1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH
VIỆN KHOA HỌC THỂ DỤC THỂ THAO
PHAN QUỐC CHIẾN
NGHIÊN CỨU TÌNH HÌNH TIÊU DÙNG TẬP LUYỆN
THỂ DỤC THỂ THAO CỦA CÁN BỘ CÔNG CHỨC,
VIÊN CHỨC, DOANH NHÂN Ở THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
HÀ NỘI – 2013
.
Tác giả luận án
Phan Quốc Chiến
4
MỤC LỤC
1.3. Tiêu dùng thể dục thể thao
25
1.3.1 Khái niệm chung
25
1.3.1.1. Tiêu dùng và tiêu dùng thể dục thể thao
26
1.3.1.2. Hàm tiêu dùng và hàm tiêu dùng thể dục thể thao
28
1.3.2. Loại hình và phân loại nội dung tiêu dùng thể dục thể thao
29
1.3.3. Tính chất, đặc điểm của tiêu dùng thể dục thể thao
31
1.3.4. Những nhân tố chủ yếu ảnh hưởng tiêu dùng thể dục thể thao
34
1.3.4.1.Nhân tố cá nhân người tiêu dùng thể dục thể thao
35
1.3.4.2. Những nhân tố kinh tế - xã hội tạo ra năng lực tiêu dùng thể
dục thể thao
38
1.3.5. Vai trò, vị trí tiêu dùng tập luyện thể dục thể thao trong tiêu dùng
xã hội
39
1.4. Thị trƣờng tiêu dùng tập luyện thể dục thể thao
43
5
CHƢƠNG 2. ĐỐI TƢỢNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
44
3.1. Tình hình tiêu dùng tập luyện thể dục thể thao của công chức, viên
chức, doanh nhân ở một số cơ sở công lập và ngoài công lập trên đại
bàn Hà Nội.
55
3.1.1. Loại hình tiêu dùng tập luyện TDTT của công chức, viên chức,
doanh nhân tại một số cơ sở nội thành Hà Nội
55
3.1.1.1. Loại hình tiêu dùng tập luyện thể dục thể thao
55
3.1.1.2. Nghề nghiệp và môn thể thao của người tập
59
3.1.1.3. Cơ cấu người tập theo lứa tuổi
60
3.1.2. Tình hình tập luyện TDTT củ , doanh nhân
61
3.1.2.1. Tính thường xuyên của tập luyện thể dục thể thao
61
3.1.2.2
loạ khác
66
3.1.3. Những yếu tố tâm lý tác động đến tiêu dùng tập luyện thể dục
thể thao
68
3.1.3.1. Những yếu tố có tính chủ quan và khách quan chủ yếu
quyết định tham gia tập luyện TDTT
68
3.1.3.2. Tình hình thu nhập và chi tiêu cho việc tập luyện TDTT
72
ngoài công lập
99
3.2.4. Bàn luận tình trạng tổ chức cung ứng dịch vụ tập luyện thể dục
thể thao của các cơ sở công lập và ngoài công lập
103
3.2.4.1. Về tình trạng sân và mật độ thời gian tập luyện
104
3.2.4.2. Về sự hạn chế cung ứng dịch vụ liên quan đến tập luyện thể thao
106
3.2.4.3. Về nâng cao năng lực, phong cách dịch vụ tập luyện thể dục
thể thao
108
3.3. Ứng dụng một số giải pháp nhằm nâng cao chất lƣợng tập luyện thể dục
thể thao của công chức, viên chức, doanh nhân.
110
3.3.1. Nguyên tắc lựa chọn các giải pháp
110
3.3.2. Chọn lựa giải pháp
111
3.3.2.1. Mục đích, yêu cầu chọn lựa giải pháp
111
3.3.2.2. Phương pháp tiến hành
112
3.3.3. Nội dung các giải pháp ứng dụng vào thực tiễn
114
3.3.3.1. Nội dung các giải pháp
114
3.3.3.2. Triển khai các giải pháp
117
3.3.4. Kết quả thực hiện các giải pháp
PHỤ LỤC 8
DANH MỤC VIẾT TẮT SỬ DỤNG TRONG LUẬN ÁN CBCC
-
Cán bộ công chức
CLB
-
Câu lạc bộ
DN
-
Doanh nhân
NQ
-
9
DANH MỤC CÁC BẢNG TRONG LUẬN ÁN
3.1.
Hiện trạng nghề nghiệp và sự lựa chọn môn thể thao (n= 861)
60
3.2.
Tình trạng lứa tuổi người tập thể dục thể thao(n= 861)
61
3.3.
Số buổi tập thể thao trong tuần(n= 861)
62
3.4.
Thời điểm tập luyện thể thao trong ngày(n= 861)
63
3.5.
Thời lượng một buổi tập của đối tượng điều tra
65
3.6.
Thời gian đã tham gia tập luyện TDTT thường xuyên(n= 861)
65
3.7.
3.16.
Số lần tổ chức các cuộc thi đấu trong năm (Môn Quần vợt)
92
3.17.
Số lần tổ chức các cuộc thi đấu trong năm (Môn Cầu lông)
93
3.18.
Số lần tổ chức các cuộc thi đấu trong năm (Môn Bóng bàn)
94
3.19.
Kết quả đánh giá về môi trường cung cấp dịch vụ
96
3.20.
Dịch vụ tập TDTT của cơ sở tập luyện công lập
100
3.21.
Dịch vụ tập TDTT của cơ sở tập luyện ngoài công lập (tư nhân)
101
3.22.
So sánh mức độ yếu kém giữa cơ sở công lập và ngoài công lập
103
10
3.23.
Kết quả phỏng vấn người tập luyện TDTT về lựa chọn giải pháp
nâng cao chất lượng dịch vụ tập luyện ( n = 135)
Sau trang
112
63
3.3.
Yếu tố có tính chủ quan quyết định việc tập luyện TDTT
70
3.4.
Yếu tố có tính khách quan quyết định việc tập luyện TDTT
72
3.5.
Tổng điểm đánh giá sự hài lòng về dịch vụ tại cơ sở công lập
122
3.6.
Tỷ lệ % sự hài lòng về các tiêu chí tại cơ sở công lập
122
3.7.
Tổng điểm đánh giá sự hài lòng về dịch vụ tại cơ sở ngoài công lập
125
3.8.
Tỷ lệ % sự hài lòng về dịch vụ tại cơ sở ngoài công lập
126
3.9.
Tỷ lệ tăng trưởng các cuộc thi đấu sau thực nghiệm môn Quần Vợt
Sau trang
127
3.10.
Tỷ lệ tăng trưởng các cuộc thi đấu sau thực nghiệm môn Cầu lông
Sau trang
127
3.11.
Tỷ lệ tăng trưởng các cuộc thi đấu sau thực nghiệm môn Bóng bàn
128
Cuộc vận động ''Toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại''
được tiến hành từ năm 2000 đang trở thành động lực thúc đẩy các tầng lớp
nhân dân tham gia các hoạt động TDTT . Theo số liệu của ngành TDTT năm
2008, tỷ lệ người tập TDTT thường xuyên đã đạt trên 22,5 % so với tổng dân
số cả nước, trong đó những người đang ở độ tuổi lao động tại các cơ quan nhà
nước tham gia ngày một nhiều, đặc biệt là trên các địa bàn thành phố. Điều đó
2
bắt nguồn từ quan điểm, đường lối của Đảng và Nhà nước về chăm sóc và bồi
dưỡng nâng cao chất lượng nguồn lực lao động có tri thức, có sức khoẻ mà
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX (2001), lần thứ X (2006) và lần thứ XI
(2011) đã xác định. [34],[35],[36]
Đặc biệt đối với công tác TDTT được Bộ chính trị, Ban chấp hành
Trung ương Đảng khóa XI đã ban hành Nghị quyết số 08-NQ/TW của Bộ
Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, tạo bước phát triển mạnh mẽ
về thể dục, thể thao đến năm 2020 đã nêu rõ:
“Sự nghiệp phát triển thể dục thể thao nước ta đã có nhiều tiến bộ. Thể
dục thể thao quần chúng tiếp tục phát triển với nhiều hình thức đa dạng, góp
phần nâng cao sức khỏe, xây dựng lối sống lành mạnh, cải thiện đời sống văn
hóa, tinh thần của nhân dân. Thể thao thành tích cao có bước phát triển, thành
tích một số môn đạt trình độ châu Á và thế giới. Cơ sở vật chất, kỹ thuật cho
thể dục thể thao từng bước được nâng cấp và xây dựng mới. Hợp tác quốc tế
về thể dục thể thao được tăng cường, vị thế của thể thao Việt Nam được nâng
cao, nhất là ở khu vực Đông Nam Á”.
Nội dung quan điểm của Nghị quyết được tập trung vào 3 vấn đề chủ yếu:
- Phát triển thể dục, thể thao là một yêu cầu khách quan của xã hội,
nhằm góp phần nâng cao sức khỏe, thể lực và chất lượng cuộc sống của nhân
dân, chất lượng nguồn nhân lực; giáo dục ý chí, đạo đức, xây dựng lối sống và
thế giới thì vấn đề sức khoẻ lao động, nghỉ ngơi của công chức nhà nước
trong bối cảnh đô thị hoá đã trở thành mối quan tâm mang tính xã hội, nhưng
trong thời đại hiện nay có rất nhiều loại hình nghỉ ngơi, giải trí, nhu cầu văn
hóa văn nghệ cùng nhu cầu học tập, trau dồi nghề nghiệp để làm việc có hiệu
quả cao hơn. Trong khi đó thời gian ngoài giờ lao động lại quá ít ỏi. Chọn lựa
cách nghỉ ngơi giải trí bằng hoạt động TDTT là một phương pháp được nhiều
nhà khoa học cho là thông minh nhất. Sức khoẻ là tiền đề để làm ra của cải
vật chất cho xã hội, là khởi nguồn cho cuộc sống hạnh phúc bình yên. [6]
Ngày nay, trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN đã và đang
diễn ra biết bao đổi thay về cơ chế hoạt động TDTT, phong trào rèn luyện
4
thân thể của quần chúng nhân dân ở nước ta nói chung và ở nội thành Hà Nội
nói riêng đang vận hành phát triển một cách rõ rệt [13]. Rèn luyện thân thể
thông qua hoạt động tập luyện TDTT đòi hỏi tiêu dùng thời gian rất đáng kể
nếu chưa tính đến tiêu dùng tiền bạc cho các phương tiện tập luyện, đi lại,
dinh dưỡng liên quan. Nhu cầu sử dụng thời gian để lao động sản xuất không
chỉ ở mức tối đa khi cần thiết mà còn tiêu dùng cho rất nhiều nhu cầu sinh tồn
(ăn, ngủ, sinh hoạt và chăm lo gia đình ) do đó phần thời gian tự do ngoài
giờ lao động còn lại để tiêu dùng cho nhu cầu phát triển bản thân chỉ có tỷ lệ
không nhiều. Việc nghiên cứu thời gian tự do trong mối quan hệ với nhu cầu
văn hóa, giáo dục, sức khỏe và các nhu cầu khác trong tình hình xã hội hiện
nay, trong đó nhu cầu thưởng thức thể thao trong nước, thế giới và tập luyện
thể dục thể thao là một vấn đề có ý nghĩa quan trọng đối với việc cung ứng
tiêu dùng thể dục thể thao cho xã hội.
Phong trào tập luyện TDTT của các tầng lớp nhân dân, trong đó lực
lượng lao động trong các cơ quan hành chính nhà nước, các đoàn thể chính trị
- xã hội và các doanh nghiệp nhà nước có bước khởi sắc với một số lượng
Mục tiêu 1: Điều tra hiện trạng tiêu dùng dưới hình thức tập luyện thể
dục thể thao của cán bộ, viên chức, doanh nhân trên địa bàn thành phố Hà
Nội. Mục tiêu này gồm các vấn đề cơ bản cần giải quyết dưới đây:
+ Tình hình tiêu dùng tập luyện TDTT của công chức, viên chức, doanh
nhân tại một số cở sở công lập, ngoài công lập Hà Nội gồm: loại hình tiêu
dùng tập luyện, nghề nghiệp và lứa tuổi người tập;
+ Nghiên cứu tình hình tập luyện thể dục thể thao của cán bộ, viên
chức, doanh nhân ở một số cơ sở nội thành Hà Nội gồm: tính thường xuyên
tập luyện và sử dụng các loại hình tiêu dùng khác;
+ Những nhân tố tác động đến tiêu dùng tập luyện TDTT gồm: động cơ,
tiêu dùng, tình trạng thu nhập, chi tiêu cho tiêu dùng tập luyện TDTT.
Mục tiêu 2: Tình hình tổ chức cung ứng dịch vụ tập luyện thể dục thể
thao đối với cán bộ công chức, viên chức, doanh nhân.
- Tình hình sân bãi, tổ chức dịch vụ tập luyện thể dục thể thao đối với
công chức, viên chức và doanh nhân tại các cơ sở công lập và ngoài công lập.
- Tình hình tổ chức thi đấu tại các cơ sở dịch vụ thể dục thể thao.
6
- Tình hình môi trường dịch vụ và sự thỏa mãn tập luyện TDTT của
người tập.
Mục tiêu 3: Nghiên cứu một số giải pháp tổ chức quản lý của cơ sở
dịch vụ nhằm nâng cao chất lượng tiêu dùng tập luyện thể dục thể thao đối
với công chức, viên chức, doanh nhân.
- Cơ sở lý luận về giải pháp.
- Cơ sở thực tiễn lựa chọn các giải pháp.
- Ứng dụng những giải pháp.
GIẢ THUYẾT KHOA HỌC:
Nghiên cứu thực trạng tình hình tiêu dùng tập luyện thể dục thể thao là
giá trị về trình độ phát triển xã hội. [68], [69], [74].
1.1.1. Phương thức sản xuất hiện đại công nghiệp hóa
Đặc trưng của phương thức sản xuất hiện đại: Phương thức sản xuất
hiện đại có các đặc trưng cơ khí hóa, quy mô hóa, cao tốc hóa và tự động hóa
[21],[22]
Ảnh hưởng của sự thay đổi phương thức sản xuất hiện đại tới sức khỏe
của người lao động:
+ Thay đổi phương thức lao động:
8
Lao động thể lực Lao động trí thức = Giảm nhẹ cường độ lao động
cơ bắp, thể lực. Lao động thể lực và lao động trí óc đều gây ra mệt mỏi và
tính chất mệt mỏi được các nhà sinh lý học xác định như mô hình dưới đây:
Mệt mỏi Mệt mỏi về thể lực - mệt mỏi
cục bộ gia tăng, các bộ phận khác
giảm thiểu hoạt động cơ bắp
Mệt mỏi tinh thần - tâm lý
căng thẳng, mệt mỏi triền miên gia
tăng
+ Thay đổi hình thức làm việc:
Đơn điệu trong thao tác trình tự quy trình liên tục làm việc = căng
thẳng, đơn điệu, mất đi chính mình.
Trình tự thao tác với tần suất nhanh, dễ gây ra phản ứng xấu về tâm lý,
căng thẳng về tinh thần và mệt mỏi cục bộ. Nhu cầu (giải tỏa
Stress tinh thần, tâm
lý)
Nhu cầu thể
dục thể thao
Hoạt động thể lực
có định hƣớng
Tinh lực làm việc
Hồi phục tốt
Nghỉ ngơi tích
cực (Hoạt động chân
tay, giải trí.v.v…)
Chất lượng cuộc sống với trình độ sức khỏe của xã hội:
Chất lượng cuộc sống gồm yếu tố vật chất và tinh thần, môi trường
sống và làm việc. Nhìn chung, xã hội hiện đại làm ra của cải vật chất nhưng
cũng gây không ít tác động xấu tới con người, ở đây chỉ nói tới vấn đề
phương thức sinh hoạt. Phương thức sinh hoạt có mối quan hệ gắn bó với sức
khỏe của mọi người. Sự biến đổi của phương thức sinh hoạt, nhịp độ sinh hoạt
đều sẽ ảnh hưởng tới sức khỏe của cá nhân, thậm chí sức khỏe của cả cộng
đồng và xã hội. Trong cuộc đời của mỗi con người, phương thức sinh hoạt
không thể hình thành bất biến. Cùng với sự biến đổi của phương thức sinh
hoạt, sự phong phú hoặc nghèo nàn của nội dung sinh hoạt, rộng mở hoặc 11
+ Sự phân chia thời gian cần thiết cho lao động bắt buộc và sinh tồn
ngày càng rõ ràng, thời gian rảnh rỗi ngày càng tập trung vào mục đích phát
triển con người. [20], [25].
Thời đại nông nghiệp, sinh hoạt của mọi người chịu sự chi phối của tự
nhiên, thích ứng với mùa màng thời tiết và nhịp độ tự nhiên, không có thời
gian rảnh rỗi cố định. Trong thời đại công nghiệp, thời gian rảnh rỗi và thời
gian làm việc đã có sự khác biệt rõ ràng hơn. Đến xã hội thời đại thông tin,
thời gian lao động của mọi người sẽ rút ngắn rõ rệt, đồng thời tương đối tập
trung. Quan niệm của mọi người sử dụng thời gian rảnh rỗi hữu ích được mở
rộng, trong đó xu thế phát triển mạnh mẽ các hoạt động nghỉ ngơi, giải trí
đang trở thành một bộ phận cấu thành của thời gian rảnh rỗi, thể dục thể thao
cho mọi người cũng theo đó mà phát triển. [20]
Hiện nay, thời gian rảnh rỗi ở các thành phố lớn của nước ta tương đối
ngắn đã ảnh hưởng đến việc triển khai thể dục thể thao cho mọi người. Trình
độ sản xuất của nước ta thấp là nguyên nhân căn bản hạn chế thời gian rảnh
rỗi của cư dân ở nông thôn và thành phố. Hiện tượng này được biểu hiện ở
các mặt sau:
+ Thời gian sản xuất tương đối dài, lao động thể lực nặng nề và dày
đặc. Một số công nhân viên chức ngoài 8 giờ lao động hàng ngày còn phải
tham gia các công việc sự vụ hoặc làm nghề phụ để tăng thu nhập;
+ Phí tổn “thời gian có quan hệ với học tập và công tác” tương đối nhiều,
kể cả những sinh hoạt cá nhân, bạn bè trong ăn uống liên tục diễn ra hàng ngày
+ Thời gian lao động phục vụ gia đình quá dài, cán bộ công chức nam
giới ở nước ta bình quân chi phí nhiều hơn 2,5 - 2,8 giờ mỗi ngày vào công
việc gia đình so với các nước khác trên thế giới. Thời gian tự do của nam cán
bộ công chức ít hơn 1,6 - 2,3 giờ, nữ ít hơn 1,3 - 2,6 giờ mỗi ngày so với các
hưởng tới con người khiến con người càng ngày càng cảm thấy cô độc;
- Sự cạnh tranh xã hội ngày càng gay gắt trong nhiều lĩnh vực, con
người là trung tâm của việc tạo nên những gay gắt đó, quan hệ con người với
con người căng thẳng dẫn đến tinh thần căng thẳng.
13
- Nhịp sống nhanh dẫn đến cơ thể, tâm lý căng thẳng, mệt mỏi về thể
xác và tinh thần.
Cuộc sống xã hội hiện đại đem đến cho con người rất nhiều lợi ích và
sự tiện nghi, đồng thời cũng gây ra nhiều tác động bất lợi đối với sức khỏe
con người. Để ngăn ngừa và loại bỏ các nhân tố bất lợi, các nước và các nhà
khoa học đang tích cực nghiên cứu áp dụng các biện pháp, trong đó tập luyện
thể dục thể thao là một trong những biện pháp hữu hiệu được đưa ra. [21],
[32], [42].
Đô thị hóa là quá trình lịch sử tự nhiên chuyển biến từ xã hội nông thôn
truyền thống lạc hậu sang xã hội thành thị hiện đại tiên tiến. Xét từ góc độ kết
cấu không gian thành thị, chủ yếu chia thành hai giai đoạn và được biểu hiện
qua quá trình phát triển từ phân tán tới tập trung rồi lại chuyển hóa tới phân
tán.
Giai đoạn đô thị hóa tập trung
Quá trình đô thị hóa cận đại cho thấy, tập trung là hình thức biểu hiện
nổi trội nhất của đô thị hóa giai đoạn ban đầu. Tập trung khiến nhân khẩu
thành thị gia tăng, quy mô thành phố mở rộng, biến nông thôn thành đô thị,
biến thành thị nhỏ thành thành thị lớn. Tập trung khiến thành thị trở thành
trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa và là trọng tâm của phát triển xã hội.
Kết cấu không gian và phân bổ của đô thị tập trung thường được quy
hoạch bằng thuyết đường tròn đồng tâm và thuyết xèo quạt, thông thường bao
gồm các khu vực chức năng như khu thương mại, khu công nghiệp, khu văn
trong xã hội hiện đại. Nâng cao chất lượng sống để phát triển trường tồn bằng
các biện pháp mang tính tổng thể từ di truyền, môi trường dinh dưỡng, lối
sống, chăm sóc và tự nâng cao năng lực miễn dịch bằng khả năng thích ứng
qua tập luyện vận động không ngừng. Cộng đồng các nước ngày càng thấy rõ
cả về lý luận và thực tế là con người phải nâng cao sức khỏe phát triển thể
chất bằng rèn luyện vận động suốt đời từ lúc sinh ra đến lúc chết, trước đây
do rèn luyện thể lực vận động và lao động chân tay con người chưa sống thọ
nhưng năng lực miễn dịch chống nhiều chứng bệnh tốt hơn. Ngày nay, con
người thiếu, lười, ngại vận động nên đã mắc nhiều chứng bệnh trước kia ít
thấy. Vận động, vận động suốt đời là tiêu chí của con người hiện đại trong xã
15
hội văn minh, vận động chính là làm cho trái tim rèn luyện thích ứng thường
xuyên, từ đó cơ thể được hoạt động đều tăng năng lượng thích nghi, thích
ứng. [66], [68]
Trong quá trình phát triển xã hội, do công cụ sản xuất thay đổi nhờ
khoa học kỹ thuật công nghệ, sức lao động chân tay đơn giản vốn là phương
tiện chính để sản xuất đã dần thay đổi. Vào xã hội công nghiệp, xã hội kinh tế
tri thức, con người đã dần thay sức lao động thể lực chân tay đơn thuần bằng
máy móc cơ giới hóa, tự động hóa.
Xã hội văn minh hiện đại không phải hoàn toàn có lối sống lành mạnh.
Không ít nhà nghiên cứu chỉ ra nếu chỉ chạy theo hưởng thụ vật chất và tinh thần
đơn thuần, không có lối sống văn minh trong xã hội khỏe mạnh thông qua trạng
thái thể chất (hình thái, chức năng, thể lực, tâm lý, thích nghi ) thì cộng đồng
người không tạo ra một xã hội khỏe mạnh đúng nghĩa phù hợp phát triển sinh
học tự nhiên và xã hội văn minh hiện đại. Nhiều Nguyên thủ quốc gia của thế
giới đã hưởng ứng khuyến nghị của Liên hiệp quốc về 2 chính sách một mục tiêu
là chăm lo sức khỏe phòng chống chữa bệnh do ngành y tế đảm nhiệm và chăm