TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH DOANH VÀ CÔNG NGHỆ HÀ NỘI
Tiểu luận về phương pháp
luận
Từ tồn tại xã hội phân tích những nguyên nhân
dẫn tới biến đổi khí hậu và ảnh hưởng của nó tới
kinh tế Việt Nam
Sinh viên : Trần Minh Quang
Lớp :KT18-40
Mã sv :13106500
Giáo viên hướng dẫn : Th.S Trần Thị Thu Giang
[Pick the date]
Hà Nội ngày 24/03/2014
PHẦN MỞ ĐẦU
Thế giới đang bước vào những năm đầu của thập niên thứ hai của thế kỷ XXI, đồng nghĩa với
việc Trái Đất đang chuyển sang thời kỳ gian băng, nhiệt độ Trái Đất nhìn chung tăng làm cho
Trái Đất đang nóng dần lên. Đó gọi là sự biến dổi khí hậu có quy mô toàn cầu. Việt Nam là một
quốc gia nhỏ bé nằm ở đông nam của châu Á nên cũng không tránh khỏi những ảnh hưởng của
biến đổi khí hậu toàn cầu.
Với nhịp sống đô thị ngày càng phát triển sôi động, những hoạt động của con người cũng đã
phần nào góp phần đẩy nhanh quá trình biến đổi khí hậu của Trái Đất và ảnh hưởng không nhỏ
đến các tài nguyên và môi trường, trong đó có môi trường nước. „Ô nhiễm môi trường” tự bao
giờ đã trở thành một thuật ngữ quen thuộc đối với con người, song không phải ai trong chúng ta
đều nhận thức hết được thực trạng cũng như hậu quả của nó. Sự vận mình của ô nhiễm môi
trường diễn ra hết sức phức tạp và ngày càng nguy hiểm đến bất ngờ.
Môi trường nước đang ngày càng ô nhiễm trầm trọng. Nước là tài nguyên quan trọng không thể
thiếu trong đời sống cũng như sự tồn tại của con người và sinh vật. Ảnh hưởng của biến đổi khí
hậu toàn cầu và những tác động của con người là nguyên nhân chính làm nguồn tài nguyên nước
của chúng ta dần bị thay đổi chất lượng và số lượng nước sạch.
Và một trong những biến đổi nguy hiểm nhất đặt ra của hiện tượng ô nhiễm môi trường đó là vấn
đề biến đổi khí hậu toàn cầu.Bài báo cáo của tôi sẽ tập trung nghiên cứu về vấn đề biến đổi khí
hậu toàn cầu như là một ví dụ điển hình cho vấn đề ô nhiễm môi trường sống hiện nay và tập
khí hậu. Công ước chung của Liên Hợp Quốc về biến đổi khí hậu đã định nghĩa: ‘’biến đổi khí
hậu là những ảnh hưởng có hại của biến đổi khí hậu, là những biến đổi trong môi trường vật lý
hoặc sinh học gây ra những ảnh hưởng có hại đáng kể đến thành phần, khẳ năng phục hồi hoặc
sinh sản của các hệ sinh thái tự nhiên và được quản lý hoặc đến hoạt động của các hệ thống KT-
XH hoặc đến sức khỏe và phúc lợi của con người’’.
PHẦN 2 : một số nguyên nhân dẫn đến biến đổi khí h ậu bao gồm nguyên nhân trực tiếp và
sâu xa,chủ y ếu là những nguyên nhân do hoạt động của con người gây ra.
1. Nguyên nhân do tự nhiên
Nguyên nhân gây ra BĐKH do tự nhiên bao gồm thay đổi cường độ sáng của Mặt trời, xuất hiện
các điểm đen Mặt trời (Sunspots), các hoạt động núi lửa, thay đổi đại dương, thay đổi quỹ đạo
quay của trái đất.
Số Sunspots xuất hiện trung bình năm từ năm 1610 đến 2000. Với sự xuất hiện các Sunspots làm
cho cường độ tia bức xạ mặt trời chiếu xuống trái đất thay đổi, nghĩa là năng lượng chiếu xuống
mặt đất thay đổi làm thay đổi nhiệt độ bề mặt trái đất (Nguồn: NASA).
Sự thay đổi cường độ sáng của Mặt trời cũng gây ra sự thay đổi năng lượng chiếu xuống mặt đất
thay đổi làm thay đổi nhiệt độ bề mặt trái đất. Cụ thể là từ khi tạo thành Mặt trời đến nay gần 4,5
tỷ năm cường độ sáng của Mặt trời đã tăng lên hơn 30%. Như vậy có thể thấy khoảng thời gian
khá dài như vậy thì sự thay đổi cường độ sáng mặt trời là không ảnh hưởng đáng kể đến BĐKH.
Núi lửa phun trào - Khi một ngọn núi lửa phun trào sẽ phát thải vào khí quyển một lượng cực kỳ
lớn khối lượng sulfur dioxide (SO2), hơi nước, bụi và tro vào bầu khí quyển. Khối lượng lớn khí
và tro có thể ảnh hưởng đến khí hậu trong nhiều năm. Các hạt nhỏ được gọi là các sol khí được
phun ra bởi núi lửa, các sol khí phản chiếu lại bức xạ (năng lượng) mặt trời trở lại vào không
gian vì vậy chúng có tác dụng làm giảm nhiệt độ lớp bề mặt trái đất.
Đại dương ngày nay - Các đại dương là một thành phần chính của hệ thống khí hậu. Dòng hải
lưu di chuyển một lượng lớn nhiệt trên khắp hành tinh. Thay đổi trong lưu thông đại dương có
thể ảnh hưởng đến khí hậu thông qua sự chuyển động của CO2 vào trong khí quyển.
tải, xây dựng… đóng góp khoảng một nửa (46%) vào sự nóng lên toàn cầu, phá rừng nhiệt đới
đóng góp khoảng 18%, sản xuất nông nghiệp khoảng 9% các ngành sản xuất hóa chất (CFC,
HCFC) khoảng 24%, còn lại (3%) là từ các hoạt động khác.
Từ năm 1840 đến 2004, tổng lượng phát thải khí CO2 của các nước giàu chiếm tới 70% tổng
lượng phát thải khí CO2 toàn cầu, trong đó ở Hoa Kỳ và Anh trung bình mỗi người dân phát thải
1.100 tấn, gấp khoảng 17 lần ở Trung Quốc và 48 lần ở Ấn Độ.
Riêng năm 2004, lượng phát thải khí CO2 của Hoa Kỳ là 6 tỷ tấn, bằng khoảng 20% tổng lượng
phát thải khí CO2 toàn cầu. Trung Quốc là nước phát thải lớn thứ 2 với 5 tỷ tấn CO2, tiếp theo là
Liên bang Nga 1,5 tỷ tấn, Ấn Độ 1,3 tỷ tấn, Nhật Bản 1,2 tỷ tấn, CHLB Đức 800 triệu tấn,
Canada 600 triệu tấn, Vương quốc Anh 580 triệu tấn. Các nước đang phát triển phát thải tổng
cộng 12 tỷ tấn CO2, chiếm 42% tổng lượng phát thải toàn cầu so với 7 tỷ tấn năm 1990 (29%
tổng lượng phát thải toàn cầu), cho thấy tốc độ phát thải khí CO2 của các nước này tăng khá
nhanh trong khoảng 15 năm qua. Một số nước phát triển dựa vào đó để yêu cầu các nước đang
phát triển cũng phải cam kết theo Công ước Biến đổi khí hậu.
Năm 1990, Việt Nam phát thải 21,4 triệu tấn CO2. Năm 2004, phát thải 98,6 triệu tấn CO2, tăng
gần 5 lần, bình quân đầu người 1,2 tấn/năm (trung bình của thế giới là 4,5 tấn/năm, Singapo 12,4
tấn, Malaysia 7,5 tấn, Thái Lan 4,2 tấn, Trung Quốc 3,8 tấn, Inđônêxia 1,7 tấn, Philippin 1,0 tấn,
Myanma 0,2 tấn, Lào 0,2 tấn).
Như vậy, phát thải các khí CO2 của Việt Nam tăng khá nhanh trong 15 năm qua, song vẫn ở mức
thấp so với trung bình toàn cầu và nhiều nước trong khu vực. Dự tính tổng lượng phát thải các
khí nhà kính của Việt Nam sẽ đạt 233,3 triệu tấn CO2 tương đương vào năm 2020, tăng 93% so
với năm 1998.
Tuy nhiên, điều đáng lưu ý là trong khi các nước giàu chỉ chiếm 15% dân số thế giới, nhưng tổng
lượng phát thải của họ chiếm 45% tổng lượng phát thải toàn cầu; các nước châu Phi và cận
Sahara với 11% dân số thế giới chỉ phát thải 2%, và các nước kém phát triển với 1/3 dân số thế
giới chỉ phát thải 7% tổng lượng phát thải toàn cầu. Đó là điều mà các nước đang phát triển nêu
ra về bình đẳng và nhân quyền tại các cuộc thương lượng về Công ước khí hậu và Nghị định thư
Kyoto.
Chính vì thế, một nguyên tắc cơ bản, đầu tiên được ghi trong Công ước Khung của Liên hợp
quốc về BĐKH là: “Các bên phải bảo vệ hệ thống khí hậu vì lợi ích của các thế hệ hôm nay và
lưu do sản xuất và phát thải các hóa chất và sự thay đổi trong hoạt động của mặt trời trong thời
kỳ từ năm 1750 đến nay được xác định là tạo ra hiệu ứng dương đối với tổng lượng bức xạ
cưỡng bức lần lượt là 0,35 và 0,12W/m2. Như vậy, tác động tổng cộng của các nhân tố khác,
ngoài khí nhà kính, đã tạo ra lượng bức xạ cưỡng bức âm. Vì thế, trên thực tế, sự tăng lên của
nhiệt độ trung bình toàn cầu quan trắc được trong thời gian qua đã bị triệt tiêu một phần, nói
cách khác, sự tăng lên của riêng hàm lượng khí nhà kính nhân tạo trong khí quyển làm trái đất
nóng lên nhiều hơn so với những gì đã quan trắc được, và điều đó càng khẳng định sự biến đổi
khí hậu hiện nay là do các hoạt động của con người chứ không phải do quá trình tự nhiên.
b. Suy giảm diện tích rừng
Rừng phân bố không đồng đều trên các châu lục về diện tích cũng như thể loại.
Khoảng 29% diện tích lục địa có rừng che phủ. Người ta ước tính rừng chiếm
20-45% diện tích đất trên hành tinh. Theo thống kê của FAO (1958) thì trên trái đất có 44,05
triệu km2 rừng, khoảng 33% diện tích đất liền. Theo Hougton (1983) thì 15% rừng trên thế giới
đã bị biến mất trong khoảng thời gian từ năm 1950 – 1980. Rừng trên thế giới đã giảm đi 70 triệu
ha (gần 2%) trong khoảng từ 1980 – 1990. Riêng ở vùng Đông Nam Á trong thời gian từ 1980-
1990 diện tích rừng giảm khá nhanh. Như ở Indonexia rừng giảm đi 1212 nghìn ha, Thái lan là
515 nghìn ha, Malaysia là 396 nghìn ha, Ấn Độ 339 nghìn ha, Philipin 316 nghìn ha, Lào 129
nghìn ha và Việt Na Việc phá rừng ở vùng nhiệt đới, bắt đầu diễn ra mạnh mẽ từ thế kỷ 18 và 19
do việc mở rộng diện tích trồng cây nông nghiệp và cây công nghiệp, đặc biệt là từ năm 1945.
Theo FAO thì khoảng 50% rừng nhiệt đới bị phá hủy từ năm 1950.
Nhiều nhất là ở Trung Mỹ ( 66% ), tiếp đến là Trung Phi (52%), Nam phi và Đông Nam Á là
37% và 38%. Vào những năm đầu của thập kỷ 80 tốc độ mất rừng nhiệt đới là 113.000
km2/năm. Tốc độ mất rừng trong những năm gần đây càng ra tăng mạnh mẽ hơn. Người ta ước
tính có 40% rừng còn lại sẽ bị phá hủy nghiêm trọng vào năm 2020. Rừng đang bị suy thoái mà
nguyên nhân chủ yếu là do con người. Cùng với sự phát triển của nhân loại và sự gia tăng dân số
trên thế giới, rừng ngày càng bị thu hẹp do con người phá hoại rừng để khai thác nguyên liệu
phục vụ sản xuất, mở rộng đất nông nghiệp, xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ đô thị hoá. Khai
thác chặt phá rừng bừa bãi, chăn thả quá mức, đốt nương làm rẫy lặp đi lặp lại liên tục không chỉ
làm thay đổi loài cây gỗ mà còn dẫn đến làm phá hủy các hợp phần khác nhau của hệ sinh thái
rừng như đất, thảm cỏ, chế độ nước và kết quả cuối cùng là rừng bị phá hủy làm giảm sự hấp thụ
trạng biến đổi khí hậu toàn cầu.
- Khoảng cách giầu nghèo gia tăng do giá lương thực bị đẩy lên cao các nước nghèo chịu ảnh
hưởng của biến đổi khí hậu sớm nhất.
=) ảnh hưởng đến môi trường tự nhiên
- Giảm đa dạng sinh học: nhiệt độ trái đất tăng cao
-) phá vỡ hệ thống khí hậu gây ra những thay đổi về nhiệt độ và lượng mưa trong các khu vực
-) đe dọa đa dạng sinh học, số lượng loài và đa dạng nguồn gen.
Những thay đổi trong chu kì sống ( thời điểm sinh sản) do mùa xuân đến sớm: nhiệt độ mùa xuân
tăng cao ảnh hưởng đến thời điểm đâm trồi của cây cối, lột xác của côn trùng, thời điểm kết bạn
của động vật, thời gian làm tổ và nguồn thức ăn để nuôi con
- Thay đổi phân bố trên diện rộng của chim, bướm, cáo dịch chuyển vùng phân bố lên phía bắc
- Thay đổi phân bố theo độ cao
- Gấu bắc cực và chim cánh cụt: hiện tượng Êm lên toàn cầu ảnh hưởng rõ rệt ở hai vùng cực
( tốc độ tan chảy của các núi băng ở Nam cực, Bắc cực âm lên 2 lần so với các nơi khác )
- thay đổi về sự phân bố và đọ phong phú của các động vật biến va HST vùng cực o Chim cánh
cụt đã giảm số lượng o Gấu bắc cực đứng trước ngy cơ: thiếu thức ăn, giảm trọng lương cơ thể,
khả năng sinh sản ngày càng hạn chế o Các loài lưỡng cư giảm đi với tốc độ chưa từng có o Cá
voi, cá khan hiếm nguồn thức ăn
- sự thay đổi trong sinh sản của các sinh vật phù du do nước biển Êm lên. o Bệnh dịch và các
loài gây hai tăng nhanhdo khí hậu Êm lên đẩy mạnh quá trình phát triển và phát tán của mầm
bệnh, giảm thời gian ngủ đông trong chu kì hoạt động của mầm bệnh và thay đổi khả năng nhiễm
bệnh. o Rùa có nguy cơ tuyệt chủng do hiện tượng thay đỏi giới tính phụ thuộc vào nhiệt độ. Nếu
nhiệt độ tăng cao, số lượng con cái sẽ tăng nhanh trong khi sè con đực giảm
-) mất cân bằng về số lượng rùa cái và rùa được
-) tuyệt chủng o San hô chết: do mất đi loài cộng sinh ( tảo biển bị tách rời khỏi san hô khi nồng
độ muối, dịch bệnh vor nhieetj độ bề mặt đại dương tăng ), do nước biển dâng ( hiện tượng tượng
tẩy trắng san hô ) o Lượng mưa phân bố không đều
-) thảm thực vật sẽ thay đổi theo
-) ảnh hưởng đến động vật có liên quan và nguy cơ tuyệt chủng cục bộ.
=) ảnh hưởng đến nền kinh tế thế giới:
Theo đánh giá của các tổ chức khoa học quốc tê, Việt Nam la 1 trong 5 nước trên thế giới bị ảnh
hưởng nghiêm trọng của biến đổi khí hậu và nước biển dâng, trong dó vùng đồng bằng sông
Hồng và đồng bằng sông Cửu Long sẽ bị ngập chìm nặng nhất. Theo cảnh báo của ủy ban Liên
Chính Phủ về BĐKH đến năm 2100, nếu mực nước biển dâng cao 1m sẽ ảnh hưởng đến 5% đất
đai của VN, 10% dân số, tác động 7% sản xuất nông nghiệp, giảm 10% GDP, riêng năng xuất
kinh tế biển sẽ suy giảm 1/3.
Ảnh hưởng :
Biến đổi khí hậu lam cho lượng mưa biến đổi không nhất quán, có nơi tăng, nơi giảm.
o ở Hà Nội và thành phố HCM, lượng mưa từ năm 1940 về trước cao hơn trung bình nhiều năm.
o ở các tỉnh Nam Trung Bộ, lượng mưa có xu thế giảm, tình trạng khô hạn tăng lên.
o Lượng mưa lớn nhất trong 24h cũng tăng lên trong những thập kỉ gần đây.
- Những đợt rét kéo dài làm chết hàng ngàn gia sóc
- Những trận lụt ngày càng dữ dội, liên tiếp xảy ra ở khu vực phía Bắc và Miền Trung.
- Hiện tượng triều cường ở Thanh phè HCM ngày càng nghiêm trọng và diễn biến phức tạp
- Hiện tượng nhiêm mặn vùng cửa sông diễn ra với tốc độ nhanh đặc biệt ở đồng bắng sông Cửu
Long
- Mùa khô ở Tây Nguyên và ác tỉnh miền Trung ngày càng Sâu Sắc
. - Các đợt bão thất thường đổ bộ vào khu vực phía Nam gây thiệt hại lớn về người và của.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
- Báo mạng ‘Dân trí.com’
- Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin
CAM KẾT CỦA SINH VIÊN
- Khẳng định tiểu luận này là do chính bản thân tìm kiếm tài liệu, suy nghĩ và tự viết ra
- Không sao chép toàn bộ một nguồn tài liệu khác, không nhờ người khác viết hộ,làm hộ
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU……………………………………………………………………….1
PHẦN NỘI DUNG…………………………………………………………………… 2
PHẦN 1 : Phân tích,định nghĩa tồn tại xã hội là gì?Biến đổi khí hậu là gì ? 2
1.Khái niệm về tồn tại xã hội ……………………………………………………………2
2.Khái niệm về biến đổi khí hậu toàn cầu ……………………………………………… 2