thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong lĩnh vực khoa học và công nghệ ở tỉnh bến tre giai đoạn 2011 2015 - Pdf 30


TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA KHOA HỌC CHÍNH TRỊ

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP

Đề tài:

THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG
NGUỒN NHÂN LỰC TRONG LĨNH VỰC KHOA HỌC VÀ
CÔNG NGHỆ Ở TỈNH BẾN TRE GIAI ĐOẠN 2011-2015

Chuyên ngành: Sư phạm GDCD
Mã ngành: 52140204
Giảng viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:
ThS. Gvc. Nguyễn Đại Thắng Nguyễn Thị Mỹ Lệ

Cần Thơ, tháng 11 năm 2013
Người viết

Nguyễn Thị Mỹ Lệ

2

MỤC LỤC

Trang
MỞ ĐẦU 4
1. Lý do chọn đề tài 4
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 5
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 6
5. Kết cấu của luận văn 6
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ NGUỒN NHÂN
LỰC VÀ KHOA HỌC CÔNG NGHỆ 7
1.1. Lý luận chung về nguồn nhân lực và vai trò của nguồn nhân lực 7
1.1.1. Khái niệm nguồn nhân lực 7
1.1.2. Vai trò của nguồn nhân lực 11

nghệ 62
KẾT LUẬN 69
TÀI LIỆU THAM KHẢO 70

lần thứ XI đã khẳng định: “Phát triển nhanh nguồn nhân lực, nhất là nguồn
nhân lực chất lượng cao, tập trung vào việc đổi mới căn bản và toàn diện nền
giáo dục quốc dân; gắn kết chặt chẽ phát triển nguồn nhân lực với phát triển
và ứng dụng khoa học, công nghệ”. Khoa học và công nghệ có tác động to lớn
tới toàn bộ đời sống vật chất và tinh thần của xã hội. Phát triển giáo dục và đào
tạo, khoa học và công nghệ là cơ sở để thực hiện chiến lược phát triển kinh tế -
xã hội, xây dựng chiến lược con người, phát triển văn hoá của Đảng và Nhà
nước ta.
5

Bến Tre là một tỉnh thuộc Đồng bằng sông Cửu Long, những năm vừa
qua, cùng với quá trình đổi mới của đất nước, Bến Tre đã đạt được nhiều thành
tựu quan trọng trên các lĩnh vực: kinh tế, văn hóa, xã hội, giáo dục,… Trong
lịch sử chính điều kiện tự nhiên nơi đây đã góp phần tạo nên con người, vùng
đất phương nam đặc sắc và cũng chính con người đã cải tạo thiên nhiên, đứng
lên “Đồng khởi” viết nên những trang sử vẻ vang trong cuộc đấu tranh chống
giặc ngoại xâm. Bến Tre là vùng đất giàu tiềm năng, nhiều nguồn lực phát triển.
Tuy nhiên, trong quá trình phát triển vừa qua đã bộc lộ những hạn chế và bất
cập, trong đó đáng quan tâm nhất là nguồn nhân lực trong lĩnh vực khoa học và
công nghệ chưa thực sự đáp ứng được yêu cầu cho phát triển nhanh và bền
vững, chất lượng nguồn nhân lực trong lĩnh vực khoa học công nghệ còn thấp,
hoạt động nghiên cứu và ứng dụng khoa học và công nghệ chưa thực sự được
phổ biến rộng rãi. Do Bến Tre có nền sản xuất nông nghiệp đa dạng và đang
trên đường hội nhập kinh tế thế giới nên không thể tránh khỏi ảnh hưởng của
những xu thế đang thay đổi.
Với những vấn đề nêu trên và với mong muốn đưa ra những giải pháp để
phát triển nguồn nhân lực khoa học và công nghệ tỉnh Bến Tre phục vụ quá
trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nên tác giả lựa chọn vấn đề “Thực trạng và
giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong lĩnh vực khoa học và
công nghệ ở tỉnh Bến Tre giai đoạn 2011 - 2015” làm đề tài nghiên cứu của

nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử trong việc nghiên cứu đề tài đồng
thời kết hợp các phương pháp lôgíc - lịch sử, phân tích - tổng hợp, so sánh -
đánh giá để giải quyết vấn đề đặt ra.
5. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
gồm 3 chương, 7 tiết.

7

PHẦN B: NỘI DUNG
CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ NGUỒN NHÂN LỰC KHOA
HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

1.1. Lý luận chung về nguồn nhân lực
1.1.1. Khái niệm nguồn nhân lực
Nhân lực là sức lực con người, nằm trong mỗi con người và làm cho con
người hoạt động. Sức lực đó ngày càng phát triển cùng với sự phát triển của cơ
thể con người, và đến một mức độ nào đó, con người đủ điều kiện tham gia vào
quá trình lao động – con người có sức lao động.
Khái niệm nguồn nhân lực được sử dụng rộng rãi ở các nước có nền kinh

động, không phân biệt người đó đang được phân bố vào ngành nghề, lĩnh vực,
khu vực nào và có thể coi đây là nguồn nhân lực xã hội.
- Nguồn nhân lực với tư cách là một yếu tố của sự phát triển kinh tế - xã
hội là khả năng lao động của xã hội được hiểu theo nghĩa hẹp hơn, bao gồm
nhóm dân cư trong độ tuổi lao động có khả năng lao động. Hiện nay trong lĩnh
vực lao động còn có khái niệm “nguồn lao động” là toàn bộ dân số trong độ
tuổi lao động có khả năng lao động. Do đó, với khái niệm này thì nguồn nhân
lực tương đương với khái niệm nguồn lao động.
Nguồn nhân lực thể hiện toàn bộ những con người cụ thể tham gia vào quá
trình lao động, với cách hiểu này nguồn nhân lực bao gồm những người từ giới
hạn dưới của độ tuổi lao động trở lên và có khả năng lao động (ở nước ta hiện
nay là những người đủ 15 tuổi trở lên có khả năng lao động).
Nguồn nhân lực còn có thể hiểu là tổng hợp cá nhân những con người cụ
thể tham gia vào quá trình lao động, là tổng thể các yếu tố về thể chất và tinh
thần được huy động vào quá trình lao động. Với cách hiểu này, nguồn nhân lực
bao gồm những người từ giới hạn dưới độ tuổi lao động trở lên.
Ngày nay, khi vai trò của nguồn nhân lực đang ngày càng được thừa nhận
như một yếu tố quan trọng bên cạnh vốn và công nghệ cho mọi sự tăng trưởng
thì một trong những yêu cầu để hoà nhập vào nền kinh tế khu vực cũng như thế
giới là phải có được một nguồn nhân lực có đủ sức đáp ứng được những yêu
cầu của trình độ phát triển của khu vực, của thế giới, của thời đại.
Nguồn nhân lực được xem xét trên giác độ số lượng và chất lượng. Số
lượng nguồn nhân lực được biểu hiện thông qua các chỉ tiêu quy mô và tốc độ
tăng nguồn nhân lực. Các chỉ tiêu này có quan hệ mật thiết với chỉ tiêu quy mô
9

và tốc độ tăng dân số. Quy mô dân số càng lớn, tốc độ tăng dân số càng cao thì
dẫn đến quy mô và tốc độ tăng nguồn nhân lực càng lớn và ngược lại. Tuy
nhiên, mối quan hệ dân số và nguồn nhân lực được biểu hiện sau một thời gian
nhất định. Khi tham gia vào các quá trình phát triển kinh tế - xã hội, con người

nền kinh tế tri thức đối với Việt Nam là khái niệm tương đối mới mẻ. Do vậy,
có ý kiến cho rằng nền kinh tế tri thức đối với Việt Nam hiện nay quá xa và
không hiện thực; cho rằng Việt Nam phải xây dựng xong CNH, HĐH để làm
tiền đề cho kinh tế tri thức ra đời và phát triển, kinh tế tri thức không chỉ bao
gồm các ngành mới xuất hiện dựa trên công nghệ cao, mà còn cả các ngành
truyền thống được cải tạo bằng khoa học công nghệ cao. Do đó,không nên chờ
cho đến khi sự nghiệp CNH, HĐH kết thúc mới tiến hành xây dựng kinh tế tri
thức, mà ngay trong giai đoạn này, để phát triển và theo kịp các nước trên thế
giới, chúng ta phải đồng thời quan tâm tới những lĩnh vực mà chúng ta có thể
tiếp cận. Đối với Việt Nam, một đất nước nông nghiệp, rõ ràng chúng ta không
thể xây dựng và phát triển nền kinh tế tri thức như các nước công nghiệp phát
triển. Thực ra đó là sự tiếp tục quá trình CNH, HĐH đất nước ở một trình độ
cao hơn, dựa trên chất xám của con người. Mặt khác,do xuất phát điểm của lực
lượng sản xuất của ta thấp, mà tiếp cận kinh tế tri thức ở Việt Nam phải phù
hợp với điều kiện của Việt Nam, tức mang những đặc thù của mình. Do đó,việc
xác định nội dung các ngành kinh tế trong quá trình CNH, HĐH, chuẩn bị các
điều kiện vật chất và con người để tiếp cận kinh tế tri thức trở thành nhiệm vụ
quan trọng hàng đầu của mọi cấp, mọi ngành, nhất là các cấp hoạch định chiến
lược. Trong việc chuẩn bị ấy việc nghiên cứu thực trạng mạnh, yếu và tìm ra
giải pháp phát triển nguồn nhân lực là quan trọng và cấp bách nhất trong giai
đoạn hiện nay.
Để đảm bảo thực hiện thành công sự nghiệp CNH, HĐH đất nước, phải
bồi dưỡng và phát huy nhân tố con người. Với tư cách là mục tiêu và động lực
phát triển, con người có vai trò to lớn không những trong đời sống kinh tế mà
còn trong lĩnh vực hoạt động khác. Bởi vậy phải quan tâm, nâng cao chất lượng
con người, không chỉ với tư cách là người lao động sản xuất, mà với tư cách là
công dân trong xã hội, một cá nhân trong tập thể, một thành viên trong cộng
đồng nhân loại không thể thực hiện được công nghiệp hoá, hiện đại hoá nếu
không có đội ngũ đông đảo những công nhân lành nghề, những nhà khoa học
kỹ thuật tài năng, giỏi chuyên môn nghiệp vụ, những nhà doanh nghiệp tháo

gồm sức lao động và tư liệu sản xuất trong đó người lao động là yếu tố quan
trọng hàng đầu. Ph. Ăngghen đã từng nhấn mạnh rằng muốn nâng nền sản xuất
lên thì một mình tư liệu lao động, dù là tư liệu cơ giới hay bất kỳ tư liệu nào
khác cũng không đủ mà cần có những người có năng lực tương xứng sử dụng
những tư liệu đó. Như vậy, vai trò của nguồn nhân lực xuất phát từ vai trò quan
12

trọng của con người trong sự phát triển của lực lượng sản xuất đối với sự phát
triển của kinh tế - xã hội.
*Con người là động lực của sự phát triển
Các nguồn lực khác như vốn, tài nguyên thiên nhiên, cơ sở vật chất, vị trí
địa lý…là những khách thể chịu sự khai thác cải tạo của của con người. Các
nguồn lực này tự nó chỉ tồn tại dưới dạng tiềm năng, muốn phát huy tác dụng
phải có sự kết hợp với nguồn lực con người, thông qua hoạt động có ý thức của
con người. Con người với tất cả những năng lực, phẩm chất tích cực của mình,
bao gồm trí tuệ, kinh nghiệm, kỹ năng, tính năng động, sáng tạo…tác động vào
các nguồn lực khác nhau và gắn kết chúng lại để tạo ra hoạt động lao động phục
vụ cho nhu cầu của xã hội. Chính con người là nhân tố làm thay đổi tính chất
của lao động từ lao động thủ công sang lao động cơ khí và lao động trí tuệ.
Nhất là trong giai đoạn hiện nay khi mà khoa học và công nghệ đã trở thành bộ
phận trực tiếp của lượng sản xuất thì con người lại là nhân tố tạo ra các tư liệu
lao động hiện đại, sử dụng, khai thác đưa chúng vào hoạt động lao động nếu
không những nguồn lực khác đó chỉ là những vật chất vô tri, vô giác.
Như vậy, để xã hội thực sự phát triển thì động lực lớn nhất, quan trọng
nhất đó chính là năng lực của con người. Chính vì vậy, cần phải sử dụng và
khai thác hợp lý sao cho nguồn nhân lực thực sự là động lực to lớn, hữu ích cho
sự phát triển.
*Con người là mục tiêu của sự phát triển
Con người luôn hướng tới cái chân - thiện - mỹ, chính vì vậy, bất kể một
hoạt động nào của con người đều có mục đích cụ thể, rõ ràng. Mọi hoạt động

mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước để xây dựng chủ nghĩa xã hội. Vì
thế, giải phóng tiềm năng con người để phát huy tối đa nguồn nhân lực trong
sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa là một trong những quan điểm đổi mới
có tính đột phá trong đường lối phát triển kinh tế - xã hội của Đảng ta trong thời
kỳ đổi mới. Con người Việt Nam trong giai đoạn cách mạng đã được Nghị
quyết Hội nghị lần thứ 5 - Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII xác định
xây dựng với những đức tính “Lao động chăm chỉ với lương tâm nghề nghiệp,
có kỹ thuật sáng tạo, năng suất cao. Vì lợi ích của bản thân, gia đình, tập thể và
xã hội, thường xuyên học tập, nâng cao hiểu biết, trình độ chuyên môn, trình độ
thẩm mỹ và thể lực” [3,tr.27].
Chăm lo đến sự phát triển toàn diện của con người là chăm lo cho phát
triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững, là yếu tố bảo đảm chắc chắn nhất cho
sự phát triển phồn vinh và thịnh vương của đất nước, thì đầu tư cho phát triển
14

nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, là đầu tư chiến lược,
đầu tư có hiệu quả nhất để khai thác và sử dụng nội lực cho phát triển, là cơ sở
chắc chắn nhất cho phát triển kinh tế - xã hội không chỉ ngày một nhanh, mà
còn bền vững.
1.2. Lý luận chung về nguồn nhân lực khoa học - công nghệ và vai trò của
nguồn nhân lực khoa học - công nghệ
1.2.1. Khái niệm và vai trò của khoa học và công nghệ
*Khái niệm khoa học công nghệ
Tập hợp từ “khoa học - công nghệ” nếu diễn đạt đầy đủ sẽ là “ khoa học -
kỹ thuật - công nghệ”. Đây là ba lĩnh vực khác nhau về đặc điểm, tính chất và
do đó, chúng có vai trò và tác dụng khác nhau trong đời sống xã hội, trong sự
phát triển kinh tế - xã hội. Những sự khác nhau này sẽ quy định một cách tất
yếu những sự khác nhau tương ứng trong cơ chế, chính sách và các biện pháp
quản lý của nhà nước nhằm thúc đẩy sự phát triển khoa học - kỹ thuật - công
nghệ phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội.

sản phẩm do con người tạo ra làm công cụ để tạo ra của cải vật chất. Cho đến
hiện nay, khái niệm công nghệ chưa thực sự được thống nhất bởi vì số lượng
các công nghệ quá lớn không thể thống kê một cách tuyệt đối, người sử dụng
công nghệ trong các điều kiện và hoàn cảnh khác nhau dẫn đến sự hiểu biết về
công nghệ cũng khác nhau. Tất cả những thành tựu về công nghệ đã dẫn đến
kết quả làm cho lực lượng sản xuất phát triển năng suất lao động tăng cao. Nhờ
đó mà loài người chuyển từ phương thức sản xuất này sang phương thức sản
xuất khác cao hơn, chuyển từ nền văn minh này sang nền văn minh khác tiên
tiến hơn.
Cuộc cách mạng công nghệ diễn ra hơn nữa thế kỉ nay cũng đã gây ra
những biến đổi sâu sắc trong các lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất xã hội,
sản xuất tự động hóa ngày càng phát triển, năng suất lao động ngày càng cao,
sản phẩm dồi dào. Tỷ lệ lao động trí óc ngày càng được tăng lên trong khi đó tỷ
lệ lao động chân tay giảm xuống làm nảy sinh tình trạng thất nghiệp.
*Vai trò của khoa học công nghệ
Thứ nhất, khoa học và công nghệ là nền tảng và động lực của sự nghiệp
công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Nói đến vai trò nền tảng và động lực của khoa
học và công nghệ trong tiến trình CNH, HĐH dựa trên cơ sở khoa học và công
nghệ, quan điểm này được thể hiện rõ trong các văn kiện của Đảng, đặc biệt là
trong nghị quyết của các Hội nghị Trung ương bảy khóa VII, Hội nghị Trung
ương hai khóa VIII và kết luận của Hội nghị Trung ương sáu khóa IX về phát
16

triển khoa học và công nghệ. Ở các nước phát triển, vai trò của khoa học công
nghệ ngày càng thể hiện rõ là lực lượng sản xuất trực tiếp quan trọng hàng đầu,
hay nói một cách khác là nền tảng, động lực cho phát triển kinh tế - xã hội. Vai
trò nền tảng của khoa học và công nghệ chỉ được phát huy khi có một nền khoa
học và công nghệ phát triển, đủ khả năng giải quyết được những nhiệm vụ chủ
yếu về khoa học và công nghệ do yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của quốc
gia đặt ra. Vai trò, động lực của khoa học và công nghệ được thể hiện thông

1050 tổ chức khoa học và công nghệ thuộc mọi thành phần kinh tế, trong đó có
hơn 450 tổ chức ngoài nhà nước. Kết cấu hạ tầng kỹ thuật của các viện, trung
tâm nghiên cứu, các phòng thí nghiệm, các trung tâm thông tin khoa học và
công nghệ, thư viện cũng được tăng cường và nâng cấp [9,tr.11].
Thứ hai, khoa học và công nghệ là động lực để phát triển kinh tế - xã hội
trong những năm đổi mới. Khoa học và công nghệ hướng mạnh vào việc đổi
mới, thay thế công nghệ trong các ngành sản xuất, dịch vụ, nâng cao năng suất,
hiệu quả kinh tế. Việc ứng dụng tiến bộ các công nghệ góp phần nâng cao chất
lượng sản phẩm hàng hóa được sự quan tâm của nhiều ngành, nhiều cấp, nhiều
tập thể và tổ chức xã hội, đặc biệt dần dần đã trở thành một phong trào quần
chúng sâu rộng:
- Đảng và Nhà nước ta đã quan tâm đến sự phát triển của khoa học và
công nghệ, đã ban hành nhiều chính sách đúng đắn nhằm phát triển và ứng
dụng khoa học và công nghệ vào kinh tế - xã hội. Đồng thời nhận thức của toàn
xã hội về vai trò, vị trí của khoa học và công nghệ đã được nâng lên đáng kể.
- Đội ngũ cán bộ hoạt động trong lĩnh vực khoa học và công nghệ phát
triển cả về số lượng và trình độ; có khả năng tiếp thu và làm chủ công nghệ
hiện đại trên một số lĩnh vực.
Khoa học và công nghệ ngày càng được xem là nhân tố hàng đầu trong
cuộc chạy đua phát triển kinh tế - xã hội trên thế giới hiện nay, chạy đua nâng
cao chất lượng và hiệu quả lao động trên cơ sở hiện đại hóa nguồn nhân lực.
Khoa học và công nghệ giữ vai trò then chốt trong việc phát triển lực
lượng sản xuất hiện đại, bảo vệ tài nguyên và môi trường nâng cao năng suất,
chất lượng, hiệu quả, tốc độ phát triển và sức cạnh tranh của nền kinh tế. Khoa
học và công nghệ không chỉ có ý nghĩa lớn lao trong lĩnh vực sản xuất vật chất
mà còn là cơ sở để xây dựng nền văn hóa tinh thần của chế độ chủ nghĩa xã hội.
Ngày nay, muốn đẩy nhanh tốc độ công nghiệp hóa, hiện đại hóa cũng như
nâng cao chất lượng nguồn nhân lực thì phải phát triển nhanh và mạnh hơn nữa
khoa học và công nghệ vì chỉ có như thế mới có thể phát huy hết khả năng của
18

tế - xã hội từ sử dụng lao động thủ công là chính sang một cách phổ biến sức
lao động cùng với công nghệ, phương tiện và phương pháp tiên tiến, hiện đại
dựa trên sự phát triển của công nghiệp và tiến bộ khoa học công nghệ nhằm tạo
19

ra năng suất lao động của xã hội cao. Kinh nghiệm phát triển của các nước trên
thế giới cũng như của Việt Nam đã chứng minh rằng, khoa học công nghệ là bộ
phận, nguồn lực không thể thiếu trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội, đặc
biệt là với các nước đang phát triển như nước ta. Vai trò hết sức quan trọng của
khoa học và công nghệ, xét về phương diện phát triển kinh tế, thể hiện trên một
số khía cạnh chủ yếu: phát triển nhanh chóng lực lượng sản xuất nhằm thúc đẩy
tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững; đẩy mạnh quá trình chuyển dịch cơ cấu
kinh tế theo hướng công nghiệp hiện đại cũng như cơ cấu lao động xã hội; nâng
cao hàm lượng trí tuệ và tăng sức cạnh tranh của sản phẩm hàng hóa trong điều
kiện phát triển kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế.
1.2.2. Khái niệm và vai trò của nguồn nhân lực khoa học - công nghệ
*Khái niệm nguồn nhân lực khoa học - công nghệ
Hiện nay có nhiều cách tiếp cận khác nhau về thuật ngữ nguồn nhân lực
khoa học và công nghệ. Theo nghĩa rộng, nguồn nhân lực khoa học và công
nghệ (Human Resources for Science and Technology) bao gồm những người sở
hữu tri thức và tham gia vào các hoạt động khác nhau. Hàm lượng tri thức tích
lũy trong nhân lực khoa học và công nghệ có thể nhận được thông qua đào tạo
chính thức hoặc thông qua tích lũy kinh nghiệm và các công việc liên quan đến
đổi mới. Có 2 cách tiếp cận phổ biến về nhân lực khoa học và công nghệ:
Thứ nhất, nhân lực khoa học và công nghệ được mô tả trong cuốn sổ tay
của OECD năm 1995 với tên gọi “OECD’s Canberra Manual” [19,tr.61] và đã
được sử dụng phổ biến trong các quốc gia cũng như các tài liệu nghiên cứu.
Theo đó, nguồn nhân lực khoa học và công nghệ gồm những người đáp ứng
được một trong những điều kiện sau:


nghiên cứu viên – những người có chuyên môn tham gia vào việc hình thành và
tạo ra tri thức, sản phẩm, qui trình, phương pháp và hệ thống mới cũng như
quản lý các dự án liên quan; Kỹ thuật viên và tương đương - những người mà
công việc chính của họ đòi hỏi tri thức công nghệ và kinh nghiệm trong một
hoặc nhiều lĩnh vực kỹ thuật, vật lý, khoa học sự sống hoặc khoa học xã hội và
nhân văn. Các cán bộ tương đương thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu và triển
khai tương ứng dưới sự hướng dẫn của các nghiên cứu viên. Cán bộ hỗ trợ khác
- những người có kỹ năng, không có kỹ năng, thư ký tham gia vào các dự án
nghiên cứu và triển khai hoặc trực tiếp phối hợp trong các dự án đó. Theo bằng
cấp chính thức thì nhân lực nghiên cứu và triển khai gồm những người có bằng
tiến sỹ, những người có bằng thạc sỹ và đại học dưới tiến sỹ, những người có
chứng chỉ đào tạo nghề và những người có bằng cấp kỹ thuật khác.
21

Thứ hai, theo UNESCO thì nhân lực khoa học và công nghệ được xác
định như “…tổng số những người tham gia trực tiếp vào hoạt động khoa học và
công nghệ và các dịch vụ khoa học và công nghệ trong một tổ chức hoặc một
đơn vị. Nhóm này gồm cả những nhà khoa học và kỹ sư, kỹ thuật viên và nhân
lực hỗ trợ…”. Nhà khoa học và kỹ sư đề cập đến những người sử dụng năng
lực của họ để tạo ra tri thức khoa học, các nguyên lý kỹ thuật và công nghệ, có
nghĩa là những người được đào tạo về khoa học và công nghệ tham gia vào
công việc chuyên môn về các hoạt động khoa học và công nghệ, những người
quản lý cấp cao và những người hướng dẫn thực hiện các hoạt động khoa học
và công nghệ. Kỹ thuật viên đề cập đến những người tham gia vào các hoạt
động khoa học và công nghệ, những người đã qua đào tạo nghề hoặc đào tạo kỹ
thuật trong một ngành tri thức hoặc công nghệ nhất định. Nhân lực hỗ trợ đề
cập đến những người mà công việc của họ trực tiếp liên quan đến việc thực
hiện các hoạt động khoa học và công nghệ, có nghĩa là các cán bộ hành chính,
thư ký, cán bộ có kỹ năng, có ít kỹ năng và chưa có kỹ năng trong các nghề
khác nhau và tất cả các cán bộ hỗ trợ khác.

xã hội trực tiếp góp phần tạo ra sự tiến bộ của khoa học và công nghệ nhằm
thúc đẩy phát triển sản xuất, đời sống và tiến bộ xã hội.
Như vậy đội ngũ cán bộ khoa học công nghệ bao gồm các loại nhân lực
tham gia vào các hoạt động khoa học công nghệ với các chức năng:
- Nghiên cứu sáng tạo (các nhà khoa học và kỹ sư);
- Giảng dạy khoa học và công nghệ;
- Quản lý (trong khoa học và công nghệ, sản xuất, kinh doanh,…);
- Khai thác và sử dụng công nghệ (các kỹ thuật viên, các đốc công, giám
sát viên, công nhân lành nghề,…);
- Trực tiếp tác nghiệp, vận hành thiết bị, máy móc (công nhân kỹ thuật).
*Vai trò của nguồn nhân lực khoa học - công nghệ
Lý thuyết và thực tiễn phát triển ở tất cả các nước trên thế giới cho thấy,
nguồn nhân lực đóng vai trò hết sức quan trọng đối với quá trình tăng trưởng và
phát triển kinh tế. Trong giai đoạn đầu của quá trình phát triển, mô hình tăng
trưởng kinh tế chủ yếu dựa vào tích lũy vốn vật chất. Tuy nhiên, quá trình tăng
trưởng và phát triển kinh tế trong giai đoạn sau sẽ chủ yếu dựa trên cải tiến
công nghệ và phát triển vốn con người hay vốn nhân lực, đặc biệt là nhân lực
cho phát triển khoa học và công nghệ.
Không chỉ có vai trò quan trọng đối với tăng trưởng kinh tế, nguồn nhân
lực cho phát triển khoa học và công nghệ có chất lượng cao còn có ý nghĩa
trong việc giải quyết các vấn đề xã hội, như bất bình đẳng, đói nghèo, các vấn
đề về môi trường và sự tiến bộ về mọi mặt của xã hội. Trong bối cảnh hội nhập
23

kinh tế, khi mà sự cạnh tranh diễn ra ngày càng gay gắt, nguồn nhân lực đóng
vai trò ngày càng quan trọng.
Nghị quyết số 27 Hội nghị Trung ương 7 khóa X về trí thức cũng khẳng
định: “ đầu tư cho nhân lực khoa học và công nghệ, đãi ngộ người tài là đầu tư
cho phát triển bền vững, trực tiếp nâng tầm trí tuệ và sức mạnh của dân tộc”.
Đảng và Nhà nước có trách nhiệm và chính sách đặc biệt phát triển, trọng dụng

nhà Lê, thế kỷ XV: “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia. Nguyên khí thịnh thì
thế nước mạnh rồi lên cao, nguyên khí suy thì thế nước yếu rồi thấp. Cho nên
các bậc thánh Đế, minh Vương chẳng ai không lấy việc bồi dưỡng nhân tài, kén
chọn kẻ sĩ, vun trồng nguyên khí làm việc đầu tiên…”. Trong tờ Báo Cứu quốc
số 91 ra ngày 14/11/1945, Bác Hồ đã từng kêu gọi “…Kiến thiết cần có nhân
tài. Nhân tài ở nước ta dù chưa có nhiều lắm nhưng nếu chúng ta khéo lựa
chọn, khéo phân phối, khéo dùng thì nhân tài càng ngày càng phát triển càng
thêm nhiều….”. Điều này cũng có nghĩa đất nước không có nguồn nhân lực
khoa học và công nghệ đủ mạnh thì không thể phát triển được. Sức mạnh của
một quốc gia tùy thuộc chủ yếu vào năng lực khoa học và công nghệ.
Đảng và Nhà nước ta cũng luôn đặt đội ngũ tri thức nói chung, đội ngũ
cán bộ khoa học và công nghệ nói riêng ở vị trí rất quan trọng, nó được thể hiện
qua nhiều Nghị quyết của Đảng và đặc biệt là sau Đại hội VIII, Đảng ta có
Nghị quyết Trung ương 2 trong đó có đề cập đến vấn đề khoa học và công
nghệ, giáo dục và đào tạo. Điều này một lần nữa đã khẳng định vai trò, vị trí
của nhân lực khoa học và công nghệ trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại
hóa đất nước mà toàn Đảng, toàn dân đang nổ lực thực hiện.
1.3. Vai trò nguồn nhân lực trong lĩnh vực khoa học và công nghệ tỉnh Bến
Tre trong công cuộc đổi mới và sự nghiệp CNH, HĐH
*Là lực lượng đi đầu trong phong trào tiến quân vào khoa học và
công nghệ, trước hết là địa bàn nông nghiệp và nông thôn
Thực chất của quá trình CNH, HĐH là quá trình vận dụng thành tựu khoa
học và công nghệ nhằm chuyển hệ thống kinh tế xã hội của đất nước, địa
phương từ trạng thái năng suất thấp, hiệu quả thấp, từ chủ yếu dựa vào vốn và
lao động thủ công là chính sang một hệ thống có năng suất cao, hiệu quả cao,
chủ yếu dựa trên năng suất yếu tố tổng hợp bao gồm yếu tố khoa học và công
nghệ, chất lượng nguồn nhân lực, phương pháp công nghiệp và kỹ năng sản
xuất hiện đại. Trong phong trào tiến quân vào khoa học và công nghệ thì đội
ngũ cán bộ khoa học và công nghệ phải là lực lượng xung kích thúc đẩy quá
trình CNH, HĐH, trước hết ở khu vực nông nghiệp và nông thôn. Trên trận địa


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status