Đạo đức hồ chí minh về tình yêu thương con người sống có tình nghĩa và vận dụng vào giáo dục đạo đức cho sinh viên trường cao đẳng - Pdf 30

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

NGUYỄN THỊ TÂM
ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH VỀ
TÌNH YÊU THƯƠNG CON NGƯỜI,
SỐNG CÓ TÌNH NGHĨA VÀ VẬN DỤNG VÀO
GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO SINH VIÊN
TRƯỜNG CAO ĐẲNG KINH TẾ - KỸ THUẬT
VĨNH PHÚC HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Triết học
Hà Nội-2014
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

NGUYỄN THỊ TÂM
ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH VỀ
TÌNH YÊU THƯƠNG CON NGƯỜI,
SỐNG CÓ TÌNH NGHĨA VÀ VẬN DỤNG VÀO
GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO SINH VIÊN
TRƯỜNG CAO ĐẲNG KINH TẾ - KỸ THUẬT
VĨNH PHÚC HIỆN NAY
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Triết học
Mã số:60.22.03.01
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS: Phạm Ngọc Anh
Hà Nội-2014
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các tài liệu được sử
dụng trong luận văn có nguồn gốc và xuất xứ rõ ràng. Các kết quả nghiên cứu của luận
văn chưa được công bố qua bất cứ công trình nghiên cứu khoa học nào.

được nghiên cứu kỹ, theo chiều sâu để giáo dục cho thế hệ trẻ, nhất là thanh
niên – sinh viên.
Trong “Thư gửi thanh niên và nhi đồng Toàn quốc nhân dịp Tết
Nguyên Đán năm 1946”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: “Một năm khởi đầu
từ mùa Xuân. Một đời khởi đầu từ tuổi trẻ. Tuổi trẻ là mùa Xuân của xã hội”.
Tuổi trẻ là sức mạnh, là công cụ tạo động lực cho sự phát triển của đất nước.
Và trong đó, sinh viên là một lực lượng hùng hậu có vai trò quan trọng. Sinh
viên là lực lượng xã hội đặc thù - họ là những trí thức tương lai của đất nước,
đóng vai trò quan trọng trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Đặc
biệt, sinh viên hiện nay sinh ra và lớn lên trong môi trường công nghệ thông
tin phát triển mạnh mẽ và xu thế hội nhập quốc tế. Trong đó, sinh viên Việt
Nam hiện nay là lớp người chịu nhiều ảnh hưởng tích cực cũng như tiêu cực
từ những biến đổi của đất nước và thế giới. Sinh viên Việt Nam mang những
đặc điểm riêng ngoài các đặc điểm chung của người Việt Nam. Đó là: trẻ,
năng động sáng tạo, có tri thức, dễ tiếp thu cái mới, nhạy cảm với các vấn đề
chính trị xã hội, dễ thích nghi, luôn muốn được tự khẳng định mình trước mọi
người. Nhưng nói chung đại bộ phận sinh viên Việt Nam phát huy được
những ưu điểm và truyền thống tốt đẹp của các thế hệ sinh viên đi trước, thi
đua học tập, rèn luyện, tiếp thu tiến bộ khoa học, công nghệ, chủ động tiếp thu
những nét đẹp của sinh viên thế giới, tạo nên đặc trưng lớp sinh viên những
năm đầu thế kỉ XXI.
3
Song, bên cạnh những mặt tích cực, sinh viên cũng đang chịu sự tác
động tiêu cực từ mặt trái của nền kinh tế thị trường và xu hướng khu vực hóa,
quốc tế hóa. Một bộ phận sinh viên chạy theo lối sống thực dụng, có biểu hiện
xa rời các giá trị đạo đức truyền thống, dễ bị dao động về mặt định hướng đạo
đức và lối sống. Như Đảng ta khẳng định: “tình trạng suy thoái, xuống cấp về
đạo đức, lối sống, sự gia tăng các tệ nạn xã hội và tội phạm, đáng lo ngại nhất
là trong giới trẻ”.
Cùng với xu hướng chung của sinh viên cả nước, sinh viên trường Cao

(Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội năm 1996) … Các công trình này đã khái
quái một cách hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức, trong đó có trình
bày những quan điểm đạo đức của Hồ Chí Minh về tình yêu thương con
người, sống có tình nghĩa khá đầy đủ.
- Về Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh trong giáo dục đạo đức cho sinh
viên hiện nay, có nhiều công trình nghiên cứu. Tuy nhiên ở đây, tác giả chỉ
xin được đưa ra một số công trình cơ bản, tiêu biểu: Văn Tùng, Tìm hiểu tư
tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục Thanh niên, Nxb Thanh niên, Hà Nội, 1999;
Đoàn Nam Đàn, Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục Thanh niên, Nxb Chính
trị quốc gia, Hà Nội, 2002; Hà Huy Thông (1995), Tư tưởng Hồ Chí Minh về
đạo đức của người cán bộ quân sự, Luận án tiến sĩ Triết học, Học viện Chính
trị quốc gia Hồ Chí Minh…
- Về tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh và việc giáo dục sinh viên hiện
nay có một số công trình nghiên cứu như sau: Dương Tự Nam, Thanh niên
học tập và làm theo tư tưởng Hồ Chí Minh, 2003; Nguyễn Hữu Đức ( chủ
biên), Giáo dục, rèn luyện thanh niên theo tư tưởng Hồ Chí Minh và quan
điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam, 2000; Đặng Quốc Bảo, Tư tưởng Hồ Chí
Minh về giáo dục, 2008, NXB Thanh niên; Trần Minh Đoàn (2002), Giáo dục
đạo đức cho thanh niên học sinh theo tư tưởng Hồ Chí Minh ở nước ta hiện
nay, Luận án tiến sĩ Triết học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh…
5
Đặc biệt, qua việc thực hiện Chỉ thị 06 – CT/TW năm 2006 của Bộ chính
trị về tổ chức cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí
Minh”; Chỉ thị 03 – CT/TW năm 2011 về việc “tiếp tục đẩy mạnh việc học tập
và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, hằng năm các tổ chức, đoàn
thể, các cấp chính quyền đều có chuyên đề hướng dẫn thực hiện học tập và làm
theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh cho tất cả các đối tượng. Tầng lớp học
sinh, sinh viên trong cả nước nói chung là một trong những đối tượng được chú
trọng. Tuy nhiên, để nghiên cứu đạo đức Hồ Chí Minh về tình yêu thương con
người, sống có tình nghĩa như một đối tượng cụ thể thì chưa có công trình nào.

Minh về tình yêu thương con người, sống có tình nghĩa; Thực trạng giáo dục
tình yêu thương con người, sống có tình nghĩa cho sinh viên trường Cao đẳng
Kinh tế - Kỹ thuật Vĩnh Phúc theo di sản Hồ Chí Minh.
Phạm vi nghiên cứu:
- Nghiên cứu đạo đức Hồ Chí Minh về tình yêu thương con người, sống
có tình nghĩa.
- Đề tài còn nghiên cứu việc giáo dục tình yêu thương con người, sống
có tình nghĩa theo tư tưởng Hồ Chí Minh cho sinh viên trường Cao đẳng Kinh
tế - Kỹ thuật Vĩnh Phúc từ năm 2007 đến nay.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận
Luận văn được triển khai trên nền tảng các quan điểm của chủ nghĩa
Mác–Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối của Đảng về đạo đức.
Phương pháp nghiên cứu
Với đề tài này, tác giả vận dụng phương pháp luận chung của chủ nghĩa
duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử kết hợp phương pháp phân
tích, tổng hợp, điều tra xã hội học…
7
6. Đóng góp mới của luận văn
- Trong luận văn này, tác giả muốn góp phần vào việc nghiên cứu tư
tưởng, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh về tình yêu thương con người, sống
có tình nghĩa và vận dụng giáo dục đạo đức cho sinh viên hiện nay, đặc biệt
cho sinh viên trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Vĩnh Phúc.
- Cũng từ đây cho chúng ta cách nhìn nhận đúng đắn, khách quan về đạo
đức, lối sống của sinh viên và việc giáo dục đạo đức, lối sống cho sinh viên
trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Vĩnh Phúc theo tấm gương đạo đức Hồ
Chí Minh.
- Tác giả có đề xuất những phương hướng, giải pháp có tính khả thi cao
trong giáo dục đạo đức, lối sống cho sinh viên của trường.
- Luận văn cung cấp thêm những luận cứ khoa học giúp nhà trường cũng

niệm này chủ yếu là của người Trung Quốc cổ đại mà theo đó, đạo đức chính
là những yêu cầu, những nguyên tắc do chính con người đặt ra trong cuộc
sống mà từ đó con người phải tuân theo.
Theo “Từ điển Bách Khoa Việt Nam”: “Đạo đức là một trong những
hình thái sớm nhất của ý thức xã hội bao gồm những chuẩn mực điều chỉnh
hành vi của con người trong quan hệ với người khác và với cộng đồng (gia
đình, làng xóm, giai cấp, dân tộc hoặc toàn xã hội). Căn cứ vào những chuẩn
mực ấy, người ta đánh giá hành vi của mỗi người theo các quan niệm về thiện
9
và ác, về cái không được làm (vô đạo đức) và về nghĩa vụ phải làm”[65, 738-
739].
Trong “Từ điển Triết học”: “Đạo đức là một trong những hình thái ý
thức xã hội, một chế định xã hội thực hiện chức năng điều chỉnh hành vi của
con người trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội không trừ lĩnh vực
nào.”“Trong đạo đức, sự cần thiết xã hội, những nhu cầu, lợi ích của xã hội
hoặc của giai cấp viểu hiện dưới hình thức những quy định và những sự đánh
giá đã được mọi người thừa nhận và đã thành hình một cách tự phát, được
củng cố bằng sức mạnh của tấm gương quần chúng, của thói quen, phong tục,
dư luận xã hội. Cho nên, những yêu cầu của đạo đức mang hình thức bổn
phận phải làm không riêng một ai, như nhau đối với tất cả, nhưng không chịu
sự ra lệnh của ai cả…Chúng khác phong tục đơn giản hoặc truyền thống đã
được duy trì bởi sức mạnh của một trật tự đã ổn định.”[60, tr 156-157]
Cùng với sự phát triển của xã hội, những ý thức và tư tưởng đạo đức
hình thành và phát triển. Tuy nhiên, trước khi quan niệm của Mác ra đời, khái
niệm “đạo đức”mới chỉ dừng lại ở những tư tưởng và chưa được giải quyết
một cách khoa học về nguồn gốc, bản chất của nó. Nguồn gốc của đạo đức
vẫn được coi là xuất phát từ “mệnh lệnh của thượng đế”, “từ ý niệm tuyệt
đối”hay là bản tính bất biến của con người mà sinh ra đã có… Những quan
niệm trước Mác không xuất phát từ điều kiện sinh hoạt vật chất của xã hội để
suy ra toàn bộ lĩnh vực tư tưởng trong đó có tư tưởng đạo đức. Chỉ đến Mác,

còn có tính kế thừa. Mặc dù các chế độ xã hội thay thế nhau nhưng những
điều kiện sinh hoạt của xã hội không mất đi hoàn toàn. Tất nhiên sự kế thừa
này mang tính chọn lọc để phù hợp với xu hướng và điều kiện thực tại. Điều
này lý giải tại sao có những phẩm chất, nguyên tắc đạo đức được sinh ra từ
thời phong kiến nhưng vẫn tồn tại cho đến ngày nay… Từ đây, chúng ta cũng
có thể thấy sự phát sinh và phát triển của đạo đức còn là một quá trình do sự
phát triển của phương thức sản xuất quyết định.
11
Một trong những nội dung để thấy được bản chất của đạo đức là: đạo
đức là một hiện tượng xã hội mang tính chuẩn mực bao gồm hệ thống những
giá trị. Và các hiện tượng đạo đức này thường được biểu hiện dưới những
hình thức khẳng định hoặc phủ định. Tức là, nó có thể tán thành hay phản đối
thái độ hoặc hành vi ứng xử của các cá nhân với nhau và với cộng đồng trong
xã hội ấy. Sự ra đời, phát triển và hoàn thiện hệ thống giá trị đạo đức không
tách rời sự phát triển và hoàn thiện của ý thức đạo đức và sự điều chỉnh đạo
đức. Thông thường, nếu hệ thống giá trị đạo đức phù hợp với sự phát triển của
xã hội thì hệ thống giá trị ấy cũng mang tính tích cực, nhân đạo. Và ngược lại,
nếu nó không phù hợp thì hệ thống ấy sẽ mang tính tiêu cực, phi nhân đạo.
Những chuẩn mực đạo đức này thường có nội dung phù hợp với hệ thống ý
thức xã hội. Chính vì vậy mà trong cuộc sống nói chung, đạo đức có vai trò
khá quan trọng trong việc điều chỉnh hành vi của con người.
Trong quá trình lao động để tạo ra của cải vật chất, xuất hiện những
hành vi không phù hợp với lối sống, suy nghĩ, thậm chí ảnh hưởng đến kết
quả của công việc. Điều này dẫn đến việc con người đã tạo ra nhiều cách thức
để điều chỉnh hành vi đó. Đó có thể là pháp luật, là tôn giáo hay đạo đức…
Đối với đạo đức, việc điều chỉnh hành vi của con người được thông qua các
khái niệm: thiện và ác, vinh và nhục, chính nghĩa và phi nghĩa… Những khái
niệm này ở thời đại lịch sử nào cũng được đưa ra làm chuẩn mực đánh giá.
Tuy nhiên, nó có sự thay đổi theo từng hoàn cảnh cụ thể. Ví dụ: Trong xã hội
có giai cấp thì những chuẩn mực đạo đức thường là của một giai cấp nhất

đến việc công, từ lao động sản xuất ở địa phương đến chiến đấu ngoài mặt
trận, từ học tập, công tác đến sinh hoạt hàng ngày. Hồ Chí Minh cũng bàn đến
đạo đức ở mọi phạm vi từ gia đình tới xã hội, từ giai cấp đến dân tộc. Việc Hồ
Chí Minh nghiên cứu đạo đức một cách toàn diện là một cách nhìn nhận
mang tính khách quan, phù hợp với hoạt động phong phú đa dạng của đời
sống xã hội và của mỗi con người.
13
1.1.2. Đạo đức cách mạng
Theo chủ nghĩa Mác – Lênin, không có một nền đạo đức nào chung cho
tất cả mọi người, mọi nơi, mọi quốc gia dân tộc. Và đạo đức cũng không phát
sinh từ ý muốn của Thượng đế hay ý niệm tuyệt đối theo Hêghen. Nó cũng
chẳng phải xuất phát từ ý chí hay bản tính của con người. Như phần trên tác
giả trình bày, đạo đức xuất phát từ đời sống thực tế và tình trạng kinh tế của
xã hội. Do đó, nó luôn thay đổi và mang tính giai cấp. Trong xã hội có giai
cấp, giai cấp thống trị có đạo đức của họ và giai cấp bị trị cũng có đạo đức
riêng của mình. Đạo đức cách mạng chính là đạo đức của giai cấp công nhân
hay còn gọi là đạo đức cộng sản.
Hiểu theo nghĩa hẹp thì đạo đức cách mạng không dạy con người phải
biết cư xử làm sao cho phải đạo làm người, nhưng nó lại chỉ ra cụ thể phải
làm gì để trở thành người cách mạng – một con người đấu tranh cho sự
nghiệp giải phóng dân tộc và giải phóng giai cấp khỏi áp bức bóc lột…Ở Việt
Nam, đạo đức cách mạng có xu hướng gắn liền với đạo đức truyền thống dân
tộc. Phải chăng đó là cách hiểu rộng rãi, cởi mở mà Hồ Chí Minh đã đưa ra
nhằm đem lại sự gần gũi, dễ hiểu với người nông dân Việt Nam khi làm cách
mạng? Bởi chỉ khi Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh quyết tâm ra đi tìm
đường cứu nước và quyết định chọn con đường cách mạng vô sản làm đường
đi của cách mạng dân tộc, thì khi đó mới hình thành khái niệm đạo đức cách
mạng ở Việt Nam.
Trên thực tế, đạo đức mà Hồ Chí Minh đề cập tới là đạo đức mới – đạo
đức cách mạng. Đây là một khái niệm mà có lẽ Hồ Chí Minh là người đưa ra

điểm sâu sắc và toàn diện về đạo đức. Đó là những quan điểm thực sự khoa
học, biện chứng phù hợp với tiến bộ của xã hội loài người. Đó là sự kết hợp
nhuần nhuyễn những quy tắc đạo đức tốt đẹp của dân tộc Việt Nam. Về mặt
thực tiễn, Người luôn coi thực hành đạo đức là một mặt không thể thiếu của
cán bộ, đảng viên. Nói đến đây, chúng ta có thể thấy, bản thân Hồ Chí Minh
là tấm gương sáng ngời về đạo đức cách mạng. Người là đại diện mẫu mực
15
kết tinh tất cả những phẩm chất tốt đẹp nhất của người Việt Nam với đạo đức
người cộng sản của chủ nghĩa Mác – Lênin. Những quy tắc đạo đức của
Người nêu ra đã trở thành vũ khí mạnh mẽ của cả dân tộc ta trong cuộc đấu
tranh vì độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội, vì hòa bình, hợp tác và hữu nghị
với các quốc gia dân tộc trên thế giới.
Tóm lại, trong quan niệm của Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng là
nhằm giải phóng và đem lại hạnh phúc, tự do cho con người. Vì vậy, tu dưỡng
đạo đức phải gắn liền với hoạt động thực tiễn, trên tinh thần tự giác, tự
nguyện dựa vào lương tâm và trách nhiệm của mỗi con người.
Vậy đạo đức cách mạng là cái đức, cái tài hình thành trong những
người làm cách mạng, mà đối tượng cụ thể ở đây là lực lượng tham gia vào
quá trình đấu tranh cho sự nghiệp của đất nước. Đó là sự nghiệp giải phóng
dân tộc, xây dựng xã hội chủ nghĩa, đưa dân tộc Việt Nam sánh vai cùng các
dân tộc khác trên thế giới.
1.1.3. Đạo đức Hồ Chí Minh
Đạo đức Hồ Chí Minh bao gồm tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh và tấm
gương đạo đức Hồ Chí Minh. Hai phương diện này của đạo đức Hồ Chí Minh
thống nhất biện chứng, khi bóc tách từng mặt chỉ có ý nghĩa tương đối, tiện
cho việc nghiên cứu theo chiều sâu.
Trong tiến trình phát triển của lịch sử loài người, mỗi một dân tộc khác
nhau có hệ tư tưởng và quan niệm đạo đức khác nhau. Đối với dân tộc Việt
Nam cũng vậy, những tư tưởng đạo đức được kế thừa từ đời này qua đời
khác. Trong đó, tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh là một sự kết tinh sâu sắc giữa

rộng lớn toàn xã hội vào sự nghiệp chung của dân tộc. Nói như vậy không có
nghĩa là tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh phát triển tự thân vào các tầng lớp xã
hội để đơm hoa kết trái. Trong cuộc đời hoạt động cách mạng của Hồ Chí
Minh, Người luôn nêu cao tấm gương học tập, tu dưỡng và rèn luyện đạo đức.
Cùng với đó, Người cũng đòi hỏi như vậy với các thế hệ con người Việt Nam.
Những lời dạy của Người được cả dân tộc và thế giới coi trọng, học tập. Và
17
khi tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh trở thành nền tảng tư tưởng đạo đức xã hội
Việt Nam thì một lớp người mới hình thành trên cơ sở tư tưởng đạo đức mới
ấy. Đó là cả một thế hệ con người mới đã, đang và sẽ tiếp tục học tập, làm
việc theo tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh.
Đạo đức Hồ Chí Minh là đạo đức của một thời kỳ chuyển tiếp từ một
thời kỳ cũ sang một thời kỳ mới, khác hẳn các hình thái đạo đức trong xã hội
cũ. Trong đó, tư tưởng Hồ Chí Minh không đơn thuần là ý chí chủ quan của
con người mà là kết quả của sự phát triển xã hội. Đây là một xã hội đang
vươn lên tới cái chân, thiện, mỹ mà con người luôn luôn muốn vươn tới
nhưng chưa đủ điều kiện để thực hiện nó. Trong xã hội mới, hình thành
những con người mới hoạt động trên nền tảng đạo đức mới. Ở nước ta, nền
tảng đạo đức mới ấy chính là tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh. Và bản thân Hồ
Chí Minh chính là mẫu người lý tưởng nhất về một tấm gương rèn luyện đạo
đức.
Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh cho chúng ta thấy được rằng: sống là
hành động và mỗi hành động là một sự cam kết có trách nhiệm và có tác động
đến số phận của tập thể, của xã hội
1.2. Cơ sở hình thành đạo đức Hồ Chí Minh về tình yêu thương con
người, sống có tình nghĩa
Một trong những giá trị quan trọng trong truyền thống tinh thần của dân
tộc ta là giá trị đạo đức và nhân văn. Khi nói đến chủ nghĩa nhân văn, chúng
ta hiểu một cách chung nhất là những nguyên lý triết học và đạo đức xã hội về
quan hệ giữa những con người với nhau. Với tư cách là một hiện tượng văn

giết. Bao nhà cửa bị phá hủy tan hoang. Bao của cải mà dân ta phải bỏ mồ
hôi, nước mắt để làm ra đã bị kẻ thù tước đoạt. Quân xâm lược còn tìm mọi
cách để thủ tiêu giá trị tinh thần của nhân dân ta, muốn đồng hóa nhân dân ta
theo lối sống của chúng, từ phong tục, tập quán đến cách ăn, ở, suy nghĩ và
hành động. Suốt hàng ngàn năm chiến đấu,với bao đời từ Bà Trưng, Bà Triệu,
Lý Bôn, Mai Hắc Đế rồi đến Ngô Quyền, Đinh Bộ Lĩnh, Lê Hoàn, nhân dân
19
ta đã liên tục chống lại sự nô dịch và đồng hóa ấy. Và cuối cùng đã quét sạch
quân xâm lược ra khỏi đất nước.
Phải chăng điều này có được là từ một hệ thống tư tưởng yêu nước hình
thành trên đất tổ Hùng Vương. Người Việt ta đã chủ động phát huy các giá trị
tinh thần của tổ tiên để lại. Chính vì vậy, chúng ta không bao giờ quên hình
ảnh Thánh Gióng quật tan lũ giặc xâm lăng bằng lũy tre làng hay hình ảnh hai
Bà Trưng cưỡi voi đè nát quân xâm lược. Rồi chiến thắng năm 938 dưới sự
lãnh đạo của Ngô Quyền đã khẳng định chủ quyền của dân tộc Việt. Qua bao
đời Hán, Đường, Tống, Nguyên, Minh, tất cả bọn họ đều đem quân sang đánh
chiếm nước ta. Nhưng tất cả chúng đều thất bại bởi các phong trào giải phóng
dân tộc. Như vậy tư tưởng yêu nước cứ tiếp tục được bồi đắp và phát triển
ngày một mạnh mẽ hơn. Và đến khi có điều kiện, tinh thần ấy, tư tưởng ấy
được khẳng định thông qua căn bản cụ thể hơn là những áng văn thơ, đồng
thời phát triển thành chủ nghĩa yêu nước truyền thống Việt Nam.
“Nam quốc sơn hà, nam đế cư
Tuyệt nhiên định phận tại thiên thu”
(Nam quốc sơn hà – Lý Thường Kiệt)
Lời nói ấy như một sự khẳng định, lời tuyên bố trước kẻ thù. Nó cũng
giống như một lời thể hiện tinh thần yêu nước hùng hồn của dân tộc. Tư
tưởng yêu nước của dân tộc tiếp tục phát triển và được biểu hiện rõ hơn cả
trong “Hịch Tướng Sĩ”– Trần Quốc Tuấn, đồng thời trở thành chủ nghĩa yêu
nước truyền thống Việt Nam trong “Bình Ngô Đại Cáo”– Nguyễn Trãi.
Nền độc lập của dân tộc tuy đã dành được, nhưng vẫn luôn bị đe dọa từ

Có lẽ chính truyền thống yêu nước, thương dân đã ăn sâu vào dòng máu mỗi
con người Việt nên nó đã một phần thúc đẩy Hồ Chí Minh vượt qua bao gian
nan vất vả nơi xứ người để đến với chân lý cách mạng, với chủ nghĩa Mác –
Lênin và quyết tâm lựa chọn con đường cách mạng vô sản để cứu nước. Với
con đường này, qua bao cuộc đấu tranh gian khổ, dân tộc ta đã giành được
độc lập, nhân dân đã có tự do. Thực tế đã chứng minh bằng những mốc lịch
21
sử quan trọng như: thắng lợi Cách mạng Tháng Tám năm 1945 khai sinh ra
nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa; Chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954 đã
lập lại hòa bình ở Đông Dương, miền Bắc Việt Nam hoàn toàn giải phóng;
thắng lợi mùa xuân năm 1975 đã thống nhất đất nước, cả nước đi vào công
cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa; và công cuộc đổi mới đất nước năm 1986 đã
đưa Việt Nam dần thoát khỏi các quốc gia nghèo nàn lạc hậu trên thế giới, hội
nhập kinh tế thế giới.
Không thể phủ nhận được tinh thần yêu nước nồng nàn của dân tộc
được hình thành, phát triển trong lịch sử và trải qua bao biến động, thăng
trầm. Mặc dù vậy nhưng nó đã gắn bó chặt chẽ mọi người trong cùng một
nước vào một tình yêu thương vô hạn, đồng thời nó gắn chặt vận mệnh của cả
dân tộc. Nó đã làm nên truyền thống dân tộc ta và được biểu hiện cụ thể bằng
lòng thương người, căm thù giặc, sẵn sàng xả thân vì sự nghiệp giải phóng
dân tộc. Truyền thống ấy đã làm ảnh hưởng mạnh mẽ đế Nguyễn Ái Quốc –
Hồ Chí Minh. Người đã nhận thức sâu sắc và luôn có ý thức nuôi dưỡng, phát
huy truyền thống đó. Bên cạnh đó, Người còn động viên nhân dân ta phát huy
nó để đánh giặc, giải phóng dân tộc. Điều này chứng tỏ truyền thống yêu
nước nồng nàn của dân tộc là một trong những cơ sở hình thành và phát triển
tư tưởng Hồ Chí Minh về tình yêu thương con người.
Có lẽ, Độc lập – Tự do là cái quý nhất trên đời nên ngàn vạn Thanh
niên Việt Nam đời này qua đời khác đã đặt nó lên trên cả hạnh phúc, tuổi trẻ
và sinh mệnh. Đối với con người, có gì quý hơn chính cuộc sống của bản
thân, nhưng cuộc sống độc lập và tự do là niềm vui, là ước muốn mà thanh


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status