Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page i
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
VŨ VĂN PHƯƠNG
ĐÁNH GIÁ DIỄN BIẾN CHẤT LƯỢNG MÔI TRƯỜNG
NƯỚC SÔNG ĐÁY ĐOẠN CHẢY QUA ĐỊA PHẬN
TỈNH HÀ NAM GIAI ĐOẠN 2009 - 2013 BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
VŨ VĂN PHƯƠNG
Tôi xin cam đoan đây là kết quả nghiên cứu của tôi. Các số liệu, kết quả
nêu trong luận văn này là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ
công trình nào.
Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ trong quá trình thực hiện luận văn
đã được cảm ơn, các thông tin trích dẫn đã chỉ rõ nguồn gốc.
Hà Nội, ngày tháng năm 2014
Tác giả luận văn
Vũ Văn Phương
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page ii
LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên, tôi xin chân thành cảm ơn TS. TRỊNH QUANG HUY, người
đã trực tiếp hướng dẫn tôi hoàn thành luận văn. Với những lời chỉ dẫn, những tài
liệu, sự tận tình hướng dẫn và những lời động viên của Thầy đã giúp tôi vượt qua
nhiều khó khăn trong quá trình thực hiện luận văn này.
Tôi cũng xin cảm ơn quý thầy cô giảng dạy chương trình cao học “Khoa
học Môi trường” đã truyền dạy những kiến thức quý báu, những kiến thức này rất
hữu ích và giúp tôi nhiều khi thực hiện nghiên cứu. Đặc biệt, tôi xin cám ơn về
những góp ý có ý nghĩa rất lớn khi tôi thực hiện đề cương nghiên cứu.
Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất tới gia đình, bạn bè đã luôn
bên cạnh quan tâm, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập cũng như cuộc sống.
Tôi xin chân thành cảm ơn !
1.1.1. Khái quát chung về lưu vực sông 3
1.1.2. Vai trò của lưu vực sông 4
1.2. Ô nhiễm nước lưu vực sông ở Việt Nam 5
1.2.1. Các nguồn gây ô nhiễm lưu vực sông 5
1.2.2. Tình hình ô nhiễm lưu vực sông 6
1.3.Tình hình quản lý môi trường nước lưu vực sông 12
1.3.1. Quy định pháp luật liên quan đến quản lý chất lượng nước lưu vực sông . 12
1.3.2. Tổ chức quản lý môi trường lưu vực sông 13
1.3.3. Thực hiện quy hoạch lưu vực sông 14
1.3.4. Xây dựng nguồn lực 14
1.3.5. Sự tham gia của cộng đồng 17
1.4. Tổng quan về lưu vực sông Nhuệ - Đáy 17
1.4.1. Đặc điểm tự nhiên lưu vực sông Nhuệ - Đáy 17
1.4.2 Điều kiện kinh tế xã hội LVS Nhuệ - Đáy 22
Chương 2. ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU 24
2.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 24
2.1.1. Đối tượng nghiên cứu 24
2.1.2. Phạm vi nghiên cứu 24
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page iv
2.2. Nội dung nghiên cứu 24
2.3. Phương pháp nghiên cứu 24
2.3.1. Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp 24
2.3.2. Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp 24
2.3.3. Phương pháp so sánh 27
2.3.4. Phương pháp xử lý số liệu 28
Chương 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 29
3.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội tỉnh Hà Nam 29
Bảng 3.3: Biến động dân số đô thị ở các huyện, thành phố 36
Bảng 3.4: Tải lượng chất thải trong chăn nuôi những năm gần đây 38
Bảng 3.5: Tải lượng nồng độ chất ô nhiễm trong chăn nuôi 39
Bảng 3.6: Hiện trạng xả thải của các cơ sở sản xuất tại TP Phủ Lý, huyện
Thanh Liêm và Kim Bảng. 42
Bảng 3.7: Hiện trạng xả thải một số làng nghề tại Hà Nam 44
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page vi
DANH MỤC HÌNH, ĐỒ THỊ
Hình 1.1. Diễn biến hàm lượng BOD
5
trên sông Nhuệ năm 2007-2011 10
52
Hình 3.13. Diễn biến Coliform trên sông Đáy giai đoạn 2009 - 2013 53Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page vii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
BVMT Bảo vệ môi trường
BVTV Bảo vệ thực vật
CP Chính phủ
KT-XH Kinh tế xã hội
KCN Khu công nghiệp
LVS Lưu vực sông
NĐ Nghị định
NN&PTNT Nông nghiệp và phát triển nông thôn
QCVN Quy chuẩn Việt Nam
TNN Tài nguyên nước
TNMT Tài nguyên môi trường
TP Thành phố
TCVN Tiêu chuẩn Việt Nam
WHO Tổ chức y tế thế giới
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 1
chất lượng lưu vực hiệu quả trong tương lai.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 2
Mục đích nghiên cứu
Xác định các yếu tố ảnh hưởng tới chất lượng nước sông Đáy đoạn chảy
qua địa phận tỉnh Hà Nam.
Đánh giá diễn biến chất lượng môi trường nước sông Đáy đoạn chảy qua
địa phận tỉnh Hà Nam giai đoạn 2009 - 2013.
Đề xuất giải pháp bảo vệ chất lượng nước sông.
Yêu cầu của đề tài
Thông tin, dữ liệu thu thập phải phản ánh được những thay đổi và diễn
biến chất lượng nước sông Đáy.
Các giải pháp đề xuất phải đảm báo tính thực tiễn.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 3
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Lưu vực sông
1.1.1. Khái quát chung về lưu vực sông
Lưu vực sông (LVS): là phần diện tích bề mặt đất trong tự nhiên mà mọi
lượng nước mưa khi rơi xuống sẽ tập trung lại thành những dòng chảy và thoát ra
bằng một con sông. (Th.S Đỗ Đức Dũng, 2009)
Về mặt hình thái, một lưu vực sông có thể chia thành các vùng thượng
lưu, trung lưu và hạ lưu.
Vùng thượng lưu: thường là các vùng núi cao với địa hình dốc, chia cắt
phức tạp. Đây là nơi khởi nguồn của dòng sông và bề mặt thường bao phủ bằng
những cánh rừng thượng nguồn như những kho nước xanh có vai trò điều hòa
dòng chảy, làm giảm dòng chảy đỉnh lũ và tăng lượng dòng chảy mùa cạn cho
khu vực hạ lưu.
dụng đất và ảnh hưởng đến hệ sinh thái lưu vực. Sự phát triển KT –XH và cuộc
sống của muôn loài trên LVS không thể bền vững nếu không cung cấp đúng và
đủ nước theo thời gian và không gian, đảm bảo cả số lượng và chất lượng. Đối
với một quốc gia nước cũng tương tự như đất đai, hầm mỏ, rừng , biển … đều là
tài nguyên vô cùng quý báu. Không phải ngẫu nhiên mà các khu dân cư trù phú,
các thủ đô, thành phố lớn đều nằm trên các triền sông: Hà Nội bên bờ sông Hồng,
Huế - sông Hương, Pari - sông Xen, London – sông Themizơ.
Trước kia, khi công nghiệp chưa phát triển, con người sống bằng trồng
trọt và chăn nuôi nhờ những đồng bằng phì nhiêu ven sông nhiều nước. Khi chưa
có phương tiện giao thông hiện đại thì nguồn nước sông ngòi là những luồng vận
chuyển chủ yếu. Các nhà khoa học trên thế giới đều cho rằng nền văn minh của
một đất nước là “ đất màu mỡ, đất có đủ nước và đất không bị rửa trôi xói mòn đi
đến nghèo kiệt”.
Ngày nay trong điều kiện phát triển mới của nền kinh tế quốc dân, không
một hoạt động nào của con người mà không liên quan tới khai thác sông ngòi,
nguồn nước. Nước sông chảy qua các công trình đầu mối như cống lấy nước,
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 5
trạm bơm đi vào các ống dẫn nước, kênh mương để phục vụ cho sinh hoạt , tưới
ruộng, chăn nuôi, nước dùng cho luyện kim, nước quay các tuốc bin phát điện,
phục vụ cho giao thông vận tải….(PGS.TS.Phạm Ngọc Dũng và cs, 2005).
1.2. Ô nhiễm nước lưu vực sông ở Việt Nam
1.2.1. Các nguồn gây ô nhiễm lưu vực sông
Tại mỗi lưu vực sông, theo tình hình phát triển kinh tế xã hội trong khu
vực, tỷ lệ đóng góp lượng thải ô nhiễm của các ngành có khác nhau.
1.2.1.1. Nước thải nông nghiệp
Nông nghiệp là ngành sử dụng nhiều nước nhất, chủ yếu để phục vụ tưới
nước và hoa màu. Vì vậy tính trong tổng lượng nước thải chảy ra nguồn nước
mặt thì lưu lượng nước thải từ hoạt động sản xuất nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn
Do thành phần nước thải y tế chứa nhiều hóa chất độc hại với nồng độ
cao và chứa nhiều vi trùng, vi khuẩn lây lan bệnh truyền nhiễm. Mức độ gia
tăng lượng nước thải y tế năm 2011 so với năm 2000 là hơn 20%. Hầu hết các
bệnh viện do Bộ Y tế quản lý đã được đầu tư hệ thống xử lý nước thải tập
trung. Tuy nhiên, tại các bệnh viện thuộc Sở y tế địa phương quản lý hay các
bệnh viện thuộc ngành khác quản lý, cũng như các cơ sở khám chữa bệnh tư
nhân nằm rải rác, phần lớn chưa có hệ thống xử lý nước thải. Theo Cục Quản lý
môi trường y tế thuộc Bộ Y tế, năm 2011, nước ta có hơn 13.640 cơ sở y tế,
khám chữa bệnh. Mỗi ngày, các đơn vị này thải ra khoảng 120.000 m3nước thải
Ytế, trong khi đó, chỉ có 53,4% trong tổng số bệnh viện có hệ thống xử lý nước
thải y tế. Trong đó, một số lượng lớn các chất độc hại trong nước thải y tế
không thể xử lý được bằng phương pháp xử lý nước thải thông thường. ( Báo
cáo môi trường quốc gia năm 2012).
1.2.2. Tình hình ô nhiễm lưu vực sông
Nước ta có mạng lưới sông ngòi khá dày đặc, nếu chỉ tính các con sông có
chiều dài 10 km trở lên và có dòng chảy thường xuyên thì có tới 2.372 con sông,
trong đó, 13 hệ thống sông lớn có diện tích lưu vực trên 10.000 km
2
. Lưu vực của
13 hệ thống sông lớn chiếm hơn 80% diện tích lãnh thổ,10 trong số 13 sông trên
là sông liên quốc gia. Lưu vực của 9 hệ thống sông chính: S. Hồng, S.Thái Bình,
S. Bằng Giang – Kỳ Cùng, S.Mã, S. Cả - La, S.Thu Bồn, S. Ba, S.Đồng Nai, S.
Cửu Long chiếm tới gần 93% tổng diện tích lưu vực sông toàn quốc và gần xấp
xỉ 80% diện tích quốc gia (Báo cáo môi trường quốc gia năm 2006).
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 7
Sau gần 20 năm mở cửa và đẩy mạnh kinh tế với hơn 64 khu chế xuất và
khu công nghiệp, cộng thêm hàng trăm ngàn cơ sở hóa chất và chế biến trên toàn
quốc. Vấn đề chất thải là một vần đề của phát triển đối với những quốc gia còn
nghiệp, phát triển thủy điện, nuôi trồng thủy sản, giao thông vận tải, du
lịch…Nhưng hiện nay, nguồn nước sông đã bị ô nhiễm ở mức báo động. Trong
đó ô nhiễm hữu cơ, vi sinh, kim loại nặng, dầu mỡ, cộng với nạn khai thác nguồn
nước không kiểm soát được đã gây nhiều tác hại môi trường rất lớn.
Theo tin từ Tổng Cục Môi trường (Bộ Tài nguyên và Môi trường), hiện
nay môi trường lưu vực sông Đồng Nai (bao gồm các sông chính là Đồng Nai,
Sông Bé, Sài Gòn, Vàm Cỏ và Thị Vải) đang ở mức báo động. Vấn đề ô nhiễm
sông Đồng Nai mang tính liên vùng, không thể giải quyết trong phạm vi một địa
phương. Cũng theo Cục Bảo vệ môi trường, vùng hạ lưu sông Đồng Nai đã bị
nhiễm mặn nghiêm trọng và không thể sử dụng cho mục đích cấp nước sinh hoạt
và tưới tiêu. Sông Sài Gòn bị ô nhiễm còn trầm trọng hơn, chủ yếu là ô nhiễm
chất hữu cơ, vi sinh. (Nguyễn Khoa, 2011)
Tại Hội nghị triển khai Đề án bảo vệ môi trường lưu vực hệ thống sông
Đồng Nai ngày 26/2/2008, các cơ quan chuyên môn đều có chung đánh giá:
nguồn nước thuộc lưu vực sông Sài Gòn - Đồng Nai hiện đang bị ô nhiễm nặng,
không đạt chất lượng mặt nước dùng làm nguồn cấp nước sinh hoạt. Theo số liệu
khảo sát do Chi cục Bảo vệ môi trường phối hợp với Công ty Cấp nước Sài Gòn
thực hiện năm 2008 cho thấy, lượng NH
3
(amoniac), chất rắn lơ lửng, ô nhiễm
hữu cơ (đặc biệt là ô nhiễm dầu và vi sinh) tăng cao tại hầu hết các rạch, cống và
các điểm xả. Có khu vực, hàm lượng nồng độ NH
3
trong nước vượt gấp 30 lần
tiêu chuẩn cho phép (như cửa sông Thị Tính); hàm lượng chì trong nước vượt
tiêu chuẩn quy định nhiều lần; chất rắn lơ lửng vượt tiêu chuẩn từ 3 - 9 lần Tác
nhân chủ yếu của tình trạng ô nhiễm này chính là trên 9.000 cơ sở sản xuất công
nghiệp nằm phân tán, nằm xen kẽ trong khu dân cư trên lưu vực sông Đồng Nai.
Bình quân mỗi ngày, lưu vực sông phải tiếp nhận khoảng 48.000m3 nước thải từ
các cơ sở sản xuất này. Dọc lưu vực sông Đồng Nai, có 56 khu công nghiệp, khu
các thông số BOD
5
, COD, Coliform tại các điểm đo đều vượt QCVN 08:2008/
BTNMT nhiêu lần. (Báo cáo môi trường quốc gia năm 2012.). Trong báo cáo
nghiên cứu của Nguyễn Thanh Sơn và cs (2001) đăng trên tạp chí Đại học quốc
gia Hà Nội: Hàm lượng chất hữu cơ trong nước LVS Nhuệ - Đáy có giá trị cao,
nồng độ COD vượt quá giới hạn cho phép chất lượng nước mặt loại A từ 2-3 lần
trong khi nồng độ BOD
5
vượt quá giới hạn này từ 4-6 lần, hàm lượng DO rất
thấp, chỉ đạt 2.89 mg/l.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 10
Đầu nguồn dòng sông Nhuệ (sau
khi nhận nước sông Hồng), nước sông
hầu như chưa bị ô nhiễm. Sông Nhuệ
từ khu vực Cổ Nhuế, nước bắt đầu bị ô
nhiễm. Đặc biệt, ô nhiễm nước tăng
cao từ khu vực tiếp nhận nước sông Tô
Lịch, giá trị tại các điểm đo đều vượt
QCVN loại A1 nhiều lần. Nước thải
sông Tô Lịch (nguồn tiếp nhận nước
thải chính của toàn bộ các quận nội
thành Hà Nội) là nguyên nhân chính
gây ô nhiễm cho sông.
Hình 1.1. Diễn biến hàm lượng BOD
5
Kết quả phân tích nước sông Cầu lấy mẫu nước mặt và nước ngầm của
các thôn thuộc phạm vi bốn xã Ðồng Phúc, Tư Mại, Thắng Lợi Thượng và Yên
Lư thuộc huyện Yên Dũng (Bắc Giang) cho thấy, vào mùa mưa, nước sông Cầu
có chỉ số pH dao động từ 7,03 - 8,09, trung bình giá trị pH kiểm tra các mẫu
nước trong mùa mưa là 7,41. Trong mùa khô pH đạt giá trị trung bình 7,71, trong
đó giá trị pH của nước sông dao động từ 7,5-8,2. Theo đó, giá trị pH ở mùa khô
đều cao hơn mùa mưa, điều này cho thấy nước sông Cầu có xu thế kiềm hóa về
mùa khô. Cùng đó, cảnh quan sinh thái, thiên nhiên bị biến đổi, các nguồn lợi thủy
sản có nguy cơ bị cạn kiệt, nguồn nước sông Cầu đang bị ô nhiễm, nhất là khu vực
hạ lưu. Các chỉ số về hữu cơ, chỉ tiêu vi sinh vật đều vượt tiêu chuẩn cho phép
nhiều lần, nhất là đoạn lưu vực của các tỉnh Bắc Giang, tỉnh Bắc Ninh. Hàm lượng
chất rắn lơ lửng (SS) về mùa mưa của mực nước sông dao động từ 18-70 mg/l,
trung bình là 55,7 mg/l. Trong mùa khô, tổng chất rắn lơ lửng của nước sông có xu
thế tăng lên khá rõ rệt, dao động từ 5,3-276,0 mg/l. Theo đó, về giá trị SS trong
nước sông Cầu kể cả mùa mưa và mùa khô hầu hết số mẫu nghiên cứu đều không
đủ điều kiện làm nguồn nước phục vụ cho sinh hoạt. (Xuân Hợp, 2010).
Đoạn thượng nguồn lưu vực sông Cầu, nước sông còn giữ được tính tự
nhiên vốn có do chảy qua vùng dân cư thưa thớt và các hoạt động công nghiệp
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 12
chưa phát triển mạnh. Nhìn chung, chất lượng nước của đoạn sông này còn tương
đối tốt, các chỉ tiêu chất lượng nước cho đến nay vẫn đảm bảo giới hạn cho phép
đối với nguồn nước mặt loại A1 và A2 (QCVN 08:2008/BTNMT). Đoạn trung
lưu là khu vực đã có mức độ phát triển cao với đa dạng các hoạt động kinh tế
thuộc nhiều loại hình và ngành nghề. Tại nhiều nơi, vào những tháng mùa kiệt,
khi nước ở thượng nguồn ít, có nhiều chỉ tiêu không đạt nguồn loại B, các loài
thủy sinh gần như không sinh sống được. Nhìn chung, hầu hết các thông số quan
trắc của đoạn sông này đều không đạt QCVN A1, một số điểm như Cầu Trà
Vườn, giá trị thông số NH
khắc phục hậu quả tác hại do nước gây ra tốt hơn; tăng cường hiệu lực quản lý
Nhà nước về TNN trong tình hình mới.
Quản lý LVS không chỉ quản lý về mặt số lượng mà còn quản lý về mặt
chất lượng nước. Tình trạng ô nhiễm nguồn nước đang gia tăng ở nước ta đòi hỏi
phải có sự phối hợp giữa các địa phương vùng thượng lưu với các địa phương
vùng hạ lưu. Thực tế, việc xây dựng các đề án quản lý môi trường LVS Cầu,
sông Nhuệ - Đáy và sông Đồng Nai cho thấy, không thể tách rời quản lý TNN
với bảo vệ môi trường có liên quan đến TNN. Để khắc phục những nhược điểm
về thể chế trong việc quản lý LVS, ngày 01/12/2008 Chính phủ đã ban hành
Nghị định số 120/2008/NĐ-CP về Quản lý lưu vực sông.
Tuy đã có hàng loạt các văn bản pháp luật đã được ban hành, song hiệu
quả quản lý tại các LVS chưa cao do hệ thống chính sách, văn bản pháp quy liên
quan đến bảo vệ chất lượng nước ở lưu vực sông còn thiếu và chưa đồng bộ.
1.3.2. Tổ chức quản lý môi trường lưu vực sông
1.3.2.1. Cấp quốc gia
Tháng 8/2002, Quốc hội đã quyết định thành lập Bộ Tài nguyên và Môi
trường (TN&MT). Việc giao chức năng quản lý TNN từ Bộ Nông nghiệp và Phát
triển Nông thôn sang Bộ TN&MT đã tách quản lý Nhà nước về TNN ra khỏi
quản lý theo mục đích sử dụng. Như vậy, Bộ TN&MT là cơ quan Chính phủ thực
hiện chức năng quản lý nhà nước trên các LVS trong phạm vi cả nước.
Các Bộ liên quan có trách nhiệm trong quản lý chất lượng nước trong các
LVS gồm Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Bộ Xây dựng, Bộ Công
thương, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Thương mại, Bộ Tài chính…
Thành lập ba Ủy ban Bảo vệ môi trường của ba LVS: Cầu, Nhuệ - Đáy và
Đồng Nai. Đây là những tổ chức chỉ đạo và phối hợp liên ngành, liên tỉnh thực
hiện ba phê chuẩn các dự án về bảo vệ môi trường LVS.
1.3.2.2. Cấp liên vùng và địa phương
Ở các địa phương, từ năm 2003 (sau khi thành lập Bộ TN&MT), các cơ
quan TN&MT đã được thành lập. Các Sở TN&MT đều có Phòng quản lý môi
1.3.4.1. Đội ngũ cán bộ
Đội ngũ cán bộ làm công tác quản lý môi trường nói chung và quản lý môi
trường LVS nói riêng giữa các tỉnh cũng không đồng đều. Lực lượng cán bộ
đang rất thiếu hụt về số lượng và còn nhiều hạn chế về năng lực.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 15
Theo tính toán sơ bộ, trong tổng số khoảng 1.200 cán bộ quản lý môi
trường ở Việt Nam thì chỉ có gần 150 cán bộ quản lý môi trường LVS. Chỉ số
năng lực ước tính theo số lượng nhân sự cho thấy các chỉ số năng lực về bảo vệ
môi trường LVS của Việt Nam rất thấp, chỉ đạt khoảng 1,8 cán bộ/ 1 triệu dân.
Các cán bộ hiện tại đang làm việc trong lĩnh vực bảo vệ môi trường (BVMT)
sông phần lớn đều không được đào tạo chuyên ngành về môi trường và TNN, lại
phải kiêm nhiệm nhiều lĩnh vực nên kiến thức về BVMT LVS thường không sâu.
1.3.4.2. Đầu tư tài chính
Nguồn chi cho quản lý và BVMT LVS từ ngân sách nhà nước không được
phân bổ thành mục chi riêng. Tổng kinh phí đầu tư cho BVMT nói chung không
ngừng tăng. Tuy nhiên, đầu tư cho hoạt động bảo vệ môi trường LVS còn ít,
chưa đáp ứng yêu cầu.
Nhằm nâng cao hoạt động BVMT LVS trong giai đoạn hiện nay, năm
2011, chương trình mục tiêu quốc gia về khắc phục ô nhiễm và cải thiện môi
trường vừa được Quốc hội thông qua xác định kinh phí 10.100 tỷ đồng dành cho
3 LVS đến năm 2015 là nội dung đặc biệt có ý nghĩa đối với các địa phương trên
lưu vực. Trong đó ngân sách Trung ương là 2.500 tỷ, ngân sách địa phương và
vốn ODA (viết tắt của cụm từ Official Development Assistance - Hỗ trợ phát
triển chính thức) là 7.600 tỷ. Khoản tiền này chưa phải là đủ, nhưng rất quan
trọng đối với công tác ngăn ngừa ô nhiễm, cải thiện cho cả 3 LVS.
1.3.4.3. Quan trắc và thông tin môi trường
Từ năm 2005, Chương trình quan trắc tổng thể 3 LVS: Cầu, Nhuệ - Đáy,
Đồng Nai đã được Tổng cục Môi trường phê duyệt và hoạt động quan trắc trong
như bản đồ số, cơ sở dữ liệu, hệ thống thông tin địa lý (GIS), mô hình hóa trong
công tác quản lý các LVS. Là nguồn cung cấp nước chính, đồng thời lại là nơi
tiếp nhận hầu hết các nguồn thải từ các đô thị và khu công nghiệp trong vùng, các
LVS đang đứng trước những thách thức lớn trong duy trì và cải thiện chất lượng
nước. Vì vậy, việc ứng dụng hệ thống thông tin môi trường hỗ trợ và phục vụ
công tác quản lý chất lượng nước LVS của các cơ quan quản lý nhà nước là một
điều hết sức cần thiết.