i
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
NGÔ ĐẶNG MAI NHI ẢNH HƯỞNG CỦA VIỆC BỔ SUNG YUCCA
SCHIDIGERA VÀ PROBIOTICS LÊN NĂNG
SUẤT VÀ CHẤT LƯỢNG TRỨNG GÀ ĐẺ
HISEX BROWN GIAI ĐOẠN 25 – 34
TUẦN TUỔI LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH CHĂN NUÔI - THÚ Y
NGÀNH CHĂN NUÔI - THÚ Y CÁN BỘ HƯỚNG DẪN
TS. NGUYỄN THỊ KIM KHANG
2014
i
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
NGÔ ĐẶNG MAI NHI LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH CHĂN NUÔI - THÚ Y ẢNH HƯỞNG CỦA VIỆC BỔ SUNG YUCCA
SCHIDIGERA VÀ PROBIOTICS LÊN NĂNG
SUẤT VÀ CHẤT LƯỢNG TRỨNG GÀ ĐẺ
………………………………
i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây số liệu và kết quả thu được do bản thân tôi trực
tiếp theo dõi, thu thập với thái độ hoàn toàn khách quan, trung thực. Các số
liệu, kết quả trình bày trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố
trong bất cứ công trình luận văn nào trước đây.
Cần Thơ, ngày 4 tháng 12 năm 2014
Sinh viên
Ngô Đặng Mai Nhi
ii
LỜI CẢM ƠN
Trải qua gần 4 năm học tập và rèn luyện dưới giảng đường Đại học Cần
Thơ, với sự tận tâm hướng dẫn, truyền dạy những kiến thức và kinh nghiệm
quý báo của các thầy cô cùng sự nỗ lực của bản thân, hôm nay tôi đã hoàn
thành xong luận văn tốt nghiệp. Trước khi rời khỏi mái trường kính yêu để
NT 1 (đối chứng (NTĐC)) chỉ bao gồm thức ăn của cơ sở (KPCS),
NT 2 (YC
50
P) gồm KPCS + 50mg bột Yucca + 0,1% probiotics,
NT 3 (YC
75
P) gồm KPCS + 75mg bột Yucca + 0,1% probiotics,
NT 4 (YC
100
P) gồm KPCS + 100mg bột Yucca + 0,1% probiotics.
Các nghiệm thức gồm 10 lần lặp lại, 4 gà mái đẻ khối lượng ngang nhau
trong một ô chuồng tương ứng với một đơn vị thí nghiệm. Như vậy có tổng
cộng 40 đơn vị thí nghiệm trong tổng số 160 con gà. Thí nghiệm đực thực hiện
tại trại Việt Thịnh ngụ tại Ấp Đồng Tâm, Xã Tam Lập, Huyện Phú Giáo, Tỉnh
Bình Dương. Từ ngày 04/08/2014 đến ngày 12/10/2014.
Kết quả phân tích cho thấy gà ở
nghiệm thức 1 (YC
50
P) cho kết quả cao
nhất về năng suất và chất lượng trứng. Qua kết quả thu được nhận đề nghị nên
sử dụng nghiệm thức KPCS + 50 mg bột Yucca + 0,1 % probiotics trong
chănnuôi gà để đạt hiệu quả kinh tế cao.
iv
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN i
v
2.5.4 Ứng dụng trong chăn nuôi 27
Chương 3: PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP THÍ NGHIỆM 29
3.1 Phương tiện thí nghiệm 29
3.1.1 Thời gian và địa điểm 29
3.1.2 Động vật thí nghiệm 29
3.1.3 Chuồng trại 29
3.1.4 Dụng cụ thí nghiệm 33
3.1.5 Thức ăn thí nghiệm 33
3.2 Phương pháp thí nghiệm 34
3.2.1 Bố trí thí nghiệm 34
3.2.2 Quy trình phòng bệnh ở trại 34
3.2.3 Quy trình nuôi dưỡng, chăm sóc 36
3.2.4 Phương pháp lấy mẫu 36
3.2.5 Các chỉ tiêu theo dõi 37
3.2.6 Xử lý số liệu 38
Chương 4 : KẾT QUẢ THẢO LUẬN 39
4.1 Nhận xét chung về đàn gà trong thời gian thí nghiệm 39
4.2 Nhiệt độ - Ẩm độ 39
4.3 Ảnh hưởng của Yucca schidigera và probiotics lên khối lượng gà 41
4.4 Năng suất sinh sản 42
4.4.1 Ảnh hưởng của Yucca schidigera và probiotics lên năng suất trứng 42
4.4.2 Ảnh hưởng của Yucca schidigera và probiotics lên tỷ lệ đẻ, % 43
4.4.3 Ảnh hưởng của Yucca schidigera và probiotics lên tỷ lệ trứng loại, % . 44
4.4.4 Ảnh hưởng của Yucca schidigera và probiotics lên tiêu tốn thức ăn,
(g/mái) 46
4.4.5 Ảnh hưởng của Yucca schidigera và probiotics lên tiêu tốn thức ăn,
Hình 3.6: Hệ thống máng ăn máng uống 34
Hình 3.7: Hệ thống bồ chứ nước 34
Hình 3.8: Thức ăn của Emivest mà trại sử dụng 35
ii
DANH SÁCH BẢNG VÀ BIỂU ĐỒBang 2.1 Các chỉ tiêu của giống gà Hisex Brown 3
Bảng 2.2 Tỷ lệ tiêu hóa chất béo của gà 12
Bảng 2.3: Những đặc điểm bên ngoài của gà mái đẻ tốt và đẻ kém 13
Hình 2.4 Bacillus subtilis 25
Hình 2.5 Saccharomyces cerevisiae 26
Bảng 3.1 Thành phần dinh dưỡng (thức ăn hỗn hợp dạng bột 7606) 36
Bảng 3.2 Lịch dùng thuốc và tiêm phòng cho gà Hisex Brown từ 18 – 58 tuần
tuổi 37
Bảng 4.1 Năng suất trứng gà đẻ qua các tuần tuổi
44
Bảng 4.2 Tỷ lệ đẻ của gà qua các tuần tuổi
45
Bảng 4.3 Tỷ lệ đẻ theo chuẩn công ty CPI (2008) và Emivest (2010) 45
Bảng 4.4 Ảnh hưởng của khẩu phần thí nghiệm lên trứng loại 46
Bảng 4.5 Tiêu tốn thức ăn, g/mái của gà đẻ qua các tuần tuổi 47
Bảng 4.6 Tiêu tốn thức ăn, g/trứng của gà đẻ qua các tuần tuổi 48
Bảng 4.7 Ảnh hưởng của khẩu phần thí nghiệm lên chất lượng trứng 49
Bảng 4.8 Ảnh hưởng của tuần tuổi thí nghiệm lên chất lương trứng 51
Bảng 4.9 Ảnh hưởng của tuần tuổi và khẩu phần thí nghiệm lên chất lượng
trứng 52
Bảng 4.10 Ảnh hưởng của tuần tuổi và khẩu phần thí nghiệm lên chất
Các nghiên cứu gần đây cho thấy, probiotics có những ảnh hưởng tích
cực lên trên con gà đẻ và năng suất của chúng
(Mateova et al, 2009). Probiotics
được định nghĩa là chế phẩm sinh học, nó bao gồm các tế bào sống hoạt chất
chuyển hóa giúp ổn định các thành phần vi sinh vật đường ruột trên cả gia súc
và con người, đồng thời kích thích hệ tiêu hóa cũng như hệ miễn dịch (Fuller,
1992). khi bổ sung các vi sinh vật sống nầy vào trong khẩu phần thì người ta đã
tìm thấy chúng có khả năng điều chỉnh sự cân bằng của các vi sinh vật hoạt
động đường ruột (Chaucheyras-Durand and Durand, 2010), tăng cường khả
năng miễn dịch không đặc hiệu (Placha et al, 2010). Bên cạnh đó, probiotics
còn cải thiện hệ số chuyến hóa thức ăn, giảm tỷ lệ mắc bệnh và chết, đồng thời
có lợi cho người tiêu dùng thông qua cải thiện chất lượng sản phẩm (Mohan et
al, 1995;. Tortuero và Fernandez, 1995; Yesilbag và Colpan, 2006), ức chế khả
năng bám dính của các mầm bệnh Escherichia coli (Coconnier et al., 1993).
Tuy nhiên, có rất là ít nghiên cứu về việc sử dụng probiotic kết hợp với Yucca
schidigera lên trên năng suất và chất lượng trứng của gà. Chính vì vậy, mà tôi
đã thực hiện đề tài nầy, nhằm đánh giá tiềm năng kết hợp của Yucca schidigera
và probiotics để có thể ứng dụng vào điều kiện sức khẻo cũng như là chất lượng
trứng của gà đẻ do đó thí nghiệm “Ảnh hưởng bổ sung chế phần của cây
Yucca (Yucca schidigera) và Probiotic trong khẩu phần ăn của gà Hisex
Brown trong giai đoan 25 – 34 tuần tuổi” được thực hiện.2
Chương 2: LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU
2.1 Giới thiệu sơ lược về giống gà Hisex Brown
2.1.1 Nguồn gốc
Theo Nguyễn Thị Mai (2009) Hisex brown là giống gà đẻ trứng cao sản,
Khối lượng trứng (g)
18 6,0
42,8
19 16,0
45,3
20 36,0
47,8
21 66,0
50,8
22 88,0
53,8
23 93,0
56,0
24 94,0
58,2
60,9
33 93,9
61,2
34 93,6
61,5
35 93,3
61,8
36 93,0
62
37 92,7
62,2
38 92,5
62,4
39 92,2
62,6
thì việc bổ sung vitamin là rất cần thiết.
Thiết vitamin sẽ dẫn đến rối loạn hoạt đông của cơ thể, dẫn đến bệnh tật
phát sinh (Nguyễn Văn Thưởng, 1992).
Vitamin có hai nhóm: Nhóm hòa tan trong dầu mỡ là vitamin A, D, E, K
và nhóm hòa tan trong nước bao gồm các vitamin nhóm B và C.
Nhóm hòa tang trong dầu và mỡ :
Vitamin K (Phylloquinone) được tổng hợp trong manh tràng của gà nhờ
microflora, đóng vai trò đông máu. Được sử dụng trong thức ăn cho gà con và
gà đẻ đề phòng chống xuất huyết khi bị bệnh cầu trùng và bệnh Gumboro.
Nhu cầu vitamin K cho gà: gà con dưới 7 tuần tuổi 8,8 mg, gà 8 - 17 tuần tuổi
2,2 mg, gà đẻ 2,2 mg/kg thức ăn.
Vitamin D (Cholecalciferol) đóng vai trò quan trọng trong việc chống còi
xương, trong đó vitamin D
3
có hoạt tính cao nhất trong việc chuyển hóa calci
5
và phosphor, làm tăng hấp ở ruột non dưới dang D
+
Ca
2+
, tăng tích lũy ở xương
và vỏ trứng.
Thiếu vitamin D gà bị còi xương, châm lớn, gà đẻ bị bệnh xốp xương,
xương dễ gẫy, bại liệt chân, lòng trắng trứng loãng, vỏ trứng mỏng, dễ vỡ, tỷ
lệ ấp nở thấp, phôi chết nhiều ở ngày ấp thứ 19 - 20. Nhu cầu vitamin D cho
gà: gà con 2000 - 2200 UI, gà đẻ 1500 UI/kg thức ăn.
Vitamin E (Tocofero) có vai trò lớn cho khả năng sinh sản của gia cầm,
Vitamin E giúp ngăn cản quá trình oxy hóa, bảo vệ các hợp chất sinh học và
Thiếu vitamin B2 gà con sẽ bị còi cọc, chậm lớn, lông xù, viêm quanh
khóe mắt, chân bị liệt ngón co quắp, di chuyển khó khăn, mắt nhắm, ghèn dính
làm mắt mở khó khăn. Gà đẻ giống sẽ giảm tỷ lệ ấp nở, phôi chết nhiều ở ngày
ấp thứ 12 - 18, gà con mới nở bị liệt chân. Nhu cầu vitamin B2 cho gà: gà con
3,5 - 4,0 mg; gà đẻ trứng thương phẩm 2,2 - 2,5 mg/kg thức ăn.
Vitamin B3 (Acid pantothenic) Thiếu sẽ gây hiện tượng viêm da ở góc
mắt và miệng, viêm nứt các ngón chân, rụng lông, sinh trưởng chậm, giảm sức
kháng bệnh, gà đẻ giảm năng suất, tỷ lệ ấp nở giảm. Vitamin B3 có nhiều
trong các loại thức ăn hạt, nấm men, nghèo trong các loại củ quả. Nhu cầu đối
với gia cầm là 20 mg/kg thức ăn hỗn hợp.
Vitamin B5 (PP) có vai trò chủ đạo trong trao đổi năng lượng, protein và
cần cho tế bào cơ quan hô hấp. Khi thiếu vitamin B5 làm các lớp biểu bì của
da và niêm mạc đường tiêu hóa và hô hấp bị tổn thương, tỷ lệ ấp nở kém. Nhu
cầu B5 cho gà: gà con dưới 8 tuần tuổi 20 - 55 mg, gà đẻ 10 - 15 mg/kg thức
ăn.
Vitamin B6 (Pyridoxine) cần cho quá trình trao đổi chất đạm, chất béo đề phát
triển cơ thể, chống viêm da. Thiếu vitamin B6 sẽ dẫn đến tình trạng giảm tính
thèm ăn, ăn ít, chậm lớn, gây thiếu máu. Nhu cầu đối với gà thịt là 4,5 mg/kg
thức ăn, gà đẻ là 3,5 mg/kg thức ăn, khi tỷ lệ protein trong thức ăn tăng thì nhu
cầu vitamin B6 cũng tăng lên.
Vitamin B9 (Folacin) Khi thiếu sẽ gây thiếu máu, số lượng hồng cầu
giảm, gà con giảm tăng trọng, còi cọc, xuất hiện sự rối loạn sắc tố như trên
lông đen, vàng có những đốm trắng. Gà sinh sản cho trứng tỷ lệ ấp nở thấp.
Nhu cầu vitamin B9 cho gà: gà con là 1 mg/kg thức ăn, gà đẻ là 0,7 mg/kg
thức ăn.
Vitamin B12 (Cyanocobalamin) có vai trò quan trọng trong việc cấu tạo
máu, tổng hợp các protein tế bào, thúc đẩy quá trình sinh trưởng bình thường
của cơ thể, đảm bảo tỷ lệ ấp nở trứng.
Khi thiếu B12 gây hiện tượng thiếu máu, giảm tăng trọng, sức kháng bệnh
kém, gà đẻ giảm tỉ lệ ấp nở, phôi chết nhiều. Nhu cầu vitamin B12 cho gà: gà
cực kì quan trọng. Phần lớn vật chất khô tăng lên với sự sinh trưởng của
protein. Sự thiếu hụt của protein tổng số hoặc một acid amin thiết yếu nào đó
đều làm giảm tốc độ tăng trưởng (Dương Thanh Liêm, 2003).
Theo Bùi Xuân Mến (2007), Đối với gà đẻ trứng nhu cầu protein đóng
vai trò rất quan trọng. Nếu thiếu protein trong khẩu phần ăn thì đó là một trong
những nguyên nhân chủ chốt làm cho sản lượng trứng thấp. Trong bất cứ
nghiên cứu nào về nhu cầu protein của gà mái đang đẻ phải thừa nhận một sự
cân đối hợp lý các acid amin trong protein của khẩu phần. Thiếu hục một acid
amin thiết yếu sẽ làm giảm khả năng sản xuất trứng, giảm độ lớn của trứng và
giảm mức protein tổng số. Tỷ lệ các acid amin thiết yêu trong protein của khẩu
phần phải đi gần với tỉ lệ các acid amin được tạo thành trong trứng.
Trong thời gian đẻ trứng cần cung cấp cho gia cầm đầy đủ protein để giữu cho
cơ thể luôn luôn có sự trao đổi chất cao đồng thời đảm cho cho hoạt động nội
8
tiết bình thường như tuyến yên, tuyến giáp trang Những tuyến ảnh hưởng
lớn đến sức sản xuất của gia cầm.
Nhu cầu protein trong khẩu phần cho gà đẻ trứng tùy thuộc sản lượng
trứng, phẩm chất protein trong thức ăn, giá trị dinh dưỡng của thức ăn, điều
kiện chăm sóc, khối lượng trứng và khối lượng cơ thể gà. Thiếu protein gà
chậm lớn, còi cọc, gà đẻ kém, sinh bệnh tật,… cần cân đối protein theo nhu
cầu của gà con, gà thịt, gà đẻ,… Các loại thức ăn giàu protein là bột cá, bột
thịt, bột sữa, đậu tương, khô lạc. Thường bổ sung vào thức ăn hai loại acid
amin hay thiếu là lysine và methionine tổng hợp với tỉ lệ thấp (Bùi Đức Lũng
và Lê Hồng Mận, 2001).
Dư thừa protein dẫn đến nồng độ đạm cặn, acid amin trong máu tăng cao
làm giảm tính thèm ăn của gia cầm, từ đó không cải thiện được tăng trọng,
thậm chí còn giảm tăng trọng so với khẩu phần bình thường. Cơ thể tiêu hóa
không hết protein sẽ lên men thối ở ruột già, manh tràng và dẫn đến tình trạng
máu, hoạt động thần kình và sự co bóp ở tim. Thiếu calci gà bị run rẩy, co giật,
còi xương, thể hiện ở gà đẻ là võ trứng mỏng, xốp và sẽ ngưng sản xuất trứng
hoặc trứng không vỏ( Bùi Xuân Mến, 2007).
Phospho cân bằng tính thẩm thấu ở màng tế bào, tham gia vào thành phần
của tế bào. Thiếu phospho làm giảm tính thèm ăn gây còi xương, gà mái đẻ
trứng mỏng vỏ, gà trống đạp mái kém.
Magie (Mg) : Magie có liên quan mật thiết đến trao đổi Ca và P, tham gia
cấu tạo xương, thiếu Magie làm gà sinh trưởng chậm, không điều chỉnh được
hoạt động cơ bắp, giảm sử dụng Ca, P làm đẻ trứng giảm.
Natri, Kali và Clo: Những nguyên tố khoáng này có dạng là các ion vô
cơ, có ý nghĩa quan trọng trong thể dịch của cơ thể, là các chất điện giải. Natri
được thấy chủ yếu trong các dịch ngoài tế bào như máu, bạc huyết. Kali lại
được thấy chủ yếu bên trong tế bào. Đây là hai yếu tố quan trọng việc duy trì
acid-bazo và sự cân bằng thể dịch trong các mô cơ thể. Clo cũng là thành phần
của acid hydrochloric được tiết ra trong dạ dày tuyến của gia cầm. Nếu có sự
thiếu hụt nào của một trong các khoáng này đều làm cho gia cầm sinh trưởng
kém, cơ thể mất nước và dẫn đến chết khi bị thiếu hụt trầm trọng.
Sắt (Fe): sắt tham gia cấu tạo hồng cầu, là thành phần của hemoglobin,
một chất chuyên chở oxy trong máu và cũng là thành phần của các hợp chất
liên quan có trong cơ thể và trong các hệ enzyme, tham gia thành phần các
acid amin chứa lưu huỳnh, acid béo, tham gia tạo cơ, da, lông. Thiếu sắt trong
cơ thể gây ra chứng thiếu máu, mỏ gà con nhợt nhạt, gà mái lông xù, mào tái,
đẻ giảm.
Mangan (Mn): ảnh hưởng đến trao đổi calci, phospho. Cần cho sự phát
triền của bộ xương, cấu tạo vỏ trứng, trao đổi protein, hoạt hóa các enzyme. .
Thiếu mangan sẽ dẫn đến bệnh trẹo gân khớp xương (perosis) và ở những mái
giống sẽ cho trứng có tỉ lệ nở thấp và phôi bị biến dạng.
Kẽm (Zn): tham gia quá trình trao đổi lipid, hydratcarbon, điều hòa chức
năng sinh dục và tạo máu. Zn cần cho sức đẻ trứng, tăng tỷ lệ có phôi, phát
triển lông, hình thành sớm enzyme. Thiếu kẽm sẽ gây ra chứng phình khớp
vitamin thích hợp. Năng lượng thấp, gà gầy, chậm lớn (Lê Hồng Mận, 2001).
Các chất hữu cơ trong thức ăn bao gồm: protein, lipid, cacbohydrate,
trong đó carbohydrate chiếm tỉ lệ lớn nhất 40-60%, cung cấp năng lượng cho
cơ thể phát triển, duy trì các hoạt động sống bình thường, duy trì nhiệt độ, sản
xuất thịt trứng…Khi năng lượng dư thừa sẽ được tích lũy thành mỡ mà không
bị thải ra ngoài (Bùi Đức Lũng và Lê Hồng Mận, 2001).
Khi nhiệt độ tăng cao gà phản ứng tự nhiên để chống lại là điều tiết thân
nhiệt bằng cách tăng dần tần số hô hấp, ăn ít và uống nhiều nước. Khi đó việc
tăng năng lượng và protein trong khẩu phần là rất cần thiết để bù đắp hao tổn
nói trên, nhưng khi nhiệt độ tiếp tục tăng quá 27% thì cơ thể gà bắt đầu rối
loạn, nếu nhiệt độ tiếp tục tăng nữa thì cơ thể gà không bị mất năng lượng như
trên mà lúc này ta phải biết giảm năng lượng trong thức ăn một cách hợp lý
(Trần Thị Kim Oanh, 1998). Cơ thể gà chỉ đồng hóa được 70-90% năng lượng
toàn phần, phần còn lại bị loại thải qua nước tiểu, phân, thải nhiệt.
Xây dựng khẩu phần cho gia cầm, năng lượng là yếu tố đầu tiên được
quan tâm. Một mức năng lượng thích hợp sẽ giúp tiết kiệm được chi phí thức
11
ăn cho mỗi đơn vị đơn sản phẩm. Xây dựng khẩu phần ăn cho gia cầm được
dựa trên khái niệm là gia cầm có xu hướng ăn để đáp ứng nhu cầu năng lượng
của chúng, giả định rằng khẩu phần đầy đủ chất dinh dưỡng thiết yếu (Hill et
al, 1956; Scott et al, 1982).
2.2.5 Vai trò của nước
Nước là thành phần cơ bản của sự sống. Nước rất quan trọng trong cấu
tạo cơ thể và mọi hoạt động sống của gà, chiếm 60-70% khối lượng cơ thể
sống, ở gia súc non tỉ lệ này còn cao hơn. Gà sống được khi thiếu ăn hàng
tuần, nhưng nước thiếu 1-2 ngày thì gà chết (Lê Hồng Mận, 2002). Nước là
môi trường cần thiết cho quá trình lên men của trao đổi chất trong cơ thể cũng
Mở heo 89
8,785
Mở bò 73
7,208
Tinh bột 90
420
(Kakuk và Schmidt, 1998)
12
Với mức độ chất béo thích hợp thì chất lượng hay số lượng các loại sản
phẩm gia cầm tạo ra không bị ảnh hưởng bất lợi, nhiều nghiên cứu về dinh
dưỡng gia cầm cho thấy thì ở mức độ thích hợp thì bổ sung chất béo luôn là
nguồn năng lương có ích, vừa làm tăng hiệu quả sử dụng protein cũng như
lysine và methionine trong thức ăn. Do quá trình diễn ra theo chiều hướng này
sẽ vừa có lợi và an toàn cho vật nuôi cũng như người tiêu dùng. Tuy nhiên nếu
vượt giới hạn nầy thì sẽ gây ra các rối loạn chuyển hóa chất béo, ảnh hưởng đến
năng suất, và sức khỏe người tiêu dùng.
Theo nghiên cứu của Haug et al (2007) thì khẩu phần ăn của gà thịt được
bổ sung acid béo omega-3 và selenium nguồn gốc hữu cơ sẽ giúp thân thịt gà
chứa nhiều acid béo omega-3 và selenium là nguồn cung cấp dưỡng chất lại cho
con người, giúp cải thiện sức khỏe và phòng ngừa các bệnh tim mạch.
2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng trứng gà
2.3.1 Chuồng trại
Khoảng cách giữu x
ương
háng
Rộng, Đặt lọt 3 -
4 ngón
tay
Hẹp, chỉ đặt được 1 –
2
ngón tay
Khoảng cách giữu m
õm
xương lưỡi hái v
à xương
háng
R
ộng mềm, đặt lọt 3 ngón
tay
Hẹp, chỉ đẻ lọt 1 –
2
ngón tay
Lỗ huyệt Ướt, to, cử động, màu nhạt
Khô, bé, ít c
ử đông,
màu đậm
Bộ Lông Mềm, sáng, phát tri
ển tốt,
Không thay bộ lông cán
h
hàng thứ nhất
những đăc trưng riêng (Đào Đức Long, 2004).
Môi trường sống ảnh hưởng lớn đến sự tồn tại và phát triển của vật nuôi,
gia cầm cũng chiệu tác động tương tự như vậy.
2.3.4.1 Nhiệt độ
Theo Võ Bá Thọ (1996) Nhiệt độ trong chuồng nuôi là điều kiện quan
trong nhất. Ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe và năng xuất trứng. Sự thay đổi
nhiệt độ môi trường sẽ ảnh hưởng đến việc chuyển hóa thức ăn, sự thay đổi
hoạt động của tuyến giáp trạng. Nhiệt độ cao hoặc thấp đều có tác động trức
14
tiếp đến gia cầm về chất lượng và sản lượng trứng thông qua mức tiêu tốn thức
ăn, khả năng hấp thụ dinh dưỡng. Nhiệt độ lý tưởng trong chuồng là 20 – 25
0
C.
Gia cầm trưởng thành chịu nhiệt độ thấp tốt hơn nhiệt độ cao, ở nhiệt độ
thấp 20
0
C thì mức tiêu thụ năng lượng của gia cầm là thấp nhất. Ở nhiệt độ
thấp, mức tiêu thụ thức ăn cao, lượng thức ăn nầy được sử dụng cho việc sưởi
ấm cơ thể, do vậy tiêu tốn thức ăn cho việc sản xuất ra một quả trứng là cao.
Trong khi ở nhiệt độ cao sẽ làm giảm mức tiêu thụ thức ăn, lượng thức ăn ăn
vào không đáp ứng đủ nhu cầu sản xuất và như vậy sản lượng trứng sẽ giảm đi.
2.3.4.2 Ẩm độ
Theo Nguyễn Đức Hưng (2006) Ẩm độ chuồng gà sinh sản thích hợp là
60 - 70%.
Hơi nước trong chuồng nuôi có khoảng 75% được sản sinh từ cơ thể gia
súc, 20 – 25% từ mặt đất ( thức ăn, nước uống, …), 10 - 15% do không khí bên
ngoài chuồng trại đưa vào (Lê Việt Ly, 1995).
Sự biến đổi của độ ẩm vầ nhiệt độ không khí chuồng nuôi tương đối thích