TRƢỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THỦY SẢN
TRƢƠNG NGỌC SANG
THỰC NGHIỆM NUÔI TÔM CÀNG XANH
(Macrobrachium rosenbergii de Man, 1879) MÙA KHÔ TRÊN
RUỘNG LÚA TẠI HUYỆN THOẠI SƠN
TỈNH AN GIANG BÁO CÁO TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
BÁO CÁO TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
CÁN BỘ HƢỚNG DẪN
PGs.Ts. DƢƠNG NHỰT LONG
Ths. TRẦN VĂN HẬN 2014
1
THỰC NGHIỆM NUÔI TÔM CÀNG XANH (Macrobrachium rosenbergii)
MÙA KHÔ TRÊN RUỘNG LÚA TẠI HUYỆN THOẠI SƠN TỈNH AN GIANG
Trương Ngọc Sang
1
, Dương Nhựt Long
1
và Trần Văn Hận
1
Thực nghiệm nuôi tôm càng xanh (Macrobrachium rosenbergii de Man, 1879) trên ruộng lúa
vào mùa khô tại huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang, nhằm nâng cao thu nhập cho người nuôi và
góp phần xây dựng hoàn chỉnh qui trình kỹ thuật nuôi tôm càng xanh trên ruộng lúa vào mùa
khô.
Các yếu tố về môi trường nước trung bình giữa 2 ruộng như nhiệt độ: 31,25
0
C ± 0,2, pH : 7,6
± 0,4, độ trong : 32 cm ± 0,4, Oxy: 4,68 ± 0,13 (ppm), ammonium: 0,455 ± 0,035 (ppm), PO
4
:
0,13 ± 0,005 (ppm), H
2
S: 0,06 ± 0,02(ppm), COD: 17,1 ± 0,1.
Trong quá trình thực nghiệm, các yếu tố thủy lý hoá môi trường nước ruộng nuôi điều nằm
trong khoảng thích hợp cho tôm nuôi tăng trưởng và phát triển. Sau chu kỳ nuôi 6 tháng, khối
lượng trung bình của ruộng 1: 56 g/con và ruộng 2: 49,2 g/con. Tỉ lệ sống ruộng 1: 36% và
ruộng 2: 32%. Năng suất tôm nuôi, ruộng 1 đạt: 1.112 kg/ha, ruộng 2 đạt: 935 kg/ha. Lợi
nhuận trên 1 vụ tôm ruộng 1 đạt 82.137.800 đồng/ha, ruộng 2 đạt 30.309.000đồng/ha. Tỉ suất
lợi nhuận của ruộng 1 là 53,6%, ruộng 2 là 19,8 % .
2
Từ thực tế cho thấy lợi nhuận mang lại từ các ruộng khá cao, giúp cho người nuôi tăng thu
nhập, và cho thấy hiệu quả từ mô hình nuôi tôm càng xanh trong ruộng lúa vào mùa nghịch
cũng khá cao.
1. GIỚI THIỆU
Ở vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long, An Giang là một trong những tỉnh đi đầu
trong phong trào nuôi tôm càng xanh luân canh trong ruộng lúa, diện tích nuôi tôm tăng
liên tục qua các năm, từ 5,5 ha năm 2000 tăng lên đến 650 ha năm 2007. Tôm càng
xanh là loài sống chủ yếu ở nước ngọt, có kích thước lớn nhất trong các loài tôm nước
ngọt, có chất lượng thịt thơm ngon là một trong những đối tượng thủy sản có giá trị kinh
xây dựng quy trình nuôi tôm càng xanh luân canh trên ruộng lúa vào mùa khô.
• Nội dung nghiên cứu: (1)Khảo sát các yếu tố thuỷ lý hoá môi trường nước trong
ruộng nuôi tôm càng xanh. (2) Theo dõi tăng trưởng, tỷ lệ sống, năng suất. (3) Phân tích
tính hiệu quả của mô hình nuôi tôm càng xanh mùa khô trong ruộng lúa tại huyện Thoại
Sơn, tỉnh An Giang.
2. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3
2.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Đề tài thực hiện từ tháng 12/2013 đến tháng 6/2014 trên 2 ruộng lúa có diện tích
10.000 m
2
/ruộng tại huyện Thoại Sơn tỉnh An Giang.
2.2 Phƣơng pháp nghiên cứu
Đề tài thực nghiệm nuôi trong 2 ruộng lúa có diện tích nuôi là 1 ha/ruộng, có 2 hộ tham
gia xây dựng mô hình: (1) Nguyễn Bá Trọng và (2) Văn Công Hưng.
Trong quá trình thực nghiệm, ruộng lúa được thiết kế lại gồm 1 ao liền kề ruộng lúa có
diện tích chiếm 30% so với ruộng lúa (3.000 m
2
/ao), mực nước ao ương 1,4 m, và diện
tích ruộng lúa còn lại chiếm 70% (7.000 m
2
), mực nước ruộng nuôi khoảng 1,2 m, có 2
cống, cống cấp và cống thóat nước, khẩu độ cống 30 cm. Bờ bao quanh phải đủ cao,
được gia cố chắc chắn, chống hiện tượng ngập lụt, sụp lở và thất thoát lượng nước làm
thay đổi môi trường trong quá trình nuôi. Hoạt động ương nuôi tôm được thực hiện qua
2 giai đoạn. Cống thoát
thành thục, tôm đực và tôm cái biểu hiện rõ qua hình dáng bên ngoài), tiến hành kéo
lưới và chọn tôm đực tốt (tôm càng lửa, đồng cở) chuyển ra ruộng nuôi luân canh.
Cống cấp
Cống thoát
Ao 3.000 m
2
Ruộng 7.000 m
24 Hình 3. Tôm càng xanh đực và cái
Mật độ tôm đực chuyển ra ruộng nuôi 3 con/m
2
, lượng tôm còn lại tiếp tục nuôi trong ao
theo hình thức thâm canh (có sử dụng quạt nước bổ sung oxy và dòng chảy). Giai đoạn
này sử dụng thức ăn viên công nghiệp (42 % đạm) kết hợp với thức ăn tươi sống (cá
tạp ). Sau khi nuôi thêm 45 ngày thì tiến hành thu tỉa tôm trứng, tôm càng xào trong ao,
số tôm đực còn lại tiếp tục nuôi thêm 65 ngày (6 tháng tính từ lúc thả tôm post) thì thu
hoạch toàn bộ sản phẩm trong ao và ruộng nuôi.
Các yếu tố về môi trường nước như nhiệt độ nước, pH, độ trong, DO, NH
4
+
, PO
4
3-
là trọng lượng tại thời điểm t
2
(g)
Số lượng tôm thu hoạch
+ Tỷ lệ sống (%) = x 100
Số lượng tôm thả nuôi
Trọng lượng tôm thu hoạch
+ Năng suất tôm nuôi (kg/ha) =
Diện tích nuôi
Đực
Cái
Đực
Cái
5
Dựa trên các thông số thu được từ quá trình thực nghiệm, năng suất tôm thu hoạch, hiệu
quả kinh tế mang lại từ mô hình nuôi được tính toán và phân tích. Tổng chi phí xây
dựng mô hình bao gồm (1) chi phí cố định: khấu hao công trình ao nuôi, máy bơm
nước, lưới kéo tôm, (2) chi phí biến đổi bao gồm chi phí cải tạo ruộng nuôi, vôi bột, dây
thuốc cá, phân bón, tôm giống, thức ăn, nhiên liệu, công thu hoạch.
+ Tổng thu = Tổng sản lượng tôm thu hoạch (kg) x Giá (đồng/kg).
+ Lợi nhuận = Tổng thu – Tổng chi.
+ Tỷ suất lợi nhuận (%) = (Lợi nhuận/ Vốn đầu tư) x 100
Tất cả số liệu được thu thập, phân tích và xử lý bằng chương trình Excel để so sánh và
đánh giá kết quả của hệ thống nuôi.
3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1. Các yếu tố môi trƣờng ruộng nuôi
C), và tôm nuôi sẽ phát triển tốt nhất trong khoảng giới hạn nhiệt độ
dao động từ 25 –31
o
C. Theo Nguyễn Thị Thu Thủy (2000), trong giới hạn khoảng dao
động nhiệt độ thích hợp, khi nhiệt độ càng cao, chu kỳ lột xác của tôm nuôi càng ngắn,
tôm nuôi sẽ phát triển nhanh (New và ctv, 2000). Nhìn chung so với các tác giả trên thì
nhiệt độ ở các tháng đều thích hợp cho sự phát triển bình thường của tôm. Độ trong của
các ruộng nuôi dao động từ 31,7 – 32,3 cm phù hợp với Huỳnh Tấn Đạt (2009) là từ 31-
34cm, điều này cho thấy vào các tháng đầu vụ nuôi cao do ao mới cải tạo chất lượng
nước trong ao tốt, về sau độ trong giảm dần điều này cho thấy ở các tháng tiếp theo các
ruộng nuôi có hàm lượng vật chất hữu cơ và số lượng các phiêu sinh động thực vật khá
phong phú. Điều này hoàn toàn phù hợp cho sự phát triển của tôm. Theo tiêu chuẩn về
độ trong tốt nhất cho ao nuôi tôm càng xanh 25–35 cm (Nguyễn Thanh Phương và Trần
Ngọc Hải, 2004). Theo Nguyễn Việt Thắng (1995) độ trong dao độ trong khoảng 20 –
70 cm là giá trị thích hợp cho hệ thống nuôi tôm càng xanh. Tuy nhiên theo Vũ Thế Trụ
(1994) độ trong dao động trong khoảng từ 25 –40 cm thì thích hợp cho sự phát triển
của tôm càng xanh trong hệ thống nuôi. Nhìn chung giữa hai ruộng nuôi cũng không có
sự khác biệt lớn về các yếu tố môi trường nêu trên và tất cả các giá trị về thủy lý như
trên điều thích hợp cho quá trình sinh trưởng và phát triển của tôm nuôi.
6
3.1.2. Các yếu tố thủy hóa
Bảng 3.2 Các yếu tố thủy hóa
Ruộng nuôi
Oxy (ppm)
NH
4
(ppm)
PO
4
ổn định ở mức trung bình là 4,68 ± 0,15. Kết quả cho thấy hàm lượng oxygen trong các
ruộng nuôi ít biến động và luôn ở mức thích hợp cho sự phát triển của tôm. So với kết
quả thực nghiệm nuôi tôm càng xanh của Huỳnh Tấn Đạt (2009) thì cũng khá phù hợp
là trung bình từ 4,2 ± 0,37ppm đến5 ± 0,37ppm điều này cũng phù hợp với kết quả
nghiên cứu của các tác giả như Nguyễn Thanh Phương và Trần Ngọc Hải (2004),
Nguyễn Việt Thắng (1995) cho rằng hàm lượng oxy tốt cho tôm từ 3 –7 mg/lít thì kết
quả thực nghiệm cho thấy hàm lượng oxy ở các ruộng nuôi hoàn toàn thỏa mãn nhu cầu
hô hấp, trao đổi chất cùng các hoạt động khác của tôm. Hàm lượng NH
4
+
ở các ruộng
nuôi thực nghiệm dao động từ 0,43 – 0,48 ppm kết quả này cho thấy hàm lượng
amonium có su hướng tăng về cuối vụ nuôi do việc sử dụng thức ăn dư thừa, quản lý
môi trường chưa tốt đồng thời vào những tháng cuối vụ thì việc thay nước khó khăn hơn
so với nuôi trong mùa lũ nhưng thấp hơn so với kết quả của Huỳnh Tấn Đạt (2009) là
trung bình 0,4 ± 0,22 ppm đến 0,8 ± 0,41ppm. Hàm lượng PO
4
3-
ppm trong các ruộng
nuôi dao động trung bình 0,13 ± 0,005 ppm, so với kết quả của Huỳnh Tấn Đạt (2009)
cao hơn 0,05 ± 0,03ppm tới 0,1± 0,06ppm và thấp hơn Ngô Bá Quốc năm 2006 nuôi
tôm trong mùa lũ thì hàm lượng lân dao động từ 0,1 ± 0,1 ppm –0,3 ± 0,2ppm, nhưng
nhìn chung thì hàm lượng lân trong nước vẫn thích hợp cho sự phát triển của tôm nuôi.
Hàm lượng COD trong các ruộng nuôi dao động từ 17,0 – 17,2 ppm so với Huỳnh Tấn
Đạt (2009) thì thấp hơn 17,7 ± 7,39 ppm –20,7 ± 10,1ppm do trong quá trình nuôi đã
chủ động được nguồn nước thay thế, chỉ tiêu này chỉ thị môi trường ở mức độ dinh
dưỡng khá theo tiêu chuẩn đánh giá chất lượng nước trong các loại hình thủy vực giàu
hay nghèo dinh dưỡng của Đặng Ngọc Thanh (1979) như sau: (1) Hàm lượng COD từ 2
–5 mg/l: Nghèo dinh dưỡng, (2) Hàm lượng COD từ 5 –10 mg/l: Dinh dưỡng trung
bình, (3) Hàm lượng COD từ 10 –20 mg/l: Dinh dưỡng khá,(4) Hàm lượng COD từ 20 –
3.2. Khảo sát sự tăng trƣởng của tôm nuôi từ 2 mô hình
Hình 4. Tăng trƣởng của tôm nuôi (g/con) qua các tháng
Theo kết quả khảo sát ở 2 ruộng nuôi cho thấy, tăng trưởng tôm nuôi dao động từ 43,1 –
56 g/con, nhìn chung tốc độ tăng trưởng tăng dần từ tháng nuôi đầu tiên đến tháng nuôi
thứ 6, tôm càng lớn tốc độ tăng trưởng càng nhanh. Từ đồ thị ta thấy rằng tôm nuôi ở
ruộng 1 có tốc độ tăng trưởng cao hơn ruộng 2 vì ruộng 1 có bổ sung thức ăn tươi sống
và gần sông lớn nên điều kiện thay nước định kỳ hoặc khi nước ao dơ sẽ chủ động hơn
tạo điều kiện môi trường tốt cho tôm phát triển mạnh. Bắt đầu từ tháng thứ 4 đến tháng
thứ 6 tôm tăng trưởng rất nhanh, do giai đoạn này chuyển tôm đực từ ao ương sang
ruộng nuôi, mật độ tôm ở ruộng nuôi thưa, nền đáy ruộng sạch, trong ruộng nuôi hoàn
toàn là tôm đực không có tôm cái để tham gia vào quá trình sinh sản nên tốc độ tăng
trưởng của tôm rất nhanh, 56 g/con ở ruộng 1 so với 49,2 g/con ở ruộng 2 lúc thu hoạch.
Tuy nhiên khối lượng tôm nuôi ở hai ruộng này điều cao hơn so với các nghiên cứu
trước đây của Lê Quốc Việt (2005), thực hiện tại các ruộng lúa ở tỉnh Vĩnh Long đạt
khối lượng dao động từ 32 – 38 g/con và kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thanh Phương
và ctv (2002), tôm nuôi trong ruộng lúa sau 6 tháng đạt khối lượng trung bình 21,5 –
31,8 g/con nhưng kết quả này khá phù hợp với nghiên cứu của Trần Tấn Huy và ctv
(2004), tôm nuôi trong ruộng lúa ở mùa lũ đạt khối lượng trung bình 47,9 – 67,1 g/con,
và cao hơn đề tài thực nghiệm nuôi tôm càng xanh trên nền đất lúa vào mùa khô tại
8
huyện Tam Nông tỉnh Đồng Tháp của Huỳnh Tấn Đạt (2009) khối lượng tôm trung bình
là 44,53-49,83g.
Bảng 3.3 Tốc độ tăng trƣởng trung bình trên tháng và ngày
Ruộng nuôi
Ruộng 1
Ruộng2
Thời gian nuôi
W(g)
28,3±8,8
30,2±15
DWG (g/ngày)
0,5
0,44
150 ngày
W(g)
51,5±15,2
43,1±11,8
DWG (g/ngày)
0,77
0,43
180 ngày
W(g)
56±17,6
49,2±15,2
DWG (g/ngày)
0,15
0,2
Kết quả thực nghiệm cũng cho thấy trọng lượng tôm nuôi khi thu hoạch ở 2 ruộng dao
động trung bình từ 49,2g -56 g/con, trong đó thấp nhất là ở ruộng 2, và cao nhất là ở
ruộng 1. Nhìn chung thì tốc độ tăng trưởng trên ngày từ tháng đầu tăng dần về sao do có
sự tuyển lựa sang thưa và so với kết quả của Huỳnh Tấn Đạt (2009), cao hơn qua các
tháng cụ thể là tháng cuối tốc độ tăng trưởng điều cao hơn như: 49,2 -56g/con so với
44,53- 49,83g/con. So với kết quả thực nghiệm của Ngô Bá Quốc năm 2006 nuôi tôm
vào mùa lũ thì trọng lượng của tôm cao hơn so với nuôi tôm vào mùa nghịch. Qua đó
khô thì cần phải đảm bảo điều kiện môi trường tốt cho tôm, và cần phải bổi sung thức
ăn tươi sống cho tôm để tôm phát triển mạnh, đồng điều thể hiện qua thu tôm loại 1 của
ruộng 1 cao và có chất lượng cao, khối lượng từng cá thể tôm lớn và đều cỡ hơn nên
bán được giá cao hơn so với ruộng 2, nhưng so với kết quả của Huỳnh Tấn Đạt (2009),
vẫn cao hơn tôm loại 1 đạt 43-54% so với 20- 30%, sự khác biệt này là do có tuyển lựa
tôm đực đồng đều về kích cỡ sang ra ruộng nuôi với mật độ (3 con tôm đực/m
2
) nên
tôm phát triển rất nhanh hơn khi không tuyển lựa tôm đực.
3.4. Tỷ lệ sống và năng suất
Bảng 3.3. Tỷ lệ sống, năng suất của tôm nuôi trong các ruộng
Ruộng
Tỷ lệ sống (%)
Năng suất (Kg/ha)
Ruộng 1
36
1.112
Ruộng 2
32
935
Trung bình
34 ± 2
1.032,5 ± 79,5
Trong quá trình nuôi, kết quả phân tích thu được qua bảng 3.3 cho thấy tỷ lệ sống của
tôm nuôi ở ruộng 1 đạt 36%,ruộng 2 đạt 32%. Ruộng 2 có tỷ lệ sống thấp hơn ruộng 1
là do khi cấp nước vào ao không qua kiểm tra nước có dư lượng thuốc trừ sâu làm cho
tôm không thể lột xát và cứng vỏ dẫn đến chết nhưng qua sử lý YUCCA, EDTA và vôi
thì tôm phát triển bình thường lại. Trung bình tỷ lệ sống của 2 ruộng nuôi là 34 ± 2.
10
ăn tươi sống do đó tôm nuôi tăng trưởng nhanh và phát triển tốt.
3.5. Phân tích hiệu quả lợi nhuận từ mô hình
Bảng 3.4 Bảng phân tích lợi nhuận từ 2 ruộng
Ruộng
Tổng chi
(triệu đồng/ha)
Tổng thu
(triệu đồng/ha)
Lợi nhuận (triệu
đồng/ha)
Tỷ suất lợi
nhuận (%)
Ruộng 1
156.275.000
238.412.800
82.137.800
52,6
Ruộng 2
153.325.000
183.634.000
30.309.000
19,8
Kết quả phân tích hiệu quả kinh tế lợi nhuận của 2 ruộng nuôi tôm cho thấy 2 hộ nuôi
đều thu được lợi nhuận khá cao như ruộng 2: 30.309.000/ha và ruộng 1: 82.137.800/ha.
Trong đó, tỉ suất lợi nhuận bình quân ruộng 1 đạt 52,6 %, tỉ suất lợi nhuận ruộng 2 đạt
19,8%. Nếu tính hiệu quả của 2 ruộng nuôi tôm thì lợi nhuận của cả 2 hộ tham gia nuôi
đều đạt khá cao như kết quả được trình bài.
Mặc dù năng suất thu được từ 2 ruộng nuôi là khác biệt không lớn nhưng hiệu quả từ 2
ruộng nuôi có sự khác biệt rất lớn là do ở ruộng 1 thường xuyên thay nước, cung cấp
thức ăn tươi sống đầy đủ nên tôm phát triển nhanh và đồng điều thể hiện qua kết quả thu
tôm một vụ lúa trong năm, tăng năng suất, sản lượng và tăng thu nhập cho người nuôi
trên cùng diện tích canh tác trên năm. Góp phần xây dựng quy trình nuôi tôm càng xanh
luân canh trên ruộng lúa vào mùa khô.
5. ĐỀ XUẤT
(1)Trong hệ thống nuôi cần có ao lắng để xử lý nước trước khi cấp vào ao, hoặc trước
khi cấp nước cần phải thử tôm trước khi cấp 1 ngày bằng cách cho khoảng 5- 10 con
tôm vào gièo xuống sông sau thời gian ngày đêm mà tôm khỏe bình thường thì cấp vào,
còn nếu thấy tôm chết thì không nên cấp vào. (2) Hệ thống nuôi phải gần sông lớn để có
thể dể dàng chủ động nước khi thấy ao có hiện tượng nhiễm bẩn.
CẢM TẠ
Trước tiên xin chân thành cảm ơn Ban Giám Hiệu, Khoa Thủy Sản và Bộ Môn Nước
Ngọt, Trường Đại Học Cần Thơ đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và nhiệt tình giúp đỡ
cho em trong suốt thời gian học tập tại trường.
Xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy Dương Nhựt Long và thầy Trần Văn Hận cùng
các thầy cô trong Khoa Thủy Sản đã tận tình chỉ bảo, giúp đỡ em trong suốt quá trình
học tập cũng như thực hiện và hoàn thành tốt luận văn tốt nghiệp.
12
Xin gửi lời cảm ơn đến các cô các chú là các hộ nuôi tôm huyện Thoại Sơn tỉnh An
Giang đã nhiệt tình hỗ trợ, giúp đỡ và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho em thực hiện và
hoàn thành tốt đề tài này.
Một lần nữa xin chân thành cảm ơn các quí thầy cô, bạn bè, gia đình và những người
thân yêu nhất của em cùng những người đã cùng em chia xẻ những thuận lợi và khó
khăn trong suốt quá trình học tập. Và tất cả những điều đó đã giúp cho em hoàn thiện
hơn trong học tập cũng như trong cuộc sống và đã giúp cho em có được sự thành công
như ngày hôm nay.
Xin thành thật biết ơn!
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Boyd, 1990. Water quality in pond for aquaculture. Agriculture Experiment Station, Auburn
University.
14. Nguyễn Việt Thắng. 1995. Kỹ thuật nuôi tôm càng xanh. NXB Nông nghiệp Thành phố Hồ Chí
Minh
15. Trần Tấn Huy, Tạ Văn Phương và Dương Thị Hoàng Oanh, 2004. Thực nghiệm nuôi tôm càng xanh
theo mô hình tôm lúa ở Thoại Sơn, An Gian, Tạp chí khoa học Đại học Cần Thơ chuyên ngành thủy sản,
nhà xuất bản Nông Nghiệp, 230 – 239 pp.
16. Trần Thanh Hải, 2004. Xây dựng mô hình nuôi tôm luân canh trong ruộng lúa tại huyện Ô - Môn, Tp
Cần Thơ. Báo cáo đề tài Sở Khoa học Cần Thơ. 54 pp.
17. Trần Thanh Hải, 2007. Ảnh hưởng của mật độ đến tăng trưởng và năng suất của tôm càng xanh
(Macrobrachium rosenbergii) Nuôi luân canh trên ruộng lúa tại TP Cần Thơ. Luận văn thạc sĩ chuyên
ngành Nuôi trồng thuỷ sản, Khoa Thuỷ sản - Trường Đại học Cần Thơ.
18. Trần Văn Hận, 2012. Xây dựng mô hình sản xuất thử nghiệm tôm càng xanh trong ruộng lúa nâng
cao năng suất và lợi nhuận ở huyện Thoại Sơn tỉnh An Giang. Báo cáo Dự án 111 trang.
19. Trần Văn Hận, Dương Nhựt Long và Lam Mỹ Lan “ thử nghiệm nuôi tôm càng xanh luân canh trong
ruộng lúa nâng cao năng suất và lợi nhuận ở huyện Thoại Sơn tỉnh An Giang” tạp chí khoa học Khoa
Thuỷ Sản- Trường Đại Học Cần Thơ.
20. TT Khuyến Nông – Khuyến Ngư An Giang, 2011. Báo cáo tình hình nuôi tôm càng xanh trên ruộng
lúa năm 2011.
21. UBND xã Phú Thuận, 2012. Báo cáo định kỳ sản xuất Nông nghiệp năm 2012.
22. Vũ Thế Trụ. 1994.Cải tiến kỹ thuật nuôi tôm tại Việt Nam. NXB Nông Nghiệp