đánh giá thực trạng phát triển chăn nuôi bò sữa ở huyện ba vì – hà nội - Pdf 30


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP &PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM


TRẦN THỊ TOÀN

ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN CHĂN NUÔI
BÒ SỮA Ở HUYỆN BA VÌ – HÀ NỘI
CHUYÊN NGÀNH : CHĂN NUÔI
MÃ SỐ : 60.62.01.05 NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. NGUYỄN BÁ MÙI

HÀ NỘI - 2014

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page ii

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài tốt nghiệp, ngoài sự nỗ
lực của bản thân, tôi còn nhận được rất nhiều sự giúp đỡ của các tập thể cá
nhân trong và ngoài trường.
Nhân dịp hoàn thành luận văn, Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối
với PGS. TS. Nguyễn Bá Mùi, Thầy giáo đã trực tiếp hướng dẫn và chỉ bảo
tôi hết sức tận tình trong quá trình thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn tốt
nghiệp này.
Tôi xin chân thành cảm ơn các Thầy, Cô giáo trong Bộ môn Sinh lý -
Tập tính động vật, Khoa Chăn nuôi & Nuôi trồng Thủy sản và Ban Sau đại
học, Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã góp ý, chỉ bảo để luận văn của tôi
được hoàn thành.
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới cán bộ và nhân dân huyện Ba Vì -
Hà Nội đã giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi thực hiện đề tài của mình.
Để hoàn thành luận văn này tôi còn nhận được sự động viên khích lệ
của người thân, bạn bè, đồng nghiệp. Tôi xin chân thành cảm ơn những tình
cảm cao quý đó.
Hà Nội, ngày tháng 12 năm 2014
Tác giả luận văn


1.3.1 Ý nghĩa khoa học 3

1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn 4

2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 5

2.1 Khái niệm, vai trò và đặc điểm của phát triển chăn nuôi bò
sữa theo vùng 5

2.1.1 Khái niệm 5

2.1.2 Vai trò của phát triển chăn nuôi bò sữa theo vùng 5

2.1.3 Đặc điểm của chăn nuôi bò sữa theo vùng 6

2.2 Ảnh hưởng của điều kiện nhiệt đới đối với bò sữa 6

2.2.1 Ảnh hưởng của nhiệt độ đối với bò sữa 6

2.2.2 Khả năng sinh sản của bò và các yếu tố ảnh hưởng 8

2.2.3 Sức sản xuất của bò và các yếu tố ảnh hưởng 10

2.2.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến sản lượng sữa 11

2.2.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng sữa 14

2.3 Tình hình chăn nuôi bò sữa trong và ngoài nước 15


3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN
CỨU 27

3.1 Đối tượng nghiên cứu 27

3.2 Địa điểm nghiên cứu 27

3.3 Thời gian nghiên cứu 28

3.4 Nội dung nghiên cứu 28

3.4.1 Điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội của huyện Ba Vì 28

3.4.2 Tình hình chăn nuôi bò sữa tại 3 xã nghiên cứu 28

3.4.3 Kết quả điều tra một số chỉ tiêu sinh sản 28

3.4.4 Khả năng sản xuất của bò sữa 29

3.4.5 Hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi bò sữa nông hộ 29

3.5 Phương pháp nghiên cứu 29

3.5.1 Điều tra đặc điểm tự nhiên, xã hội, dân số và lao động 29

3.5.2 Điều tra đánh giá sản xuất ngành nông nghiệp 29

3.5.3 Điều tra tình hình phát triển chăn nuôi bò sữa 29
4.2.1 Một số thông tin về các hộ chăn nuôi bò sữa 46

4.2.2 Tình hình chăn nuôi bò sữa tại 3 xã nghiên cứu giai đoạn
(2010 - 2014) 48

4.2.3 Chất lượng đàn bò sữa tại 3 xã nghiên cứu 52

4.2.4 Hiện trạng cơ cấu giống và cơ cấu đàn bò sữa tại các nông hộ. 54

4.2.5 Quy mô chăn nuôi bò sữa nông hộ giai đoạn (2010 - 2014) 55

4.2.6 Thức ăn và dinh dưỡng trong chăn nuôi bò sữa 57

4.2.7 Chuồng trại trong chăn nuôi bò sữa 59

4.2.8 Công tác thú y và tình hình dịch bệnh trong chăn nuôi bò sữa 61

4.3 Kết qủa điều tra một số chỉ tiêu về sinh sản 63

4.3.1 Tuổi phối giống lần đầu và tuổi đẻ lứa đầu 63

4.3.2 Khối lượng phối giống lần đầu và khối lượng đẻ lứa đầu 65

4.3.3 Hệ số phối giống và tỷ lệ thụ thai 66

4.3.4 Khoảng cách lứa đẻ 68

4.4 Khả năng sản xuất của bò sữa 69

2.1 Số lượng bò sữa ở một số nước 16

2.2 Phân bố đàn bò sữa theo vùng sinh thái 19

2.3 Sản lượng sữa tươi sản xuất hàng năm 2001 - 2014 20

2.4 Số lượng bò sữa và sản lượng sữa bò của Hà Nội từ 2001 - 2014 21

3.1 Số lượng các mẫu điều tra tại 3 xã nghiên cứu 30

4.1 Tình hình phân bổ và sử dụng đất đai của huyện Ba Vì
(2011-2013) 34

4.2 Tình hình dân số và lao động của huyện Ba Vì (2011-2013) 36

4.3 Tình hình sản xuất ngành trồng trọt của huyện Ba Vì
(2011-2013) 41

4.4 Tình hình phát triển chăn nuôi bò sữa ở huyện Ba Vì
(2010-2014) 42

4.5 Một số thông tin về hộ chăn nuôi bò sữa 46

4.6 Kết quả phát triển đàn bò sữa tại 3 xã nghiên cứu (2010-2014) 50

4.7 Kết quả đánh giá chất lượng đàn bò sữa của 3 xã nghiên cứu 53

4.8 Cơ cấu đàn bò sữa theo hiện trạng tại 3 xã nghiên cứu 55

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page ix

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

STT Tên biểu đồ Trang

4.1 Số lượng đàn bò sữa qua các năm của huyện Ba Vì 44

4.2 Phân bố đàn bò sữa của huyện Ba Vì 45

4.3 Số lượng đàn bò sữa qua các năm tại 3 xã nghiên cứu 51

4.4 Tăng trưởng sản lượng sữa qua các năm tại 3 xã nghiên cứu 51
4.5 Cơ cấu giống bò sữa tại 3 xã nghiên cứu 54

4.6 Quy mô chăn nuôi bò sữa tại các nông hộ 57

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 1

1. MỞ ĐẦU

1.1. Đặt vấn đề
Chăn nuôi bò sữa giữ một vai trò quan trọng đối với ngành nông nghiệp

mát mẻ và nhiều vùng nông thôn có điều kiện trồng các loại cây thức ăn phù
hợp cho bò sữa (các huyện thuộc tỉnh Hà Tây cũ). Đồng thời lại có nhiều các
Công ty, doanh nghiệp, Trung tâm nghiên cứu hoạt động trong lĩnh vực thu
gom, chế biến, tiêu thụ sữa và nghiên cứu về bò sữa như Công ty cổ phần sữa
Quốc tế (IDP), Công ty cổ phần sữa Ba Vì, Trung tâm nghiên cứu bò và đồng
cỏ Ba Vì, Trung tâm tinh đông lạnh Moncada Đây là điều kiện thuận lợi cho
nghề chăn nuôi bò sữa phát triển.
Nhằm khuyến khích nghề chăn nuôi bò sữa phát triển, tạo sản phẩm
hàng hoá chất lượng, an toàn vệ sinh thực phẩm. Tạo công ăn việc làm, thu
nhập ổn định cho người lao động nông thôn, góp phần giảm thiểu các tệ nạn
xã hội, đảm bảo trật tự an toàn xã hội khu vực nông thôn, giảm thiểu ô nhiễm
môi trường sinh thái, chăn nuôi an toàn vệ sinh thực phẩm và góp phần
chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới.
Để thực hiện tốt các chủ trương trên, năm 2011 UBND thành phố Hà
Nội đã có Quyết định số 2801/QĐ-UBND ngày 17/6/2011 của UBND thành
phố Hà Nội về phê duyệt chương trình phát triển chăn nuôi theo vùng, xã
trọng điểm và chăn nuôi quy mô lớn ngoài khu dân cư thành phố Hà Nội giai
đoạn 2011 – 2015. Tập chung chủ yếu tại các vùng có phong trào chăn nuôi
bò sữa phát triển như Ba Vì, Quốc Oai, Gia Lâm, Đan Phượng, Phúc Thọ,
Đông Anh.
Qua 3 năm triển khai thực hiện Chương trình đã đạt được những kết
quả bước đầu như đàn bò sữa của thành phố hiện đang tăng cả về số và chất
lượng, quy mô chăn nuôi nông hộ tăng, có nhiều hộ chăn nuôi quy mô lớn
ngoài khu dân cư và đặc biệt là tạo công ăn việc làm, thu nhập ổn định cho
người lao động ở nông thôn.
Tuy nhiên để tiếp tục phát triển chăn nuôi bò sữa hiệu quả, bền vững,
mang lại thu nhập cao cho người chăn nuôi, đòi hỏi phải đánh giá sát thực Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 4

- Đánh giá được giống bò sữa nào trong cơ cấu giống đã và đang nuôi ở
đây là phù hợp và phát triển được.
- Đưa ra những cơ sở khoa học, thực tiễn cho định hướng phát triển
chăn nuôi bò sữa bền vững của huyện Ba Vì và Thành phố Hà Nội trong
những năm tiếp theo.
1.3.2. Ý nghĩa thực tiễn
- Đề xuất những giải pháp về phát triển chăn nuôi bò sữa nhằm phát
huy tiềm năng sẵn có của 3 xã nghiên cứu và huyện Ba Vì.
- Các giải pháp đề tài đề xuất có vai trò, tác dụng quan trọng trong công
tác chỉ đạo phát triển chăn nuôi bò sữa trên địa bàn thành phố Hà Nội nói
chung và huyện Ba Vì cũng như 3 xã Tản Lĩnh, Vân Hòa, Yên Bài nói riêng,
tạo một nghề đem lại hiệu quả kinh tế cao cho người chăn nuôi.


được làm lạnh sâu xuống 5
0
C, sau 2 giờ đồng hồ. Do vậy ngay trong vùng chăn
nuôi phải có các trạm thu gom sữa, có đầy đủ các trang thiết bị để bảo quản,
làm lạnh sữa, bán kính tốt nhất từ hộ chăn nuôi đến trạm thu gom sữa tối đa Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 6

không quá 5 km. Việc xác định theo vùng, chăn nuôi theo vùng trọng điểm
giúp xác định đầu tư cơ sở hạ tầng, kinh tế kỹ thuật và việc hạch toán tổ chức
sản xuất theo vùng được thiết thực, hiệu quả.
- Vấn đề xử lý chất thải trong chăn nuôi cũng rất quan trọng. Ngoài
việc các hộ tự xử lý nguồn phân ngay tại chuồng, cũng cần phải có 1 hệ thống
xử lý chất thải đồng bộ như xây dựng hầm biogas, hố đựng phân để hạn chế
ô nhiễm môi trường trong chăn nuôi.
2.1.3. Đặc điểm của chăn nuôi bò sữa theo vùng
- Phát triển chăn nuôi bò sữa theo vùng phải là nơi có điều kiện tự
nhiên thuận lợi (vùng đồi gò, vùng bãi bồi ven sông), có diện tích đất bình
quân/hộ lớn để có khả năng mở rộng quy mô chăn nuôi.
- Vùng chăn nuôi bò sữa phải đảm bảo các điều kiện để phát triển sản
xuất, số lượng bò sữa lớn, tập trung và tạo thành nghề chính của người dân
trong vùng.
- Một vùng chăn nuôi bò sữa ít nhất phải có quy mô từ 1 xã trở lên,
chính quyền cơ sở cấp xã là lực lượng quan trọng, không thể tách rời trong
việc chỉ đạo sản xuất, phát triển chăn nuôi.
- Hạ tầng kinh tế kỹ thuật khép kín, đồng bộ đảm bảo đủ điều kiện để
phát triển chăn nuôi bò sữa.
2.2. Ảnh hưởng của điều kiện nhiệt đới đối với bò sữa

Mọi sự thay đổi về môi trường đều đe dọa và ảnh hưởng đến cân bằng
trao đổi chất ở bò sữa. Ở bò sữa khi năng suất tăng, thì nhiệt độ sinh ra cũng
tăng lên với quá trình tiêu hóa một lượng lớn thức ăn (Kadzere và Murphy,
2002). Do vậy, bò sữa năng suất cao, chịu ảnh hưởng của nhiệt độ và ẩm độ
môi trường lớn hơn ở bò sữa năng suất thấp và có mức độ trao đổi chất lớn
hơn, trao đổi chất và năng suất luôn đi song song với nhau (Brody, 1945).
Theo Coppock và cs (1982) bò sữa năng suất cao chịu ảnh hưởng stress nhiệt
cao hơn vì vùng trung hòa nhiệt của chúng giảm thấp. Khi năng suất sữa tăng,
lượng thu nhận thức ăn tăng dần, dẫn đến nhiệt sản xuất ra trong cơ thể tăng.
Theo Silarikove (1994) stress nhiệt làm tăng sự mất dịch từ cơ thể vì tăng hô
hấp và tiết mồ hôi, nếu quá trình này tiếp tục đến một lúc nào đó cơ thể mất
sự kiểm soát sẽ đe dọa đến khả năng điều khiển nhiệt và hệ tim mạch. Để
chống lại stress nhiệt gia súc thực hiện các đáp ứng về thần kinh và thể dịch
trong việc điều hòa thân nhiệt.
Theo Shearer and Beede (1990) khi chỉ số nhiệt ẩm ≤ 72 bò sữa ôn đới bắt
đầu có dấu hiệu stress; THI nằm trong khoảng 79-89 bò sẽ rơi vào tình trạng
stress nhiệt nặng. Trong khi đó ở giới hạn THI 79 – 89 thì ảnh hưởng của stress Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 8

nhiệt với bò sữa lai F
1
nuôi tại Ba Vì trong mùa hè không rõ.
Bò F
2
biểu hiện stress nhiệt nặng hơn bò F
1
(Vương Tuấn Thực, 2005).


(1999) tuổi đẻ lứa đầu của bò F
1
là 38,47 tháng, bò F
2
là 38,87 tháng.
c). Khoảng cách lứa đẻ
Như đã đề cập, thời gian mang thai của bò cơ bản ổn định, vì vậy
khoảng cách lứa đẻ phụ thuộc lớn vào thời gian có chửa trở lại sau đẻ. Về lý
thuyết khoảng cách lứa đẻ lý tưởng là 12 tháng, song trong thực tế do nhiều
nguyên nhân khách quan cũng như chủ quan như đặc điểm phẩm giống , chế
độ chăm sóc nuôi dưỡng, kỹ thuật cạn sữa, kỹ thuật phối giống làm cho
khoảng cách lứa đẻ thường kéo dài 390 – 420 ngày hoặc hơn (Nguyễn Xuân
Trạch và Mai Thị Thơm, 2004). Để nâng cao sản lượng sữa và số bê sinh ra
trong một đời gia súc đòi hỏi chúng ta phải thực hiện tốt và đồng bộ các yếu
tố từ chăm sóc nuôi dưỡng, đến kỹ thuật vắt sữa, cạn sữa và thụ tinh nhân tạo
để rút ngắn khoảng cách lứa đẻ.
d). Hệ số phối giống
Hệ số phối giống là số lần phối đến khi thụ thai. Đây là chỉ tiêu kinh tế
kỹ thuật khá quan trọng trong chăn nuôi bò sữa. Chỉ tiêu này phụ thuộc vào
chất lượng phẩm giống, điều kiện khí hậu, kỹ thuật chăm sóc nuôi dưỡng, kỹ
thuật thụ tinh nhân tạo và chất lượng tinh dịch. Hệ số phối giống trên đàn bò
lai hướng sữa của Vĩnh Thịnh F
1
là 2,13 và F
2
là 2,37 (Mai Thị Thơm, 2004).
2.2.2.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh sản
Khả năng sinh sản của bò sữa liên quan chặt chẽ và phụ thuộc vào hai
yếu tố di truyền và ngoại cảnh, các giống khác nhau khả năng sinh sản khác

2
và F
3
nuôi ở Phù Đổng, Ba Vì, Lâm Đồng,
Thành phố Hồ Chí Minh và các vùng lân cận cho biết tuổi đẻ lứa đầu của toàn
đàn trong vùng là 26,65 và 27,71 tháng.
b). Yếu tố ngoại cảnh
Yếu tố ngoại cảnh bao gồm điều kiện khí hậu, thức ăn dinh dưỡng,
chuồng trại, vệ sinh thú y ảnh hưởng lớn đến sức sinh sản của bò sữa. Điều
kiện dinh dưỡng thấp sẽ kìm hãm sinh trưởng của bò cái tơ làm chậm thời
gian đưa vào sử dụng. Đối với bò trưởng thành khi kéo dài thời gian phục hồi
sau đẻ, giảm khả năng sinh sản. Ngược lại nếu dinh dưỡng quá nhiều, nhất là
gluxit sẽ làm cho bò quá béo, buồng trứng bị tích lũy mỡ nên giảm hoạt động
chức năng sinh sản (Nguyễn Xuân Trạch và CS, 2006).
2.2.3. Sức sản xuất của bò và các yếu tố ảnh hưởng
Trong chăn nuôi bò sữa sản phẩm chính thu được là sữa và bê, trong đó
sữa là sản phẩm quan trọng tạo ra lợi nhuận tức thì, chiếm phần lớn tổng thu bán
sản phẩm. Khả năng sản xuất sữa của bò được đánh giá thông qua các chỉ tiêu.
a). Thời gian cho sữa
Thời gian cho sữa thực tế và lượng sữa sản xuất ra trên một ngày quyết
định sản lượng sữa. Thông thường thời gian cho sữa lý tưởng của bò là 300 -
305 ngày. Tuy nhiên vì chỉ tiêu này phụ thuộc vào nhiều yếu tố như giống, điều
kiện môi trường, thức ăn nên thường biến động trong khoảng lớn. Theo kết
quả nghiên cứu đàn bò lai hướng sữa HF của Nguyễn Quốc Đạt và CS (1980)
cho thấy thời gian cho sữa dài nhất ở bò F
2
là 307,54 ngày, sau đó là bò F
1

306,02 ngày và ngắn nhất ở bò F

3
nuôi tại Lâm Đồng
cho kết quả tỷ lệ protein sữa lần lượt là 3,09 ± 0,13; 3,02 ± 0,15 và 2,82 ± 0,01.
Tỷ lệ mỡ sữa là chỉ tiêu cơ bản để đánh giá chất lượng và giá trị kinh tế
của sữa. Bò HF nuôi ở Mộc Châu có tỷ lệ mỡ sữa là 3,4 - 3,8%, bò sữa ở Phù
Đổng có tỷ lệ mỡ sữa là 4,89%, bò lai có tỷ lệ mỡ sữa là 3,4 - 383% (Nguyễn
Xuân Trạch, Mai Thị Thơm, 2004).
2.2.4. Các yếu tố ảnh hưởng đến sản lượng sữa
a). Giống
Các giống khác nhau cho sản lượng sữa khác nhau. Giống bò sữa HF Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 12

đạt năng suất 5.000 – 8.000 kg/chu kỳ với tỷ lệ mỡ sữa từ 3,2 - 3,8%, giống
bò Jersey đạt năng suất trung bình 2.800 - 3.500 kg/chu kỳ; tỷ lệ mỡ sữa 5,8 -
6,0%; Bò lai Hà Ấn F
1
cho sản lượng sữa 2.800 – 2.900 kg/chu kỳ với tỷ lệ
mỡ sữa 3,24%; Bò laisind bình quân đạt 700 – 1.200 kg/ chu kỳ với tỷ lệ mỡ
sữa 5 - 6%. Các giống chuyên sản xuất thịt như các giống bò Charolais,
Hereford lượng sữa chỉ đủ nuôi con.
b). Tuổi có thai lần đầu
Thông thường bê thành thục về tính sớm hơn thành thục về thể vóc, vì
vậy cần chọn thời điểm phối giống lần đầu thích hợp để tránh ảnh hưởng đến
sự sinh trưởng phát triển của cơ thể. Đối với các giống bò sữa nên tiến hành
phối lần đầu vào khoảng 16 -18 tháng tuổi, khi khối lượng đạt từ 65 – 70%
thể trọng bò cái trưởng thành (Nguyễn Xuân Trạch và CS, 2006).
c). Tuổi và lứa đẻ

0
C - 21
0
C sản lượng sữa của bò không bị ảnh
hưởng. Khi nhiệt độ thấp hơn 5
0
C và từ 22
0
C lên 27
0
C sản lượng sữa giảm
dần. Các giống bò sữa khác nhau, nhiệt độ thích hợp tối đa, tối thiểu cho sức
sản xuất sữa cũng khác nhau. Sức sản xuất sữa giảm nhanh chóng ở nhiệt độ
môi trường cao hơn 21
0
C với bò Hostein Frisian, còn đối với bò Brahman lai
là 32
0
C. Sự giảm thấp sản lượng sữa trong điều kiện mùa hè không hoàn toàn
do sữa giảm thấp về lượng thức ăn thu nhận hay phẩm chất cỏ mà còn chịu
ảnh hưởng của nhiệt độ đến cơ chế sinh học liên quan đến tiết sữa (Vương
Tuấn Thực, 2005).
f). Thời gian từ khi đẻ đến khi phối lại
Thông thường lượng sữa ở bò có chửa giảm từ 15 - 20% so với không
có thai và lượng sữa giảm nhiều khi bò có thai từ tháng thứ 5 trở đi. Song
không có nghĩa là để đạt được năng suất cao là phải kéo dài thời gian không
mang thai. Nghiên cứu cho thấy trong điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng đảm
bảo đúng yêu cầu, nếu lấy khối lượng sữa trung bình trong một chu kỳ là 300
ngày là 100%, khi kéo dài chu kỳ sữa lên 450 ngày, năng suất bình quân/ngày
chỉ đạt 85%. Như thế việc kéo dài thời gian của chu kỳ không bù đắp được

1
ttương ứng là 3,43%, 3,4%,
3,97% và 4,27%, tỷ lệ mỡ và protein trong sữa có giảm đi theo tuổi bò (Trần
Trọng Thêm, 1986).
b). Thức ăn
Thành phần của khẩu phần thức ăn, chất lượng thức ăn ảnh hưởng
nhiều đến chất lượng sữa. Nếu bò sữa được cung cấp khẩu phần thức ăn
không cân đối, khi thiếu protein thường dẫn tới sự giảm hàm lượng chất khô,
mỡ, protein trong sữa. Theo (Nguyễn Xuân Trạch và CS, 2006) khẩu phần
cân bằng dinh dưỡng trong giai đoạn cạn sữa sẽ kích thích nâng cao tỷ lệ mỡ
sữa ở thời kỳ tiết sữa sau. Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 15

c). Nhiệt độ và ẩm độ môi trường
Nhiệt độ và ẩm độ môi trường không chỉ ảnh hưởng đến sản lượng sữa
mà còn ảnh hưởng đến chất lượng sữa, khi các yếu tố này tăng thì hàm lượng
mỡ sữa, chất khô đã tách bơ có xu hướng giảm, trong khi đó một vài thành
phần như nitơ fiprotein có xu hướng tăng. Tỷ lệ mỡ sữa giảm khi nhiệt độ
môi trường từ 21 - 27
0
C khi nhiệt độ tăng hơn 27
0
C thì tỷ lệ mỡ sữa có xu
hướng tăng (Vương Tuấn Thực, 2005).
d). Giai đoạn của chu kỳ sữa
Hàm lượng mỡ sữa thường thay đổi trong một kỳ vắt sữa, nó thường
cao ở đầu kỳ, sau đó giảm đi theo lượng sữa tăng lên, về cuối kỳ hàm lượng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status