Đánh giá hiện trạng và đề xuất một số giải pháp quản lý môi trường các lò sản xuất gạch thủ công trên địa bàn huyện yên dũng tỉnh bắc giang - Pdf 30


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

NGUYỄN THỊ HẢI
ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP
QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG CÁC LÒ SẢN XUẤT GẠCH
THỦ CÔNG TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN YÊN DŨNG
TỈNH BẮC GIANG
LUẬN VĂN THẠC SĨ HÀ NỘI - 2014

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đều đã
được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đựoc chỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày… tháng… năm 2014
Học viên Nguyễn Thị Hải

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page ii

LỜI CẢM ƠN

Với tất cả tấm lòng chân thành, tôi xin bày tỏ lời cám ơn sâu sắc tới PGS.TS Đoàn
Văn Điếm là người đã tận tình giúp đỡ và hướng dẫn tôi hoàn thành luận văn này.
Tôi cũng xin cảm ơn toàn thể thầy cô giáo trong khoa Môi trường và Viện
đào tạo sau đại học trong năm vừa qua đã truyền thụ cho chúng tôi những kiến thức
quý báu
Nhân đây, tôi cũng gửi lời biết ơn sâu sắc tới các hộ dân, công nhân làm
việc tại các lò sản xuất gạch và cán bộ quản lý môi trường địa phương đã nhiệt tình
giúp đỡ tôi trong quá trình điều tra và thu thập số liệu làm luận văn.
Cuối cùng tôi xin được gửi lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè, những người luôn
giúp đỡ, động viên tôi trong suốt thời gian thực tập vừa qua.
Tôi xin trân trọng ghi nhớ sự chân tình giúp đỡ của thầy cô, gia đình, bạn bè
đã dành cho tôi.
Hà Nội, Ngày… tháng… năm 2014
Học viên Nguyễn Thị Hải

Yêu cầu của đề tài 2

Chương 1. TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3

1.1. Thực trạng phát triển sản xuất gạch nung tại Việt Nam 3

1.2. Các kiểu lò nung gạch thường được sử dụng tại Việt Nam
(HạnhChâu, 2012) 8

1.2.1. Kiểu lò nung Hoffman 8

1.2.2. Kiểu lò Tuynel (lò đường hầm) 9

1.2.3. Kiểu lò Habla 9

1.2.4. Kiểu lò Vertical Shaft Kiln – INVENTED CHINA 1958VSBK (
Vertical Shaft brick kiln hay lò nung liên tục kiểu đứng) 10

1.2.5. Lò nung gạch đốt trấu kiểu Thái Lan 10

1.3. Vấn đề môi trường không khí phát sinh từ các lò gạch thủ công 13

1.3.1. Ô nhiễm môi trường do bụi và khí thải 13

1.3.2. Phát thải khí nhà kính của các lò gạch nung 15

1.4. Tác động môi trường của các lò gạch thủ công 17

1.5. Phát triển lò gạch tại Bắc Giang và quản lý môi trường 21



3.1.3. Điều kiện khí hậu, thời tiết 31

3.1.4. Thuỷ văn và tài nguyên thiên nhiên 31

3.2. Điều kiện kinh tế - xã hội của huyện Yên Dũng 32

3.2.1. Tình hình dân số và lao động 32

3.2.2. Cơ sở vật chất kỹ thuật của huyện 33

3.2.3. Cơ cấu kinh tế và tăng trưởng kinh tế của huyện 35

3.3. Tình hình sản xuất gạch thủ công trên địa bàn huyện 37

3.3.1 Thực trạng sản xuất gạch trên địa bàn nghiên cứu 37

3.3.2 Đặc điểm hoạt động của các lò sản xuất gạch 41

3.3.3. Nhu cầu tiêu thụ nguyên liệu, nhiên liệu và sản phẩm 48

3.3.4. Thời gian sản xuất gạch 50

3.4 Hiện trạng và diễn biến môi trường ở các lò sản xuất gạch 51

3.4.1. Hiện trạng phát sinh và xử lý rác thải tại các lò gạch 51

3.4.2. Hiện trạng phát sinh và xử lý nước thải 55

3.4.3. Hiện trạng khí thải tại các lò gạch 56


1. Kết luận 87

2. Kiến nghị 88

TÀI LIỆU THAM KHẢO 89

PHỤ LỤC 91

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page vi

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1. So sánh, đánh giá khả năng áp dụng của các kiểu lò gạch
thủ công Error! Bookmark not defined.

Bảng 3.1. Giá trị sản xuất các ngành kinh tế huyện Yên Dũng năm
2011 - 2013 36

Bảng 3.2. Danh sách các chủ lò được cấp phép hoạt động sản xuất
gạch thủ công, tính đến tháng 12 năm 2013 39

Bảng 3.3. Chất lượng than cám sử dụng 49

Bảng 3.4. Lượng tiêu thụ nguyên, nhiêu liệu của lò gạch thủ công 49



Bảng 3.18. Thống kê các loại bệnh công nhân thường xuyên mắc phải 74
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page vii

DANH MỤC HÌNH

Hình 3.1 Lò sản xuất gạch thủ công 43
Hình 3.2. Quy trình công nghệ sản xuất kèm theo dòng thải 44
Hình 3.3. Mô tả sơ bộ hệ thống xử lý khí thải của lò gạch 47
Hình 3.4 Hệ thống xử lý khí thải của lò gạch 47
Hình 3.5. Phương thức xử lý xỉ than 54
Hình 3.6. Sơ đồ hệ thống xử lý nước thải ở cơ sở sản xuất 55
Hình 3.7. Sơ đồ cơ chế hoạt động của hệ thống xử lý khí thải lò nung 58
Hình 3.8. Sơ đồ nguyên lý hoạt động của hệ thống thiết bị xử lý khí thải 59
Hình 3.9. Biến động năng suất lúa tại xã Quỳnh Sơn – Yên Dũng 70
Hình 3.10 Sơ đồ tổ chức QLMT trong hoạt động sản xuất gạch 78

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page viii

DANH MỤC VIẾT TẮT

UBND ủy ban nhân dân

khu dân cư, không đủ khả năng đầu tư hệ thống xử lý khí thải đạt tiêu chuẩn hiện
hành, nên số hộ dân bị ảnh hưởng ô nhiễm rất nhiều. Bản thân các chủ lò cũng hiểu
sản xuất gạch ngói gây ô nhiễm môi trường, vì thế tự nguyện xây dựng hầm chứa
tro, xây dựng nhà chứa trấu… tuy nhiên vẫn chưa khắc phục hết nguồn gây ô
nhiễm. Theo Sở Khoa học và Công nghệ Bắc Giang, vấn đề lớn nhất liên quan đến
các lò gạch thủ công là ô nhiễm môi trường không khí. Các chỉ tiêu ô nhiễm môi
trường nổi cộm là: Bụi tro, CO, CO2, NO, NO2, SO2…
Với mục tiêu sẽ chấm dứt hoạt động của các lò thủ công gây ô nhiễm môi
trường, vấn đề đặt ra là làm thế nào để đảm bảo nguồn vật liệu xây dựng cung ứng
cho thị trường trong khi sản xuất gạch tylen chưa được phát triển rộng rãi và vốn
đầu tư rất lớn. Một trong những giải pháp được cho là khả quan hiện nay là chuyển
đổi nung đốt thủ công sang công nghệ mới,giảm ô nhiễm môi trường. Vì vậy
UBND tỉnh Bắc Giang đã linh hoạt cho phép các lò gạch thủ công chuyển đổi công

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 2

nghệ mới, các chủ lò gạch thủ công được cho phép lắp đặt hệ thống xử lý khí thải,
hạn chế ô nhiễm ra môi trường.
Yên Dũng là một trong ba huyện có số lò gạch nhiều nhất tỉnh, hoạt động sản
xuất gạch phát triển nhanh mạnh, tạo việc làm cho hàng trăm lao động. Tuy nhiên
phát triển sản xuất gạch cũng đồng nghĩa với việc phát thải lượng lớn khí gây ô
nhiễm môi trường, ảnh hưởng lớn tới sức khỏa người dân, cây trồng trong khu vực,
đồng thời phát thải lượng lớn khí nhà kính – nguyên nhân gây BĐKH toàn cầu.
Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn, sự hỗ trợ của ban, ngành các cấp huyện Yên
Dũng tỉnh Bắc Giang; được sự phân công của Khoa Tài nguyên & Môi trường,
trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá
hiện trạng và đề xuất giải pháp quản lý môi trường các lò sản xuất gạch thủ
công trên địa bàn huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang”.
1.2. Mục đích nghiên cứu

sản xuất bằng công nghệ lò tuynel chiếm 57%, lò thủ công chiếm 38%, các loại lò
khác chiếm 5%).
Sản xuất gạch để phục vụ xây dựng là nghề truyền thống của một bộ phận
người dân, góp phần giải quyết việc làm cho hàng trăm lao động. Theo thống kê,
hiện nay cả nước có khoảng hơn 9.000 xí nghiệp sản xuất gạch ngói. Các tỉnh thành
đều đang tồn tại và duy trì mô hình sản xuất gạch ngói. Nhiều địa phương còn phát
triển mạnh nghề này. Bình quân, mỗi năm các cơ sở sản xuất trên 110 triệu viên
gạch ngói các loại, tiêu biểu là các tỉnh miền Đông Bắc Bộ, Trung Bộ, Tây Nguyên
và một số tỉnh Tây Bắc…(Hoàng Thị Thảo, 2012).
Theo số liệu thống kê năm 2009 trên toàn quốc đã sản xuất được khoảng 23
tỷ viên quy tiêu chuẩn; trong đó vật liệu xây không nung (VLXKN) khoảng 8%,
gạch đất sét nung 92% (trong số gạch nung có gạch sản xuất bằng công nghệ lò
tuynel chiếm 57%, lò thủ công chiếm 38%, các loại lò khác chiếm 5%) (Bộ xây
dựng, 2013).

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 4

Điều tra sơ bộ của Hội Xây dựng Việt Nam đưa ra: năm 2000 sản lượng
gạch nung khoảng 12 tỷ viên, năm 2007 sản lượng gạch là 22 tỷ viên. Năm sản
lượng gạch đất nung năm 2011 của cả nước vào khoảng 20,9 tỷviên, chiếm 83,7%
vật liệu xây; trong đó sản lượng gạch sản xuất bằng lò thủ công vẫn chiếm khoảng
30- 35%. Năm 2012 sản lượng sản xuất khoảng 16,5 tỷ viên chiếm khoảng 82% so
với tổng số vật liệu xây; trong đó sản lượng gạch sản xuất bằng lò thủ công khoảng
25-30%. Dự kiến đến năm 2015 là 32 tỷ viên và đến năm 2020 sẽ tăng lên 42 tỷ
viên (Bộ xây dựng, 2013).
Nhìn lại tình hình sản xuất gạch nung thời gian qua cho thấy ưu điểm là
sử dụng nguyên liệu tại chỗ từ nguồn đất sét đồi, đất bãi ven sông, ruộng bạc
màu… nên giá thành rẻ. Về nguồn sét để sản xuất gạch trên địa bàn khá dồi
dào, quản lý chặt chẽ hạn chế khai thác ruộng gieo trồng lấy đất làm gạch thì

(Bộ xây dựng, 2013). Thêm vào đó là khoảng 100 triệu m3 gỗ rừng sẽ bị phá hủy để
cung cấp chất đốt cho hơn 40.000 lò gạch thủ công. Phá hủy rừng đồng nghĩa với
mất đi một phần lá phổi xanh của trái đất, gây nguy cơ lũ lụt và mất cân bằng sinh
thái…ảnh hưởng nghiêm trọng đến thế hệ tương lai (Sở Xây dựng tp.HCM, 2012).
Trước tình trạng ô nhiễm môi trường nặng nề từ các lò gạch, Chính phủ và
các bộ ban ngành ban hành Quyết định đóng cửa tất cả các lò gạch thủ công. Thay
vào đó chuyển sang áp dụng lò đốt tuy nen và lò đứng liên hoàn, ngoài ra còn linh
hoạt cho phép các lò thủ gạch thủ công chuyển đổi công nghệ mới, không gây ô
nhiễm ra môi trường.
Ngay từ những năm cuối của thế kỷ 20 Bộ Xây dựng đã nhận thấy việc đầu
tư phát triển sản xuất gạch ngói đất sét nung bằng lò thủ công tràn lan tại các địa
phương trên phạm vi toàn quốc, hậu quả là tiêu hao đất sản xuất nông nghiệp, sử
dụng không hiệu quả nguồn nhiên liệu hóa thạch (than, dầu, khí) và gây ô nhiễm
môi trường nghiêm trọng (Công ty cổ phần Tân Phú, 2011).
Để từng bước khắc phục tình hình nêu trên, Năm 2001, Bộ Xây dựng đã
trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định 115/2001/QĐ-TTg ngày
01/8/2001 phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển ngành công nghiệp vật liệu
xây dựng (VLXD) Việt Nam giai đoạn 2001-2010 (gọi tắt là Quyết định 115)
trong đó quy định đối với vật liệu xây: “Tổ chức lại sản xuất kinh doanh vật liệu
xây thủ công ở các địa phương, nhằm giảm tối đa sử dụng đất canh tác và xây dựng
các lò gạch thủ công không theo quy hoạch gây ô nhiễm môi trường tại các vùng
ven đô thị, thành phố, thị xã, thị trấn. Từng bước phát triển sản phẩm gạch không
nung ở những vùng không có nguyên liệu nung, tiến tới xoá bỏ việc sản xuất gạch
đất sét nung bằng lò thủ công ở ven các đô thị trước năm 2005, ở các vùng khác
trước năm 2010”.

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 6

Năm 2008, Bộ Xây dựng đã nghiên cứu, dự thảo và trình Thủ tướng

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 7

Xu hướng phát triển lò tuynel ở các địa phương tăng; ở các tỉnh đồng bằng và
thành phố các lò thủ công có xu hướng giảm, có một số tỉnh tới thời điểm này lượng
lò đứng thủ công còn rất ít. Nhiều tỉnh đã xây dựng phương án dừng sản xuất gạch
bằng lò thủ công, tăng sản lượng sản xuất gạch nung bằng lò tuynel như: Đồng Nai,
Thái Bình, Hải Dương, Bắc Ninh, Nam Định, Thanh Hoá, Hà Tĩnh. .v.v Tuy
nhiên, vẫn còn có một số tỉnh có lượng gạch lò thủ công tăng như: An Giang,
Quảng Ninh, Quảng Bình, Đồng Tháp, thành phố Hà Nội Các tỉnh có lượng lò
đứng thủ công không những không giảm mà còn tăng ở mức cao như: Hưng Yên,
Kon Tum, Vĩnh Long. Đặc biệt có một số tỉnh có số lượng lò đứng thủ công lớn
nhất toàn quốc là Bắc Giang 2500 lò, An Giang 1551 lò, thành phố Hà Nội 1100
lò theo số liệu báo cáo của các tỉnh năm 2009 (Công ty cổ phần Tân Phú, 2011).
Ở nước phát triển trên thế giới đều nhận thức rõ nguy cơ tàn phá môi trường
của các lò gạch đất nung và những ưu thế mang lại của vật liệu xây dựng không
nung. Do vậy đã có nhiều chính sách nhằm hạn chế sản xuất, sử dụng gạch đất
nung, khuyến khích sản xuất và sử dụng gạch không nug, gạch bê tông . Nhiều
nước, trong đó có Trung Quốc, Malaisya, các nước khối EU tỷ lệ gạch không nung
đã thay thế 50% gạch đất nung và tỷ lệ này ngày một cao (Công ty cổ phần Tân
Phú, 2011).
Nhệm vụ cụ thể trong quy trình giảm thiểu sản xuất gạch đất sét nung trong
thời gian tới là (UBND tỉnh An Giang, 2014):
- Rà soát và tổ chức lại các cơ sở sản xuất gạch bằng lò thủ công hiện nay
trong cụm tuyến quy hoạch thực hiệc việc cải tạo, cải tiến chuyển sang công nghệ
tiên tiến bảo đảm Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường;
- Thực hiện việc giải tỏa, xóa bỏ các lò thủ công gây ô nhiễm môi trường hiện
có nằm trong đô thị và ngoài cụm tuyến quy hoạch;
- Đầu tư cải tiến công nghệ sản xuất gạch đất sét nung ở tất cả các cơ sở sản
xuất hiện có, nhằm giảm tiêu hao nguyên liệu, nhiên liệu và bảo vệ môi trường;

lợi nhuận tăng cao với lò thủ công. Ngoài ra, do sử dụng ít nhiên liệu và sử dụng
hiệu quả cao nguồn nhiệt, do đốt liên tục và tuần hoàn, nên giảm lượng khí ô nhiễm
thải ra môi trường (giảm trên 70% so với lò thủ công). Đặc biệt, do sử dụng nhiệt
triệt để, khói thải tập trung tại một ống khói cao từ 11-15m, chủ động đẩy khói bằng
mô tơ quạt, nên dễ xử lý ô nhiễm môi trường.
Chi phí đầu tư: khoảng 1 tỉ đồng/lò công suất 1.000.000 viên/tháng (sản lượng
tương đương 10 lò thủ công).

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 9

Ưu điểm: dễ vận hành, sử dụng được nhiều loại nhiên liệu khác nhau như than
đá, củi, gas, dầu, phụ phẩm nông nghiệp. Gây ô nhiễm môi trường trung bình, dễ xử
lý môi trường. chất lượng gạch sau nung khá đồng đều, tỉ lệ gạch ống đạt mác 50
trên 85%.
Nhược điểm: cần diện tích mặt bằng lớn; chí phí đầu tư ban đầu lớn; tỉ lệ hao
hụt cao khi phải dựng lò không chủ động
1.2.2.Kiểu lò Tuynel (lò đường hầm)
Do người Đức phát minh năm 1877. Là kiểu lò nung theo công nghệ nung
liên tục với buồng đốt cố định. Lò này được du nhập vào miền Bắc Việt Nam
khoảng thập niên 70 của thế kỷ 20.
Đây là dạng lò nung dạng ống trụ hình chữ nhật đặt nằm. Đây là kiểu lò
nung liên tục với buồng đốt cố định, gạch mộc được chất trên các xe goòng và lần
lượt di chuyển qua một buồng đốt cố định. Kiểu lò này được sử dụng phổ biến
nhất ở các nước phát triển và hiện tại lò tuy Tuynel đã được tự động cao và được
đánh giá thích hợp cho điều kiện sản xuất công nghiệp và quy mô lớn.
Lượng than đá sử dụng dao động từ 70 – 75g/1kg gạch. Nhiên liệu sử dụng có
thể là than đá, khí gas, dầu các loại.
Chi phí đầu tư: khoảng 3,5 tỉ đồng/lò 1.250.000 viên/tháng (sản lượng tương
đương 12 lò thủ công)

sử dụng năng lượng rất hiệu quả. Kiểu lò này được xây dựng lần đầu tiên tại
Việt Nam (Hưng Yên) vào năm 2001. Hiện tại kiểu lò này đã được nhiều tổ
chức KHCN cải tiến nên tương đối hoàn thiện về mặt công nghệ và đạt hiệu
quả khá cao, tỉ lệ hao hụt giảm (dao động từ 7 – 5% so với 20 – 30% trong
những năm trước 2005); lượng than đá sử dụng với mức 45 - 50g than đá/1kg
gạch (giảm 20% so với bản đầu tiên).
Chi phí đầu tư: khoảng 300 triệu đồng/lò công suất 300.000 viên/tháng. (sản
lượng tương đương 3 lò thủ công).
Ưu điểm: Chi phí đầu tư ban đầu trung bình, không cần xử lý môi trường, chất
lượng gạch sau nung có độ đồng đều cao, lượng gạch ống đạt mác 50 > 80 %.
Nhược điểm: tỉ lệ gạch bể cao >7% và có thể tăng lên vài chục % nếu vận
hành không đảm bảo kỹ thuật; khó vận hành; sử dụng duy nhất một loại nhiên liệu
là than đá.
1.2.5. Lò nung gạch đốt trấu kiểu Thái Lan
Do các giáo sư người Thái nghiên cứu và hoàn thiện vào năm 2000.
Đây là kiểu lò nung theo công nghệ nung bán liên tục với buồng đốt di
động. Kiểu lò này được áp dụng lần tiện tại Việt Nam (An Giang) vào năm

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 11

2006 Lò được xây theo dạng hình vuông, có bốn buồng đốt, mỗi buồng đốt chứa từ
1800 - 2000 viên gạch ống, thời gian nung cho mỗi buồng từ 8 đến 12 giờ tùy theo
loại đất ở khu vực, Hiện lò này đã được cải tiến nâng công suất lên 2500 viên/buồng
đốt và lắp đạt thêm hê thông xử lý môi trường nên có thể triển khai áp dụng cho các
cơ sở sản xuất với quy mô hộ gia đình. Do đặt thù của lò là tận dụng nguồn nhiệt
đầu ra của buồng đốt để sấy gạch mộc ở các buồng kế cận và có thể lấy nhiệt ở
buồng làm nguội để sấy nóng không khí trước khi đi vào lò buồng nung. Do đó lò
đạt hiệu suất nhiệt khá cao về nhiệt và tiết kiệm nhiên liệu 250g trấu/1kg gạch (tiết
kiệm trên 35% lượng trấu so với lò thủ công)

mác 50
Giá
thành 1
kg gạch
Chi phí
nhiên liệu
nung (đồng)

Tác động
môi
trường
Khả năng
xử lý môi
trường
Thích nghi
điều kiện tỉnh
An Giang
Quy mô tối
thiểu có hiệu
quả kinh tế
(triệu
viên/năm)
Tỉ lệ bể
khi nung
(%)
Lò thủ công 100 < 60 % 350 140 ++++ Khó + 2 >2
Liên tục kiểu đứng 120 >80 390 110 + Không cần ++ 6 7
Lò nung gạch đốt
trấu kiểu Thải Lan
100 >80 360 120 ++ Dễ +++ 3 1

nhiệt lượng tỏa ra gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng và ảnh hưởng đến sức
khỏe cộng đồng, nhất là công nhân trực tiếp làm việc tại lò gạch và người dân sống
xung quanh khu vực lò.
Đa số các lò thủ công đều đốt bằng củi hoặc than. Để giảm giá thành sản
phẩm, nhiều chủ lò còn sử dụng thêm các loại nguyên liệu độc hại như: vỏ trấu, vỏ
hạt điều, vỏ xe, dầu cặn… để đốt, gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng (Sở Xây
Dựng TP Hồ Chí Minh, 2012).Tại các lò gạch thủ công dùng trấu, củi, than làm
nhiên liệu,do đặc tính công suất nhỏ, ở rải rác nên khí thải chứa tro bụi, CO
2
ảnh
hưởng tới các nhà dân lân cận. Khi tập trung thành các làng nghề thì vấn đề sẽ trở
nên bức xúc hơn (Viện Khoa học và Công nghệ Môi trường, 2006).
Với lò gạch thủ công sử dụng nguyên liệu như dầu các loại (do đốt dầu FO,
DO khi sấy, nung gạch) khí thải sinh ra với khói có chứa các chất ô nhiễm như oxit
lưu huỳnh, oxit nitơ, oxit cacbon, hydrocacbon, aldehyt và khí HF sinh ra do phân
huỷ đất sét (Tùng Nguyên, 2010). Các lò gạch thủ công chủ yếu ở quy mô vừa và
nhỏ, nằm phân tán ở các khu dân cư, công nghệ lạc hậu, chưa có thiết bị và hệ thống
xử lý bụi, khí. Hoạt động của các lò gạch thủ công đều phát sinh ra lượng lớn khí
thải gây ô nhiễm môi trường. Thành phần khí thải trong quá trình đốt than chủ yếu
là các loại khí: CO, CO
2
, NO
x
, SO
2
…đặc biệt nồng độ CO
2
và SO
2
rất cao, đem

An, Khánh Hội, Khánh Cư… (Yên Khánh – Ninh Bình) gây ô nhiễm môi trường
khá nghiêm trọng cho khu dân cư trên địa bàn. Tại các vị trí lấy mẫu theo chiều gió
khoảng cách từ 50m đến 500m, nồng độ khí đi-ô-xít lưu huỳnh (SO2) gấp 17 – 23
lần tiêu chuẩn cho phép, nồng độ bụi lơ lửng gấp 2 đến 5 lần tiêu chuẩn cho phép,
nồng độ khí Sun-fua-hy-đrô (H
2
S) gấp hơn 20 lần so với tiêu chuẩn được phép
(Thông tấn xã Việt Nam, 2008).

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 15

1.3.2. Phát thải khí nhà kính của các lò gạch nung
Thành phần khí thải trong quá trình đốt than chủ yếu là cá loại khí: : CO,
CO
2
, NO, NO
2
, SO
2
…với lượng phát thải lớn thì khí thải từ các lò nung gạch góp
phần không nhỏ tạo nên hiệu ứng nhà kính (Trần Ngọc Chấn, tập 1,1999).
Theo kỹ sư Phạm Văn Bắc, Phó Vụ trưởng Vụ Vật liệu xây dựng (Bộ Xây
dựng): Với vật liệu nung, để sản xuất 1 tỷ viên gạch đất sét nung có kích thước tiêu
chuẩn sẽ tiêu tốn khoảng 1.5 triệu m3 đất sét, tương đương 75 ha đất nông nghiệp
và 150,000 tấn than, đồng thời thải ra khoảng 0.57 triệu tấn khí CO2, gây hiệu ứng
nhà kính và các khí thải độc hại khác gây ô nhiễm môi trường
Sản xuất gạch đất sét nung tiêu tốn lượng than lớn. Theo tính toán để sản
xuất 400 tỷ viên gạch từ nay đến 2020 phải tiêu tốn 60 triệu tấn than, riêng năm
2020 phải sử dụng 6.3 triệu tấn. Như vậy, nguồn khoáng sản không tái tạo này gần

và hàng năm còn bổ sung vào số lượng nói trên một lượng khí CO
2
do đốt nhiên
liệu trên toàn thế giới thải ra là 8 x 10
^9
tấn. Quá trình quang hợp của thực vật hàng
năm tiêu thụ khoảng 54 x 10
^9
tấn CO
2
, nhưng quá trình hô hấp và phân hủy động
thực vật lại trả lại khí quyển cũng chừng ấy tấn CO
2
. Hiện tại nồng độ CO
2
trong
khí quyển khoảng 330 ppm và tốc độ tăng cao hàng năm khoảng 1ppm.
-

CO: chiếm chỗ của oxi trong máu (hồng cầu), tác hại hệ thống tuần hoàn, tim
mạch, gây độc toàn thân, có thể gây chết.

Trích đoạn Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp Tình hình dân số và lao động Cơ sở vật chất kỹ thuật của huyện Thực trạng sản xuất gạch trên địa bàn nghiên cứu Nhu cầu tiêu thụ nguyên liệu, nhiên liệu và sản phẩm
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status