ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC ĐINH THỊ DOAN
TÍCH CỰC HOÁ HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP CỦA HỌC
SINH TRONG DẠY HỌC BÀI '' GIÁ TRỊ VĂN HỌC VÀ
TIẾP NHẬN VĂN HỌC''- SÁCH GIÁO KHOA NGỮ
VĂN 12 TẬP 2 (BỘ CHUẨN)
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM NGỮ VĂN HÀ NỘI – 2014 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
dưỡng niềm đam mê văn học trong em từ thuở bé thơ, dìu dắt em, luôn khuyến
khích động viên em cố gắng học tập và phấn đấu!
Đặc biệt em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo - PGS.TS. Đoàn
Đức Phương - người thầy em rất kính phục tài đức từ những ngày còn là sinh
viên đại học em được học môn Lí luận văn học thầy dạy, và bây giờ thầy đã rất
nhiệt tình, tận tâm và chu đáo giúp đỡ em, hướng dẫn em hoàn thành luận văn
này. Em lựa chọn luận văn về phưong pháp dạy Lí luận văn học như một món
quà tặng thầy, bởi thầy chính là người đã xua tan nỗi ám ảnh sợ hãi kiến thức lí
luận văn học khô khan, khó hiểu trong em, và em muốn làm được phép màu đó
với những học trò bé bỏng của em, để giúp các em học sinh yêu lí luận văn học
và học lí luận văn học tốt hơn nữa!!
Tôi xin chân thành cảm ơn những người thân trong gia đình, bạn bè, đồng
nghiệp đã luôn bên tôi, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và
hoàn thành luận văn này!
Hà Nội , tháng 11 năm 2014
Tác giả
Đinh Thị Doan
ii
CÁC KÍ HIỆU VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
1.Công nghệ thông tin: CNTT
2.Giáo sư: GS
3.Giáo viên : GV
4.Học sinh: HS
5.Lí luận văn học: LLVH
6.Nhà xuất bản: Nxb
7.Phó giáo sư: PGS
8.Phương pháp dạy học: PPDH
9.Sách giáo khoa: SGK
6. Cấu trúc luận văn 5
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ THỰC TRẠNG DẠY HỌC CÁC BÀI
VỀ LÍ LUẬN VĂN HỌC 6
1.1. Định hướng đổi mới PPDH. 6
1.1.1. Định hướng chung. 6
1.1.2. Những định hướng chính trong đổi mới cách thực hiện PPDH. 16
1.2. Đặc trưng loại bài LLVH. 28
1.2.1. Vai trò của kiến thức LLVH 28
1.2.2. Các bài LLVH trong trường phổ thông. 29
1.2.3. Một số nét đặc trưng của loại bài LLVH. 31
1.3. Thực trạng dạy bài LLVH ở trường phổ thông hiện nay. 34
1.3.1. Những thuận lợi và khó khăn trong dạy học LLVH ở trường phổ
thông hiện nay. 34
iv
1.3.2. Điều tra thực trạng dạy - học bài '' Gía trị văn học và tiếp nhận
văn học'' ở lớp 12 THPT. 36
CHƯƠNG 2 : ĐỀ XUẤT ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC BÀI '' GIÁ
TRỊ VĂN HỌC VÀ TIẾP NHẬN VĂN HỌC'' Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG 39
2.1. Phương pháp dạy học tích cực. 39
2.1.1. Dấu hiệu đặc trưng của PPDH theo hướng tích cực hoá 39
2.1.2. Một số PPDH phát huy tính tích cực học tập ở HS 42
2.1.3. Một số kĩ thuật dạy học tích cực 54
2.2. Những điều cần lưu ý khi dạy học các bài về LLVH 62
2.2.1. Chú ý tính vừa sức, phù hợp trình độ và tâm lí lứa tuổi của
học sinh THPT 62
2.2.2. Cần bám sát ''Hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức, kĩ năng
môn Ngữ văn'' và định hướng giảng dạy trong SGV của Bộ Giáo dục và đào
tạo 66
2.2.3. Hướng dẫn HS chuẩn bị bài ở nhà một cách cụ thể và chi tiết hơn những
vi
DANH MỤC CÁC BẢNG Bảng 2.1. Mẫu tìm hiểu các giá trị văn học 72
Bảng 2.2. Các giá trị văn học 73
Bảng 3. Thống kê kết quả khảo sát học sinh 109
1
MỞ ĐẦU
1.Lý do chọn đề tài
1.1. Yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học nói chung, dạy học văn nói riêng
Trước đây, việc dạy học chỉ chú trọng tới việc truyền thụ kiến thức,
PPDH chủ yếu là đọc chép, thuyết giảng. Những giờ giảng văn thành công là
những giờ người thầy say sưa nói về tác phẩm với một thứ men đặc biệt khiến
trò ngơ ngẩn tròn xoe mắt lắng nghe. Giờ văn cũng là những giờ trò mải mê
chép, chép mỏi tay bởi dường như người thầy là nguồn tri thức duy nhất cung
cấp kiến thức cho HS. Người thầy là trung tâm của giờ dạy học văn, tất cả mọi
hoạt động chính của giờ học đều tập trung ở người thầy. Giờ đây, khi xã hội phát
thức và cảm nhận Bài " Giá trị văn học và tiếp nhận văn học" là một trong
những kiến thức LLVH rất cần thiết để HS đến với thế giới văn chương nghệ
thuật, hiểu sâu hơn giá trị của những tác phẩm văn học và con đường chiếm lĩnh
những giá trị ấy nơi bạn đọc Để phát huy tốt hiệu quả vận dụng của bài học
này trong học văn và làm văn, GV cần phát huy được tính tích cực chủ động
sáng tạo của HS trong giờ học để các em chiếm lĩnh được kiến thức một cách
nhẹ nhàng và có thể vận dụng một cách linh hoạt nhất.
Với tất cả những lí do trên, chúng tôi quyết định lựa chọn đề tài nghiên
cứu khoa học : " Tích cực hoá hoạt động học tập của HS trong dạy học bài '' Giá
trị văn học và tiếp nhận văn học'' chương trình Ngữ văn 12 với một niềm say
mê và khát khao vượt qua thử thách. Chúng tôi hi vọng luận văn này sẽ góp phần
xua đi những e ngại ám ảnh của thầy và trò trong dạy học LLVH ở phổ thông và
hoà chung bản hoà ca của công cuộc đổi mới PPDH văn trong nhà trường hiện
nay.
2.Lịch sử vấn đề
2.1. Vấn đề tích cực hoá hoạt động học tập của học sinh đã được nhiều nhà
3
giáo dục quan tâm ở nhiều công trình nghiên cứu về phương pháp dạy học
GS. Nguyễn Thanh Hùng với các cuốn sách Dạy văn học văn, Kĩ năng
đọc hiểu văn, Phương pháp dạy học Ngữ văn Trung học phổ thông những vấn đề
cập nhật đã góp những tiếng nói ý nghĩa về định hướng lấy người học làm trung
tâm. GS. Phan Trọng Luận trong Phương pháp dạy học văn cũng nhấn mạnh ý
nghĩa của việc tích cực hoá hoạt động của HS. TS. Nguyễn Viết Chữ với
Phương pháp dạy học tác phẩm văn chương trong nhà trường cũng đưa ra
những lí luận sắc bén về việc đổi mới PPDH văn để HS có thể '' sáng mắt sáng
lòng'' với mỗi bài học. TS. Nguyễn Ái Học trong cuốn Phương pháp tư duy hệ
thống trong dạy học văn đã đưa ra vấn đề tư duy dạy học văn mới để HS chủ
động tích cực hơn. Với các bài viết trong sách Cùng học sinh khám phá qua mỗi
giờ văn tác giả Đặng Thiêm đã cụ thể hoá những vấn đề về định hướng cho HS
của HS để từ đó áp dụng vào dạy học bài LLVH, cụ thể là bài '' Giá trị văn học
và tiếp nhận văn học''; nghiên cứu những nét đặc thù của dạy học LLVH và
nghiên cứu thực trạng dạy học bài LLVH để từ đó đề xuất phương án dạy học
phù hợp; thực nghiệm sư phạm để kiểm tra mức độ khả thi của phương án đề ra.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1.Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn chính là vấn đề tích cực hoá hoạt
động học tập của HS áp dụng với bài LLVH '' Giá trị văn học và tiếp nhận văn
học'', việc giảng dạy LLVH cho HS lớp 12.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn chỉ tập trung nghiên cứu trong phạm vi các vấn đề về đổi mới
PPDH, đặc trưng của loại bài LLVH, thực trạng dạy học LLVH, cụ thể là bài
''Giá trị văn học và tiếp nhận văn học''; đề xuất các biện pháp tích cực hoá hoạt
động học tập của HS trong dạy bài '' Giá trị văn học và tiếp nhận văn học''
5
(chương trình Ngữ văn 12 tập 2 bộ chuẩn); soạn giáo án thực nghiệm.
5. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện được đề tài này, chúng tôi sử dụng những phương pháp
chính sau đây: Phương pháp nghiên cứu tổng hợp, phương pháp so sánh đối
chiếu, phương pháp khảo sát, thực nghiệm, thống kê, phân tích, tiếp cận lí luận
và thực tiễn
6. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung
chính của luận văn gồm có ba chương:
- Chương 1: Cơ sở khoa học và thực trạng dạy học các bài về Lí luận văn học
- Chương 2: Đề xuất đổi mới PPDH bài " Giá trị văn học và tiếp nhận văn học"
- Chương 3: Thực nghiệm sư phạm với bài '' Giá trị văn học và tiếp nhận văn
học''
năng lực của mình'' . Tác giả I.Ya.Lerner cho rằng : ''PPDH là một hệ thống
những hành động có mục đích của GV nhằm tổ chức hoạt động nhận thức và
thực hành của HS, đảm bảo cho HS lĩnh hội nội dung học vấn". Nhà nghiên cứu
Yu.K.Babanxkij giải thích :'' PPDH là cách thức tương tác giữa GV và HS nhằm
giải quyết các nhiệm vụ giáo dưỡng, giáo dục và phát triển trong quá trình dạy
học" . Tác giả Hoàng Hoà Bình - Nguyễn Minh Thuyết định nghĩa :'' PPDH
(tiếng Nga: metod; tiếng Anh: method) là cách thức hành động chung nhất của
7
GV trong giờ học nhằm tổ chức cho HS chiếm lĩnh đối tượng học tập và hoàn
thành mục tiêu của giờ học". Nói chung PPDH là lĩnh vực khá đa dạng, có nhiều
quan niệm, quan điểm khác nhau về PPDH. Có thể khái quát lại, PPDH là cách
thức hoạt động( bao gồm các hành động và thao tác) của GV và HS với những
điều kiện dạy học cụ thể nhằm đạt được mục tiêu dạy học. Đó cũng là con đường
chung mà thầy và trò cùng đi tới với sự dìu dắt tận tình của thầy và sự tự tin
vững bước của trò
Đặc điểm của PPDH:
- Tính khách quan và chủ quan của PPDH: Tính khách quan thể hiện ở
mọi PPDH đều xuất phát từ đối tượng, đặc điểm, quy luật vận động, cấu trúc của
đối tượng. Đối tượng của PPDH vừa là nội dung dạy học vừa là người học. Tính
chủ quan của PPDH do các chủ thể của GV và HS tiến hành. Hiệu quả của
PPDH phụ thuộc vào năng lực của người sử dụng. Do đó, sự nhuần nhuyễn, linh
hoạt và sáng tạo tích cực trong việc sử dụng PPDH là yếu tố quyết định hiệu quả
dạy học.
- Tính mục đích của PPDH: PPDH chịu sự quy định của mục đích và nội
dung dạy học. Thực chất PPDH là phương thức để đạt được mục đích. Vì thế
mỗi mục đích dạy học đòi hỏi PPDH tương ứng và mỗi PPDH bao giờ cũng
hướng tới đạt mục đích cụ thể nào đó. Không có một PPDH nào lại đạt được tất
cả các mục đích. Mỗi PPDH giúp HS đạt được trình độ năng lực nhất định. Việc
xác định mục đích hình thành năng lực ở HS để chọn PPDH phù hợp là điều
mình, trong đó các em phải có những cố gắng trí tuệ. Theo PGS.TS. Thái Duy
Tuyên, tính tích cực hoá học tập là một tập hợp các hoạt động nhằm làm chuyển
9
biến vị trí của người học từ thụ động sang chủ động, từ đối tượng tiếp nhận tri
thức sang chủ thể tìm kiếm tri thức để nâng cao hiệu quả học tập.
Tính tích cực của HS có mặt tự phát và mặt tự giác. Mặt tự phát của tính
tích cực là yếu tố tiềm ẩn, bẩm sinh, thể hiện ở tính tò mò, hiếu kì, hiếu động,
linh hoạt và sôi nổi trong hành vi ở HS đều có, trong mức độ khác nhau cần coi
trọng những yếu tố tự phát này, cần nuôi dưỡng, phát triển chúng trong dạy học.
Mặt tự giác trong tính tích cực là trạng thái tâm lí, tính tích cực có mục đích và
đối tượng rõ rệt, do đó có hoạt động để chiếm lĩnh đối tượng. Tính tích cực tự
giác thể hiện ở óc quan sát, tính phê phán trong tư duy, trí tò mò khoa học Có
nhiều trường hợp, tính tích cực học tập thể hiện ở sự tích cực bên ngoài mà
không phải trong tư duy. Đó là điều GV cần lưu tâm khi đánh giá tính tích cực
nhận thức của HS.
Nhà nghiên cứu G.I.Sukina khái quát những dấu hiệu của tính tích cực
hoạt động trí tuệ của HS như sau:
- HS hay nêu thắc mắc, đòi hỏi giải thích cặn kẽ những vấn đề GV trình
bày nhưng HS chưa hiểu rõ.
- HS chủ động vận dụng linh hoạt những kiến thức, kĩ năng đã học để
nhận thức các vấn đề mới.
- HS mong muốn được đóng góp với thầy, với bạn những thông tin mới
lấy từ những nguồn khác nhau có khi vượt ngoài phạm vi bài học, môn học.
- Ngoài ra, tính tích cực của HS còn biểu hiện qua những mặt xúc cảm
như thờ ơ hay hào hứng, phớt lờ hay ngạc nhiên, hoan hỉ hay buồn chán trước
một nội dung nào đó của bài học Những dấu hiệu này biểu hiện khác nhau ở
từng cá thể HS, bộc lộ rõ ở các lớp HS bé, kín đáo ở các HS lớp trên. Về mặt ý
chí, tính tích cực học tập của HS biểu hiện ở sự tập trung chú ý vào vấn đề đang
10
phối hợp hoạt động gia đình, nhà trường và xã hội. Trong các yếu tố ảnh hưởng
đến tính tích cực nhận thức của HS cần phải chú ý đến yếu tố quan trọng là hứng
thú. Từ lâu, các nhà sư phạm đã quan tâm đến vai trò của hứng thú nhận thức
trong quá trình dạy học. Cômenxki xem tạo hứng thú là một trong các con đường
chủ yếu để ''làm cho học tập trong nhà trường trở thành nguồn vui''. J.J Rutxo
dựa trên hứng thú của HS đối với sự vật xung quanh để xây dựng cách dạy phù
hợp cho HS. K. Đ.Usinxki xem hứng thú là một cơ chế bên trong, đảm bảo học
tập có hiệu quả. J. Điuay cho rằng việc giảng dạy phải kích thích được hứng thú,
muốn vậy phải để cho HS độc lập tìm tòi, GV chỉ là người tổ chức, thiết kế, cố
vấn. Trong khi xác định những điều kiện để tiến hành có hiệu quả phương pháp
tìm tòi, khám phá, F.Brunô nêu lên điều kiện đầu tiên là GV phải biết vận dụng
phương pháp nào phù hợp với năng lực, hứng thú và nhu cầu của HS. Lí luận
dạy học hiện đại xem hứng thú là yếu tố có ý nghĩa to lớn không chỉ trong quá
trình dạy học mà cả đối với sự phát triển toàn diện, sự hình thành nhân cách của
HS. Hứng thú là yếu tố dẫn đến sự tự giác. Hứng thú và tự giác là những yếu tố
tâm lí đảm bảo tính tích cực và độc lập sáng tạo trong học tập. Ngược lại, phong
cách học tập tích cực và độc lập sáng tạo có ảnh hưởng tới sự phát triển hứng thú
và tự giác. F.Brunô cho rằng hứng thú nhận thức được hình thành qua việc tổ
chức học tập như những hành động khám phá. Theo .P.Brôunovt, niềm hứng thú
thực sự biểu hiện ở sự bền bỉ, kiên trì và sáng tạo trong việc hoàn thành các công
tác độc lập dài hơi. Nếu HS được độc lập quan sát, so sánh, phân tích, khái quát
hoá các sự kiện, hiện tượng dài hơi thì các em sẽ hiểu sâu sắc và bộc lộ rõ hứng
thú. Kinh nghịêm thực tiễn dạy học và kết quả nghiên cứu thực nghiệm cho thấy
để hình thành phát triển hứng thú nhận thức của HS cần có các điều kiện sau:
12
- Phát huy tối đa hoạt động tư duy tích cực của HS, nhất là tổ chức những
tình huống có vấn đề đòi hỏi dự đoán, nêu giả thiết, tranh luận giữa các ý kiến
trái ngược.
- Tiến hành dạy học ở mức độ thích hợp nhất đối với trình độ phát triển
thử thách trong cuộc sống. Giữa cuộc đời bao la, kiến thức là vô tận, nó mênh
mông như biển khơi, nó bao la như bầu trời, nó vô cùng vô tận Cả đời người
miệt mài khám phá, có chăng chỉ được một phần nhỏ bé như chút nước giữa
trùng khơi Bởi vậy, nếu người học thụ động lĩnh hội kiến thức thì cái đạt được
thật ít ỏi. Dạy học tích cực đã mang đến một phép màu, giúp người học chủ động
lĩnh hội và khám phá kiến thức bằng niềm đam mê, bởi thế mà chân trời tri thức
được mở ra phong phú và hấp dẫn hơn. Một điều đơn giản là nếu ta học chỉ vì
để lấy phần thưởng ta sẽ cảm thấy sự cố gắng ấy thật mệt mỏi và khó khăn,
nhưng nếu ta học vì niềm đam mê, ta sẽ thấy phần thưởng ngay trong đó. Dạy
học tích cực sẽ mang đến phần thưởng ngay trong quá trình học - phần thưởng
của sự đam mê, thích thú, sự hào hứng say sưa và những kiến thức trở nên thật
đơn giản, ngọt ngào, ta thấy cần chúng như cần không khí và thức ăn vậy. Vai
trò của người thầy vì thế cũng thay đổi, để dạy học tích cực, người thầy phải thắp
được những ngọn lửa đam mê nơi học trò. Bởi vì: '' Những gì ta học được lúc trẻ
để lại dấu ấn mãi mãi trong khối óc và trái tim ta. Chức năng cao nhất của
người thầy không phải là truyền đạt kiến thức mà là khuyến khích HS yêu kiến
thức và mưu cầu kiến thức''- Henri Frederic Amiel [9, tr.69]
1.1.1.4. Định hướng đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích
14
cực của học sinh
Từ thập kỉ cuối cùng của thế kỷ XX, các tài liệu giáo dục ở nước ngoài
và trong nước, một số văn bản của Bộ Giáo dục và Đào tạo thường nói tới việc
cần thiết phải chuyển dạy học lấy GV làm trung tâm sang dạy học lấy HS làm
trung tâm. Dạy học lấy HS làm trung tâm còn có một số thuật ngữ tương đương
như: dạy học tập trung vào người học, dạy học căn cứ vào người học, dạy học
hướng vào người học… Các thuật ngữ này có chung một nội hàm là nhấn mạnh
hoạt động học và vai trò của HS trong quá trình dạy học, khác với cách tiếp cận
truyền thống lâu nay là nhấn mạnh hoạt động dạy và vai trò của GV. Lịch sử
phát triển giáo dục cho thấy, trong nhà trường một thầy dạy cho một lớp đông
các chỉ thị của Bộ Giáo dục và Đào tạo, đặc biệt là chỉ thị số 15 ( 4-1999). Trong
Luật Giáo dục năm 2005, sửa đổi năm 2009, điều 28.2 đã ghi:'' Phương pháp
giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của
HS; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp
tự học, khả năng làm việc theo nhóm, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào
thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho HS''.
Vấn đề đổi mới PPDH thực chất không phải là sự thay thế các PPDH cũ bằng
một loạt các PPDH mới. Đổi mới PPDH có thể hiểu là đưa các PPDH mới vào
nhà trường trên cơ sở phát huy mặt tích cực của các PPDH truyền thống, nâng
cao hiệu quả đào tạo của giáo dục. Hay nói một cách khác đổi mới PPDH là đổi
mới cách tiến hành các phương pháp, đổi mới các phương tiện và hình thức triển
khai phương pháp trên cơ sở khai thác triệt để ưu điểm của các phương pháp cũ
và vận dụng linh hoạt một số phương pháp mới nhằm phát huy tối đa tính tích
cực, chủ động, sáng tạo của người học. Mục đích cuối cùng của đổi mới PPDH
là làm thế nào để HS phải thực sự tích cực, chủ động, tự giác, say mê, thích tìm
tòi, sáng tạo, biết suy nghĩ, biết trăn trở , ham học hỏi trong quá trình lĩnh hội tri
16
thức và lĩnh hội các cách thức để có được các tri thức ấy nhằm phát triển và hoàn
thiện nhân cách của mình. Định hướng đổi mới PPDH đã giúp chúng ta nhìn
nhận lại cho đúng cách làm, cách tiến hành các PPDH, cách linh hoạt sáng tạo
trong sử dụng nó ở các hoàn cảnh và tình huống khác nhau để những PPDH
được sử dụng có tác động tích cực đến người học. Đó cũng là yêu cầu tất yếu của
giáo dục đáp ứng sự phát triển công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, đáp ứng
yêu cầu đào tạo những người lao động có bản lĩnh, có năng lực, chủ động, sáng
tạo, dám nghĩ, dám làm, sẵn sàng thích ứng với những đổi thay trong xã hội hiện
đại Sự cần thiết đổi mới trong giáo dục đã được ghi trong Nghị quyết
40/2000/QH20 về đổi mới Chương trình Giáo dục phổ thông và thể hiện trong
Chỉ thị 14/2001/CT-TTg ngày 11/6/2001 của Thủ tướng Chính phủ về thực hiện
nghị quyết số 40/2000/QH10 của Quốc hội. Sự phát triển sự nghiệp công nghiệp
của người học bằng cách tạo dựng các tình huống nhận thức, đưa HS tới đỉnh
điểm của những mâu thuẫn chứa đựng những khó khăn vừa sức với HS.
- Phải giáo dục tính tích cực, tự giác học tập và tạo điều kiện cho những
cố gắng vươn tới của HS bằng khả năng của mình.
Trong quá trình lĩnh hội kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo ở HS, tính tích cực
được thể hiện từ cấp độ thấp nhất đến cấp độ cao nhất:
- Cấp độ thấp: Bắt chước: Tính tích cực thể hiện ở sự cố gắng làm theo
mẫu hành động, thao tác, cử chỉ hành vi hay nhắc lại những gì đã trải qua
- Cấp độ trung bình: Tìm hiểu và khám phá: Tính tích cực thể hiện ở sự
chủ động hoặc ý muốn thấu đáo vấn đề nào đó để sau đó có thể tự giải quyết vấn
đề