Việc tiếp nhận các nguyên tắc quản trị công ty của OECD trong pháp luật quản trị công ty niêm yết của việt nam - Pdf 30


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT VÕ THỊ HÀ LINH

VIỆC TIẾP NHẬN CÁC NGUYÊN TẮC
QUẢN TRỊ CÔNG TY CỦA OECD TRONG PHÁP
LUẬT QUẢN TRỊ CÔNG TY NIÊM YẾT
CỦA VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Hà nội – 2015
[
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT



Tác giả luận văn
Võ Thị Hà Linh MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1.Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu 1
2. Tình hình nghiên cứu đề tài 2
3. Mục tiêu và phạm vi nghiên cứu của đề tài 3
4. Phƣơng pháp nghiên cứu 3
5. Tính mới của đề tài 4
6. Kết cấu của luận văn 4
CHƢƠNG 1 - NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ QUẢN TRỊ CÔNG TY NIÊM YẾT
VÀ CÁC NGUYÊN TẮC QUẢN TRỊ CÔNG TY CỦA OECD 5
1.1. Khái niệm, vai trò của QTCT niêm yết 5
1.1.1. Khái niệm QTCT 5
1.1.2. Vai trò của quản trị công ty hiệu quả 9
1.2. Khái niệm, đặc điểm của công ty niêm yết 10
1.3. Các nguyên tắc quản trị công ty của OECD 12
1.3.1. Đảm bảo cơ sở cho một khuôn khổ QTCT hiệu quả 13
1.3.2. Quyền của cổ đông và các chức năng sở hữu cơ bản 16
1.3.3. Đối xử bình đẳng với cổ đông 18
1.3.4. Vai trò của các bên có quyền lợi liên quan trong QTCT 19
1.3.5. Công bố thông tin và tính minh bạch 20
1.3.6. Trách nhiệm của Hội đồng quản trị 22

2.4. Về minh bạch và công bố thông tin 67
2.4.1. Các thông tin phải công bố và tiêu chuẩn công bố 68
2.4.2. Về phương tiện công bố thông tin và việc đảm bảo quyền tiếp cận thông tin
bình đẳng cho các đối tượng sử dụng 72
2.4.3. Kiểm toán hàng năm và trách nhiệm của đơn vị kiểm toán 72
2.4.4. Về việc thúc đẩy sự phát triển của các dịch vụ phân tích, tư vấn do các tổ
chức phân tích, môi giới chứng khoán, định mức tín nhiệm… cung cấp 74
2.5. Về Hội đồng quản trị 76
2.5.1. Về trách nhiệm của HĐQT 77 2.5.2. Các chức năng chủ yếu của HĐQT 78
2.5.3. Về tính độc lập, khách quan của HĐQT 80
2.5.4. Về quyền tiếp cận thông tin của thành viên HĐQT 83
2.6. Về khuôn khổ quản trị công ty 86
2.6.1. Khuôn khổ pháp lý 86
2.6.2. Hệ thống cơ quan quản lý 90
CHƢƠNG 3 – CÁC GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ QUẢN TRỊ
CÔNG TY NIÊM YẾT TẠI VIỆT NAM 94
3.1. Các giải pháp pháp lý 94
3.1.1. Tiếp tục hoàn thiện các quy định pháp lý nhằm đảm bảo sự bình đẳng giữa
các cổ đông và bảo vệ các quyền, lợi ích chính đáng của cổ đông 95
3.1.2. Quy định cụ thể hơn, đầy đủ hơn về vai trò của bên có quyền lợi liên quan
trong quản trị công ty 96
3.1.3. Tiếp tục nâng cao các quy định về trách nhiệm của công ty niêm yết trong
việc đảm bảo công khai, minh bạch thông tin 97
3.1.4. Làm rõ vai trò của thành viên HĐQT độc lập 98
3.1.5. Bổ sung các quy định nhằm nâng cao vai trò của Ban kiểm soát 99
3.1.6. Nâng cao vai trò của cơ quan quản lý nhà nước trong lĩnh vực QTCT 100
3.1.7. Xây dựng khung pháp lý đối với các tổ chức định mức tín nhiệm 102


2

DANH MỤC CÁC BẢNG
- Bảng 2.1: Tình hình tuân thủ nguyên tắc Quyền cổ đông của 100 doanh
nghiệp niêm yết
- Bảng 2.2: Tình hình tuân thủ nguyên tắc Đối xử bình đẳng với cổ đông của 100
doanh nghiệp niêm yết
- Bảng 2.3: Tình hình tuân thủ nguyên tắc Vai trò của các bên liên quan của 100
doanh nghiệp niêm yết
- Bảng 2.4: Tình hình tuân thủ nguyên tắc Minh bạch và công bố thông tin của
100 doanh nghiệp niêm yết
- Bảng 2.5: Tình hình tuân thủ nguyên tắc Trách nhiệm của HĐQT của 100
doanh nghiệp niêm yết


nhân của tình trạng này là do nhận thức của doanh nghiệp về QTCT vẫn còn thấp dẫn
tới sự tuân thủ một cách đối phó; cùng với đó là các quy định pháp lý chưa đủ sức răn

2

đe, thiếu các quy định chặt chẽ, rõ ràng về quyền hạn và trách nhiệm của các cơ quan
trong hệ thống QTCT…
Trong khi đó, được ban hành từ năm 1999, các nguyên tắc QTCT của OECD đã
và đang trở thành một thông lệ được chấp thuận rộng rãi trên thế giới như một tài liệu
tham khảo, một khuôn khổ chuẩn mực về QTCT.
Xuất phát từ thực tiễn nói trên, người viết đã chọn đề tài “Việc tiếp nhận các
nguyên tắc QTCT của OECD trong pháp luật QTCT niêm yết của Việt Nam” để
làm luận văn thạc sĩ luật học của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
QTCT đã được cộng đồng tài chính quốc tế công nhận là một trong 12 tiêu chuẩn
cơ bản tốt nhất trong thực tiễn. Chương trình “Báo cáo về tình hình tuân thủ các tiêu
chuẩn và chuẩn mực (ROSC)” của Ngân hàng Thế giới và Quỹ Tiền tệ Quốc tế thậm
chí đã dựa trên các nguyên tắc về QTCT của Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế
(OECD) để xác định những yếu kém có thể dẫn đến khả năng dễ bị tổn thương về kinh
tế và tài chính của một quốc gia. Tại Việt Nam, cũng đã có nhiều nhiều công trình
nghiên cứu về tình hình quản trị công ty tại các doanh nghiệp Việt Nam, như:
- Báo cáo đánh giá tình hình quản trị công ty của Việt Nam của Ngân hàng thế
giới World Bank năm 2006;
- Cẩm nang quản trị công ty do Tổ chức tài chính quốc tế (IFC) phối hợp với
UBCKNN phát hành năm 2010;
- Và một số chuyên đề nghiên cứu, luận văn thạc sĩ nghiên cứu về pháp luật
quản trị công ty tại Việt Nam như:
+ Nâng cao hiệu quả quản trị công ty trong các công ty cổ phần ở Việt Nam-
Nguyễn Trần Đan Thư- Luận văn thạc sỹ kinh tế (2009);
+ Một số vấn đề về mô hình quản trị công ty trên thế giới và Việt Nam- Bùi Xuân

nghiên cứu sang các văn bản luật có liên quan khác như pháp luật về lao động, pháp
luật môi trường, pháp luật về bảo vệ người tiêu dùng hay pháp luật về phá sản.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Để thực hiện mục tiêu nghiên cứu nói trên, luận văn đã sử dụng tổng hợp các
phương pháp nghiên cứu sau:
* Phƣơng pháp phân tích các nguyên tắc QTCT của OECD và các quy định
pháp luật của Việt Nam về quản trị công ty niêm yết. Trong đó đặc biệt tập trung vào

4

các quy định của Luật Doanh nghiệp, Luật Chứng khoán, Thông tư 121/2012/TT-BTC
quy định về quản trị công ty áp dụng cho các công ty đại chúng và các văn bản khác có
liên quan.
* Phƣơng pháp đối chiếu pháp luật khi đối chiếu các quy định pháp luật của
Việt Nam với các nguyên tắc QTCT của OECD và các quy định của một số quốc gia
trên thế giới.
* Phƣơng pháp phân tích các tình huống thực tế (Case Study) cũng được sử
dụng như một phương pháp nghiên cứu khi đánh giá tình hình thực hiện các quy định
về QTCT của các công ty niêm yết.
Ngoài ra, người viết cũng sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học phổ
biến như phương pháp tổng hợp; phương pháp phân tích, đánh giá; phương pháp hệ
thống; phương pháp so sánh để làm rõ các vấn đề được đưa ra trong quá trình triển
khai đề tài.
5. Tính mới của đề tài
Mặc dù tiếp tục đi vào nghiên cứu về lĩnh vực QTCT, tuy nhiên, người viết hi
vọng rằng, với sự đầu tư thời gian, trí tuệ, kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ là một tài
liệu tham khảo góp phần làm phong phú hơn việc nghiên cứu về QTCT nói chung và
QTCT niêm yết nói riêng tại Việt Nam với một số đóng góp cụ thể như:
- Đi sâu phân tích các nguyên tắc QTCT của OECD;
- Đi sâu phân tích tổng thể các quy định pháp luật có liên quan đến QTCT niêm CHƢƠNG 1 - NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ QUẢN TRỊ CÔNG TY
NIÊM YẾT VÀ CÁC NGUYÊN TẮC QUẢN TRỊ CÔNG TY CỦA OECD
1.

1.1. Khái niệm, vai trò của QTCT niêm yết
1.1.1. Khái niệm QTCT
Ngạn ngữ Châu Phi có câu “If you want to go fast, go alone; if you want to go
far, go together” (“muốn đi nhanh, hãy đi một mình; muốn đi xa, hãy đi cùng nhau”).
Để có thể phát triển hoạt động sản xuất, mở rộng quy mô kinh doanh, thu về lợi nhuận

6

tốt nhất, thương nhân không thể “đi một mình”. Và khi “đi cùng người khác, doanh
nghiệp tất yếu phải chuyển từ “quản trị theo cảm tính” sang “quản trị theo khoa học”;
phải chuyển từ thể chế “gia đình trị” sang “cơ chế trị”. Và một trong những con đường
tối ưu cho việc chuyển đổi này là nghiên cứu và áp dụng “Corporate Governance” / CG
(Cơ chế Quản trị Công ty). Vậy CG là gì?
Hiện chưa có khái niệm chính thức, thống nhất cho CG. Có nhiều nguyên nhân
dẫn đến tình trạng này, đó là do sự khác nhau giữa nguồn gốc các thể chế pháp luật,
đặc tính văn hóa, trình độ phát triển của thị trường tài chính tại mỗi quốc gia; “đó cũng
do CG bao trùm lên một số lượng lớn các hiện tượng kinh tế khác biệt nhau, dẫn tới,
dưới những góc độ tiếp cận khác nhau, mỗi nhà nghiên cứu lại có thể đưa ra những
cách định nghĩa khác nhau về khái niệm “Corporate Governance”” [24, tr2]. Sau đây là
một số định nghĩa tiêu biểu về Corporate Governance:
“Corporate Governance là một lĩnh vực kinh tế học nghiên cứu cách thức động
viên quá trình quản trị hiệu quả của các doanh nghiệp bằng việc sử dụng các cơ cấu

* Quản trị công ty là một hệ thống các mối quan hệ, được xác định bởi các cơ
cấu và các quy trình [11, tr6]: Đó là mối quan hệ giữa chủ sở hữu với người làm công,
giữa người quản lý và người điều hành, và mối quan hệ giữa chính doanh nghiệp với xã
hội, cộng đồng. Điển hình cho mối quan hệ giữa chủ sở hữu và người làm công là mối
quan hệ giữa cổ đông và Ban Giám đốc công ty khi các cổ đông cung cấp vốn cho
doanh nghiệp (trực tiếp là Ban Giám đốc) nhằm thu về lợi nhuận; và ngược lại, Ban
Giám đốc có trách nhiệm duy trì hoạt động kinh doanh, nhằm đem về cho cổ đông
khoản lợi nhuận mong muốn. Cổ đông của công ty cũng có mối quan hệ với HĐQT,
Ban kiểm soát (BKS) khi họ bầu ra các cơ quan này nhằm đại diện cho quyền lợi của
mình, giám sát hoạt động của Ban Giám đốc. HĐQT, BKS đưa ra định hướng chiến
lược cho Ban Giám đốc và giám sát hoạt động của Ban Giám đốc; đến lượt mình,
HĐQT, BKS lại chịu trách nhiệm trước các cổ đông thông qua ĐHĐCĐ [11, tr7].
Ngoài ra, bên cạnh các mối quan hệ nội tại của doanh nghiệp, mỗi công ty lại có sự
tương tác với xã hội, cộng đồng xung quanh, đó là mối quan hệ giữa nhà sản xuất với
người tiêu dùng, giữa con nợ và chủ nợ, giữa một tổ chức với môi trường mà tại đó tổ
chức này hoạt động Các mối quan hệ này thường được thể hiện thành các quy chế,
quy trình, và tổng hòa tất cả cùng làm nên quản trị công ty.

8

* Các mối quan hệ trong công ty có thể liên quan tới các bên có lợi ích khác
nhau, thậm chí, xung đột nhau [11, tr7]: Điển hình cho sự mâu thuẫn này là mối quan
hệ giữa cổ đông và Ban Giám đốc. Có thể thấy, hai nhóm cơ bản trong QTCT là
“nhóm cung cấp tài chính và nhóm điều hành doanh nghiệp” [39]. Trong khi chủ sở
hữu lo sợ sự thất thoát tài sản, sử dụng kém hiệu quả nguồn vốn đã đầu tư, do đó, họ
luôn muốn kiểm soát các hoạt động của nhóm điều hành; về phía nhóm điều hành, sự
kiểm soát của chủ sở hữu lại làm hạn chế quyền ra quyết định của họ đối với hoạt động
hàng ngày của công ty. Sự xung đột cũng xảy ra khi nhóm điều hành sử dụng cơ hội
kinh doanh để giành lấy cho bản thân hoặc cá nhân, tổ chức khác những lợi ích lẽ ra là
của công ty.

- Thúc đẩy hoạt động và nâng cao hiệu quả kinh doanh [11, tr17];
- Nâng cao khả năng tiếp cận thị trường vốn [11, tr18];
- Giảm chi phí vốn [11, tr19];
- Nâng cao uy tín doanh nghiệp [11, tr21].
Sở dĩ IFC đánh giá cao vai trò của QTCT bởi, với các quy định khá chặt chẽ, yêu
cầu cao về chất lượng của hoạt động báo cáo, công bố thông tin, QTCT hiệu quả giúp
những người chủ doanh nghiệp nắm bắt được tình hình hoạt động của công ty một cách
kịp thời, đầy đủ, từ đó giúp cho việc đưa ra các quyết định đầu tư, kinh doanh được
chính xác, nâng cao hiệu quả hoạt động của công ty.
Mặt khác, thông tin dù tích cực hay không cũng vô cùng quan trọng trong việc
giúp các cổ đông, nhà đầu tư đưa ra quyết định kinh doanh của mình. Đặc biệt, trên thị
trường chứng khoán, thông tin được đánh giá là yếu tố quan trọng hàng đầu ảnh hưởng
đến quyết định của các nhà đầu tư. Do đó, các doanh nghiệp càng thực hiện đầy đủ,
hiệu quả hoạt động QTCT, tức là đảm bảo được sự minh bạch thông tin, càng có cơ hội
tiếp cận với thị trường vốn, đồng thời, trả lãi suất thấp hơn và có được những khoản tín
dụng có kỳ hạn dài hơn, bởi lẽ “chi phí vốn phụ thuộc vào mức độ rủi ro của công ty
theo cảm nhận của nhà đầu tư: rủi ro càng cao thì chi phí vốn càng cao” [11, tr19].
Không những thế, khi một doanh nghiệp thực hiện hệ thống QTCT có hiệu quả
với việc tuân thủ chế độ báo cáo, công bố thông tin, đảm bảo tính minh bạch trong hoạt
động tài chính, tôn trọng quyền lợi của cổ đông và các chủ nợ, sẽ dành được niềm tin,
sự tín nhiệm lớn hơn từ công chúng đầu tư, từ đó nâng cao giá trị thương hiệu. Và đến
lượt mình, niềm tin của công chúng và giá trị thương hiệu lại khiến cho xã hội tin

10

tưởng hơn vào các sản phẩm của công ty, và như thế, nâng cao doanh số kinh doanh,
gia tăng lợi nhuận.
1.2. Khái niệm, đặc điểm của công ty niêm yết
Theo quy định tại Khoản 17 Điều 6 Luật Chứng khoán, niêm yết chứng khoán là
“việc đưa các chứng khoán có đủ điều kiện vào giao dịch tại Sở Giao dịch Chứng

khoản nợ phải trả quá hạn trên 01 năm, không có lỗ lũy kế tính đến thời điểm đăng ký
niêm yết, tuân thủ các quy định của pháp luật về kế toán báo cáo tài chính (Điều 54,
Nghị định 58/2012/NĐ-CP). Như vậy, trước khi trở thành công ty niêm yết, doanh
nghiệp phải là một chủ thể kinh doanh được thành lập và hoạt động theo quy định của
Luật Doanh nghiệp. Mặt khác, pháp luật chứng khoán và thị trường chứng khoán cũng
chỉ điều chỉnh các vấn đề liên quan đến việc niêm yết, giao dịch chứng khoán, các cơ
chế bảo vệ quyền lợi của các cổ đông, nhà đầu tư trên thị trường và trong phạm vi thị
trường chứng khoán; ngoài phạm vi đó, doanh nghiệp vẫn phải tuân thủ các quy định
của Luật Doanh nghiệp với tư cách là đạo luật chung đối với các doanh nghiệp trong
nền kinh tế.
* Công ty niêm yết chịu sự quản lý của SGDCK và UBCKNN:
Khác với các doanh nghiệp khác, chịu sự quản lý của Sở Kế hoạch và Đầu tư và
cơ quan quản lý chuyên ngành (như Bộ Tài chính, Bộ Công thương…); các công ty
niêm yết còn phải chịu sự quản lý của SGDCK và UBCKNN trong việc thực hiện các
nghĩa vụ của một công ty niêm yết như: nghĩa vụ báo cáo và công bố thông tin, nghĩa
vụ đăng ký, lưu ký chứng khoán và thực hiện chế độ quản trị công ty.
* Công ty niêm yết có thể là công ty cổ phần hoặc công ty trách nhiệm hữu hạn:
Là công ty trách nhiệm hữu hạn, doanh nghiệp chỉ có thể đưa trái phiếu vào giao
dịch trên thị trường chứng khoán có tổ chức; trong khi đó, với công ty cổ phần, doanh
nghiệp có thể niêm yết tất cả các loại chứng khoán.
Công ty cổ phần là một thể chế kinh doanh được hình thành, tồn tại và phát triển
dựa trên nền tảng là sự góp vốn của các cổ đông. Trong công ty cổ phần, vốn điều lệ
của công ty được chia nhỏ thành các phần bằng nhau, gọi là cổ phần. Các cá nhân, tổ
chức sở hữu một hoặc một số cổ phần đó, gọi là cổ đông. Các cổ đông bầu ra Hội đồng
quản trị (HĐQT) để đại diện cho quyền lợi của mình và thay mặt mình quản trị các
hoạt động của công ty. Đến lượt mình, HĐQT lại bầu ra một Ban điều hành để trực tiếp

12

điều hành hoạt động kinh doanh hàng ngày của công ty, và bản thân họ sẽ chịu trách

- Đạt được sự tăng trưởng kinh tế và việc làm ổn định nhất, nâng cao
mức sống ở các quốc gia thành viên, đồng thời duy trì sự ổn định tài chính, qua
đó đóng góp cho sự phát triển kinh tế thế giới.
- Đóng góp cho sự phát triển kinh tế vững chắc ở các quốc gia thành
viên và không thành viên trong quá trình phát triển kinh tế.
- Đóng góp cho sự phát triển thương mại thế giới trên cơ sở đa
phương, không phân biệt đối xử theo các cam kết quốc tế [10, tr2].
Các nguyên tắc QTCT của OECD được chấp thuận rộng rãi trên thế giới như một
tài liệu tham khảo, khuôn khổ chuẩn mực về QTCT. Được xuất bản lần đầu năm 1999
và được chỉnh sửa vào năm 2004, bộ quy tắc này được xây dựng nhằm mục đích đưa ra
những chỉ dẫn có tính nguyên tắc trong việc xây dựng các thông lệ QTCT tốt [11, tr14].
Nhằm giúp chính phủ các nước thành viên và không phải thành viên của
OECD đánh giá và hoàn thiện khuôn khổ pháp lý, tổ chức và quản trị công ty tại
quốc gia đó, cũng như cung cấp các hướng dẫn, khuyến nghị cho thị trường chứng
khoán, nhà đầu tư, doanh nghiệp và các bên có liên quan; bộ nguyên tắc này ban
đầu được xây dựng theo lời kêu gọi của Hội nghị cấp Bộ trưởng OECD ngày 27-
28/4/1998 về việc phát triển một bộ tiêu chuẩn và hướng dẫn chung về QTCT cùng
với các chính phủ, các tổ chức quốc tế và khối tư nhân. Sau khi được ban hành, Bộ
nguyên tắc đã được Diễn đàn Ổn định Tài chính sử dụng như một trong Mười hai
tiêu chuẩn chủ chốt đối với hệ thống tài chính vững mạnh; cũng vì vậy, các nguyên
tắc QTCT của OECD đã được sử dụng làm nền tảng đánh giá cho phần QTCT của
các Báo cáo của Ngân hàng thế giới/ Quỹ tiền tệ quốc tế về Tình hình tuân thủ các
tiêu chuẩn và chuẩn mực (ROSC) [10, tr3].
Bộ nguyên tắc tập trung vào các lĩnh vực sau:
1.3.1. Đảm bảo cơ sở cho một khuôn khổ QTCT hiệu quả
Theo OECD: “Khuôn khổ quản trị công ty cần thúc đẩy tính minh bạch và hiệu
quả của thị trường, phù hợp với quy định của pháp luật, và phân định rõ ràng trách
nhiệm giữa các cơ quan giám sát, quản lý và cưỡng chế thực thi” [10, tr17].

14


15

của các bên tham gia thị trường trong việc kiểm soát và tăng cường tính minh bạch.
Đối với việc xây dựng hành lang pháp lý, nguyên tắc QTCT của OECD đòi hỏi các
quy định pháp lý về QTCT phải được xây dựng một cách phù hợp với các quy định
khác có liên quan, đảm bảo tính minh bạch, công bằng và có khả năng cưỡng chế thực
thi trên thực tế, bao gồm cả khả năng các cơ quan thi hành luật có thể phát hiện, ngăn
chặn các hành vi vi phạm cũng như “thực thi các biện pháp trừng phạt một cách hiệu
quả” [10, tr30].
Ngoài ra, do đặc thù của QTCT là tổng thể các mối quan hệ nội tại và các quan hệ
xã hội của công ty, do đó, hệ thống các quy định pháp lý về và liên quan đến QTCT có
thể được thể hiện ở nhiều văn bản khác nhau như: luật doanh nghiệp; luật chứng
khoán; luật và các tiêu chuẩn kế toán, kiểm toán; luật hợp đồng; luật phá sản và luật lao
động; cùng với đó là việc có thể xảy ra tình trạng nhiều cơ quan nhà nước đều có trách
nhiệm quản lý đối với doanh nghiệp trong lĩnh vực QTCT. Do đó, khả năng các quy
định này chồng chéo, mâu thuẫn nhau về nội dung, về thẩm quyền của cơ quan quản lý
là rất dễ xảy ra. OECD khuyến nghị các quốc gia cần tiến hành các biện pháp nhằm
nhận biết và hạn chế rủi ro này khi tiến hành xây dựng luật và các quy định pháp lý;
đảm bảo hạn chế đến mức tối đa các “khoảng không pháp lý” (không có một cơ quan
nào có đủ thẩm quyền giải quyết một vấn đề nảy sinh hoặc cùng một vấn đề lại do quá
nhiều cơ quan cùng xử lý) [10, tr31] làm ảnh hưởng tới sự ổn định của thị trường
cũng như lợi ích của công chúng. Bên cạnh đó, OECD cũng chỉ ra trường hợp trách
nhiệm giám sát, quản lý được ủy thác cho “các tổ chức không phải của nhà nước” [10,
tr31]; khi đó cơ cấu tổ chức cũng như phạm vi thẩm quyền của tổ chức được ủy thác
phải được quy định một cách rõ ràng, minh bạch, phục vụ lợi ích của công chúng.
Về năng lực của cơ quan quản lý nhà nước, để đảm bảo khuôn khổ QTCT được
xây dựng, áp dụng một cách đầy đủ, hiệu quả đòi hỏi thẩm quyền giám sát, quản lý và
cưỡng chế thực thi phải được trao cho một cơ quan có khả năng thực hiện chức năng
của mình một cách độc lập, không có sự xung đột về lợi ích, đảm bảo sự minh bạch,

thường, bao gồm việc chuyển nhượng tất cả hoặc một phần lớn tài sản của
công ty, dẫn đến việc bán công ty.

17

* Cổ đông phải có cơ hội tham gia một cách hiệu quả và biểu quyết
tại ĐHĐCĐ, và phải được thông tin về quy định họp của ĐHĐCĐ, bao gồm
cả thủ tục biểu quyết.
* Cơ cấu vốn và các thỏa ước cho phép một số cổ đông nắm giữ
quyền kiểm soát không tương ứng với tỷ lệ cổ phần mà họ sở hữu phải được
công khai.
* Thị trường giao dịch thâu tóm công ty phải được phép hoạt động
một cách hiệu quả và minh bạch.
* Cần tạo điều kiện thực hiện quyền sở hữu cho mọi cổ đông, bao
gồm cả các nhà đầu tư tổ chức.
* Cổ đông, bao gồm cả các cổ đông tổ chức, phải được trao đổi với
nhau về các vấn đề liên quan tới quyền cổ đông cơ bản, trừ trường hợp ngoại
lệ nhằm ngăn ngừa lạm dụng [10, tr18].
Có thể thấy, là người sở hữu cổ phần, phần vốn góp vào công ty, nắm giữ quyền
sở hữu chung đối với công ty (sở hữu chung theo phần), nên cũng như với các chủ sở
hữu khác, nguyên tắc này của OECD đã ghi nhận những quyền năng cơ bản của một
chủ sở hữu của cổ đông, đó là quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt đối
với tài sản- ở đây là công ty. Ngoài ra, OECD cũng đưa ra các yêu cầu nhằm đảm bảo
sự bình đẳng giữa những người chủ sở hữu như yêu cầu công khai cơ cấu vốn và các
thỏa ước cho phép một số cổ đông nắm giữ quyền kiểm soát không tương ứng với tỷ lệ
cổ phần sở hữu. Về nguyên tắc, mỗi cổ phần tương ứng với một tỷ lệ quyền sở hữu
nhất định của cổ đông đối với doanh nghiệp và trong một công ty thì mỗi một cổ phần
đều có tỷ lệ sở hữu như nhau; do đó, sự khác biệt về quyền kiểm soát (biểu hiện cụ thể
là quyền biểu quyết) giữa các cổ đông là do tỷ lệ cổ phần mà họ nắm giữ khác nhau.
Tuy nhiên, OECD đã chỉ ra một số trường hợp ngoại lệ như: cơ cấu vốn hình kim tự


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status