu tháng 5 nhờ gió nam và tây nam và 3
ñợt di cư theo hướng tây nam vào giữa và cuối tháng 8, cuối tháng 10. Ở bán ñảo
Triều Tiên quá trình du nhập của rầy lưng trắng qua biển ñông diễn ra từ cuối
tháng 6 ñến ñầu tháng 7.
Ngoài ra, còn có sự phát tán và du nhập giữa các vùng, các vụ lúa với
khoảng cách từ 6 - 30 km, quá trình này thường diễn ra vào buổi chiều mát và
chập tối ở các vùng nhiệt ñới.
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ……………………
11
2.1.1.3. Biện pháp phòng trừ.
* Thuốc hóa học
Theo Matsumura M, (1997) rầy lưng trắng tại các nước ðông Nam Á
ñang có xu hướng kháng với hoạt chất fipronil, nguyên nhân của hiện tượng trên
ñược giải thích là do fipronil ñã ñược sử dụng ñể phòng trừ sâu cuốn lá nhỏ vào
giai ñoạn cây lúa làm ñòng. ðây cũng là thời ñiểm phát triển của rầy lưng trắng
lúa ở giai ñoạn mới cấy và sau ñó giảm dần vào giai ñoạn lúa ñứng cái. Rầy nâu,
rầy lưng trắng có xu hướng tăng lên về mật ñộ và diện phân bố, riêng năm 2006
cả nước có diện tích rầy nâu và rầy lưng trắng là 605.593 ha (tăng 3.2 lần so với
năm 2005), trong ñó diện tích bị nhiễm nặng là 48.876 ha (tăng 4.6 lần so với
năm 2005, ở các tỉnh miền Bắc có 141.190 ha bị nhiễm rầy nâu, rầy lưng trắng.
Tăng 28,6% so với 2005, trong ñó diện tích bị nhiễm nặng khoảng 20.000ha
tăng 1.8 lần so với năm 2005 (Cục BVTV, 2006)[5].
Tỉ lệ rầy nâu chiếm 70% vào năm 1981 ñã giảm xuống còn 30% vào năm
2007. Ngược lại, rầy lưng trắng tăng từ 35% lên 70%. ðặc biệt nguy hiểm, rầy
nâu nhỏ ñã tái xuất hiện ở miền Bắc từ giữa năm 2008 và ñang có xu hướng phát
triển mạnh. Như vậy, cả 2 loại rầy có khả năng truyền virus LSð (lùn sọc ñen)
rất cao ñang “ñổ bộ” ra miền Bắc khiến nguy cơ bùng phát bệnh LSð trong thời
gian tới là hết sức nguy hiểm.
Bệnh lùn sọc ñen do virus RBSDS thuộc nhóm Fijivirus-2, họ Reoviride
gây ra, và rầy lưng trắng, rầy nâu nhỏ là môi giới lần ñầu tiên xuất hiện tại Trung
Quốc năm 2001, gây hại nặng vào năm 2007, 2008, 2009 tại ñảo Hải Nam và
một số tỉnh phía nam Trung Quốc. Việt Nam là nước thứ hai trên thế giới virus
này xuất hiện, và môi giới chính là do rầy lưng trắng, chúng ñã gây hại nặng ở
vụ mùa năm 2009 tại miền Bắc với tổng diện tích bị hại lên tới trên 40 000 ha và
trên 17.000 ha bị mất trắng. Rầy lưng trắng là môi giới truyền bệnh [28].
2.1.2.2. ðặc ñiểm sinh học.
Theo N.ð. Khiêm, (1995) trứng của rầy lưng trắng có hình quả chuối, mới
ñẻ trong suốt không màu, kích thước trung bình 0.96 mm x 0.20 mm, 3 ngày sau
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ……………………
13
khi ñẻ ñầu trứng xuất hiện ñiểm màu ñỏ, cuối trứng có một ñốm màu vàng ñục.
Trứng ñược ñẻ thành từng ổ từ 2- 7 quả, thường ñẻ trong mô bẹ hoặc gân chính
của lá. Thời gian phát dục của trứng thay ñổi theo nhiệt ñộ và ẩm ñộ. Nhiệt ñộ
C và ẩm ñộ 92 - 93,8%
[18][27].
2.1.2.3. ðặc ñiểm sinh thái.
Rầy lưng trắng xuất hiện trên mạ ngay cả khi nhiệt ñộ thấp, tỷ lệ rầy non
tuổi lớn chiếm ưu thế hơn. Mật ñộ rầy tăng dần từ lúc lúa hồi xanh ñến làm ñòng
sau ñó giảm dần. Nhiệt ñộ thấp kéo dài thời gian phát dục, lượng mưa và chế ñộ
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ……………………
14
nước có liên quan trực tiếp ñến sự phát triển của quần thể rầy lưng trắng (N.ð.
Khiêm, 1995)[18].
Số Lứa: trên ñồng ruộng, một năm rầy lưng trắng phát sinh 6 - 7 ñợt rầy
non trong ñó ñợt rầy cuối tháng 4 (vụ ðông xuân) và cuối tháng 8 (vụ Mùa) là 2
ñợt có mật ñộ cao khả năng gây hại lớn. Theo ð.V.Thành (1998) trong 2 năm
1996 - 1997 tại Hải Bối - ðông Anh - Hà Nội trong năm rầy lưng trắng phát sinh
thành 7 ñợt trong ñó có 3 ñợt ñầu ở vụ chiêm xuân và 4 ñợt sau trên vụ mùa, ñợt
rầy thứ 4 thường phát sinh trên mạ mùa. Xu thế phát triển của quần thể rầy lưng
trắng trên ruộng lúa ở 2 vụ có khác nhau. Ở vụ chiêm xuân mật ñộ quần thể có
xu hướng tăng dần từ ñầu ñến cuối vụ mùa và mật ñộ quần thể thường ñạt ñỉnh
cao vào tháng 8 sau ñó giảm dần về cuối vụ. Các ñỉnh cao ñợt rầy thường cách
nhau 25 - 30 ngày và rầy lưng trắng chỉ có mật ñộ cao, khả năng gây hại nặng
trong vụ mùa, ñối với vụ chiêm xuân mật ñộ quần thể thường ở mức thấp do vậy
ít có khả năng gây hại[27].
Hệ số tích lũy: Ở vụ chiêm xuân nếu mật ñộ quần thể ở thế hệ thứ nhất là
1 thì hệ số tích lũy ở thế hệ thứ 2 là 2,6 – 3.14 còn ở thế hệ thứ ba hệ số tích lũy
chỉ tăng lên từ 4 – 6,2 lần so với thế hệ thứ nhất. Còn ở vụ mùa thì ngược lại mật
ñộ quần thể ở thế hệ thứ nhất là 1 thì thế hệ thứ 2 chỉ còn 0,36 – 0,89 và thế hệ
thứ ba chỉ còn 0,045 – 0,30.
* Ảnh hưởng của giống ñến quá trình phát triển quần thể
Năm 1906: Delphax oryzea Matsumara
Năm 1906: Kalpa aculeata Distant
Năm 1906: Nilaparvata greeni Distant
Năm 1907: Dicranotropis anderida Distant
Năm 1907: Delphax ordovix Kirkaldy
Năm 1907: Delphax parysatis Kirkaldy
Năm 1924: Nilaparvata lugens Muir & Giffard
Năm 1935: Hikona formosana Matsumura
Năm 1949: Nilaparvata lugens Ishihara