i
TRƢỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
SƠN NGỌC THÁI
ẢNH HƢỞNG CỦA VIỆC BỔ SUNG
BETA-GLUCAN LÊN NĂNG SUẤT VÀ CHẤT
LƢỢNG TRỨNG GÀ ĐẺ HISEX BROWN
GIAI ĐOẠN 33 ĐẾN 42 TUẦN TUỔI
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
NGÀNH CHĂN NUÔI - THÚ Y
42014
2014
iii
TRƢỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG SƠN NGỌC THÁI LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
NGÀNH CHĂN NUÔI - THÚ Y ẢNH HƢỞNG CỦA VIỆC BỔ SUNG
BETA-GLUCAN LÊN NĂNG SUẤT VÀ CHẤT
LƢỢNG TRỨNG GÀ ĐẺ HISEX BROWN
GIAI ĐOẠN 33 ĐẾN 42 TUẦN TUỔI Cần Thơ, ngày tháng năm 2014
Cần Thơ, ngày tháng năm 2014
DUYỆT CÁN BỘ HƢỚNG DẪN
Thầy cố vấn Hồ Quảng Đồ đã tận tình dạy bảo giúp đở tôi trong suốt thời
gian học tại trƣờng.
Quý thầy cô Bộ môn Chăn nuôi, Thú y đã truyền đạt kiến thức cho tôi
trong hơn 3 năm qua.
Kỹ sƣ Nguyễn Thị Liễu đã tạo điều kiện và giúp đỡ tận tình trong thời
gian tôi thực hiện đề tài.
Cô Hồ Thị Thu, Anh Tuấn – quản lý trại gà đã giúp đỡ và tạo điều kiện
cho tôi thực hiện tốt đề tài tại trại.
Các bạn lớp Chăn Nuôi khoá 37 đã giúp đỡ và động viên tôi hoàn thành
tốt đề tài.
ẻKính chúc mọi ngƣời luôn vui vẻ, dồi dào sức khoẻ và hạnh phúc!!
Cần Thơ, ngày tháng năm 2014
Tác giả luận văn Sơn Ngọc Thái
ii
LỜI CAM ĐOAN
Tôi tên Sơn Ngọc Thái, MSSV: 3112625, sinh viên ngành Chăn nuôi,
khoá 37, Trƣờng Đại học Cần Thơ. Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên
cứu của bản thân. Các số liệu, kết quả trình bày trong luận văn là trung thực và
chƣa từng đƣợc ai công bố trong bất kỳ công trình luận văn nào trƣớc đây.
Cần Thơ, ngày tháng năm 2014
Tác giả luận văn
nằm trong khoảng từ 0,77 – 1,97% thấp hơn so với nghiệm thức ĐC là 3,31%.
Bổ sung beta-glucan giúp cải thiện các chỉ tiêu về chất lượng trứng như:
khối lượng trứng (nghiệm thức BG
0,05
và BG
0,075
), màu lòng đỏ đều cao hơn so
với nghiệm thức ĐC (P<0,05). Ngoài ra, có sự khác biệt thống kê giữa các
nghiệm thức về chỉ số lòng đỏ và đơn vị Haugh (P<0,05).
Qua 10 tuần thí nghiệm, nghiệm thức BG
0,05
đạt hiệu quả kinh tế cao
nhất với 847.455 đồng (119,08%) iv
MỤC LỤC
LỜI CẢM TẠ i
LỜI CAM ĐOAN ii
TÓM LƢỢC iii
DANH SÁCH BẢNG vii
DANH SÁCH HÌNH viii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT ix
CHƢƠNG 1: ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƢƠNG 2: LƢỢC KHẢO TÀI LIỆU 2
2.1 Sơ lƣợc về giống gà Hisex Brown 2
2.1.1 Nguồn gốc 2
3.2 Phƣơng pháp thí nghiệm 20
3.2.1 Bố trí thí nghiệm 20
3.2.2 Chăm sóc nuôi dƣỡng 21
3.2.3 Phƣơng pháp lấy mẫu 21
3.2.4 Chỉ tiêu theo dõi 22
3.2.5 Hiệu quả kinh tế 23
3.2.6 Xử lý số liệu 23
CHƢƠNG 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 24
4.1 Đánh giá chung về đàn gà nuôi thí nghiệm 24
4.2 Nhiệt độ và độ ẩm trong chuồng nuôi 24
4.3 Ảnh hƣởng của việc bổ sung beta-glucan lên năng suất sản sản xuất của gà
Hisex Brown 25
4.3.1 Ảnh hƣởng của việc bổ sung beta-glucan lên khối lƣợng gà 25
4.3.2 Ảnh hƣởng của việc bổ sung beta-glucan lên năng suất trứng và tỷ lệ đẻ
26
4.3.2 Ảnh hƣởng của việc bổ sung beta-glucan lên tiêu tốn thức ăn (g/gà/ngày)
và tiêu tốn thức ăn (g/trứng) 28
4.3.3 Ảnh hƣởng của việc bổ sung beta-glucan lên khối lƣợng trung bình trứng
30
4.3.4 Ảnh hƣởng của việc bổ sung beta-glucan lên tỷ lệ trứng loại 30
4.4 Ảnh hƣởng của việc bổ sung beta-glucan lên chất lƣợng trứng ở gà Hisex
Brown 32
4.4.1 Ảnh hƣởng của khẩu phần thí nghiệm lên chất lƣợng trứng 32
4.4.2 Ảnh hƣởng của việc bổ sung beta-glucan lên chất lƣợng trứng theo giai
đoạn 35
4.4.3 Ảnh hƣởng của việc bổ sung beta-glucan và tuần tuổi thí nghiệm lên chất
lƣợng trứng 36
4.3 Hiệu quả kinh tế 39
Bảng 4.5: Ảnh hƣởng của khẩu phần thí nghiệm lên TTTA (g/gà/ngày) của gà
Hisex Brown qua các tuần tuổi 28
Bảng 4.6: Ảnh hƣởng của khẩu phần thí nghiệm lên TTTA (g/trứng) của gà
Hisex Brown qua các tuần tuổi 29
Bảng 4.7: Ảnh hƣởng của các khẩu phần thí nghiệm lên khối lƣợng trung bình
trứng (g) qua các tuần tuổi 30
Bảng 4.8: Ảnh hƣởng của khẩu phần thí nghiệm lên tỷ lệ trứng loại (%) của gà
Hisex Brown qua các tuần tuổi 31
Bảng 4.9: Ảnh hƣởng của việc bổ sung beta-glucan lên chất lƣợng trứng 32
Bảng 4.10: Ảnh hƣởng của việc bổ sung beta-glucan lên chất lƣợng trứng theo
giai đoạn 35
Bảng 4.11: Ảnh hƣởng của việc bổ sung beta-glucan và tuần tuổi thí nghiệm
lên chất lƣợng trứng 37
Bảng 4.12: Ảnh hƣởng của việc bổ sung beta-glucan và tuần tuổi thí nghiệm
lên độ dày vỏ và tỷ lệ các thành phần 38
Bảng 4.13: Hiệu quả kinh tế của các nghiệm thức thí nghiệm 39
viii
DANH SÁCH HÌNH
Hình 2.1 Gà Hisex Brown thƣơng phẩm 2
Hình 2.2 Cấu trúc hoá học của beta-glucan 12
Hình 2.3 Cấu tạo beta-glucan (1-3) và (1-4)-D-glucan 13
Hình 2.4 Cấu tạo beta-glucan (1-3) và (1-6)-D-glucan 13
Hình 3.1 Gà nuôi thí nghiệm 17
Hình 3.2 Trại nuôi gà thí nghiệm 17
Độ dày vỏ
HU
Đơn vị Haugh
KLT
Khối lƣợng trứng
ME
Metabolizable enerry
Năng lƣợng trao đổi
MLĐ
Màu lòng đỏ
TTTA
Tiêu tốn thức ăn
TLLT
Tỷ lệ lòng trắng
TLLĐ
Tỷ lệ lòng đỏ
TLV
Tỷ lệ vỏ
P
Phospho
Photpho
PRRS
Procine reproductive and
lƣợng trứng và tăng tỷ lệ đẻ ở các gà hƣớng trứng.
Hiện nay việc sử dụng kháng sinh trong chăn nuôi đƣợc hạn chế vì
những chủng vi khuẩn kháng kháng sinh có thể truyền từ sản phẩm động vật
sang ngƣời (Bent & Jesen, 2001) và thay vào đó là những chất bổ sung có
nguồn gốc thiên nhiên. Nhƣng những nghiên cứu về việc bổ sung beta-glucan
vào khẩu phần gà đẻ ở Việt Nam chƣa nhiều và từ những lợi ích mà beta-
glucan mang lại nên đề tài: “Ảnh hưởng của việc bổ sung beta-glucan lên
năng suất và chất lượng trứng gà đẻ Hisex Brown giai đoạn 33 – 42 tuần
tuổi” đƣợc thực hiện với mục tiêu:
Đánh giá đƣợc sự ảnh hƣởng của beta-glucan vào khẩu phần gà đẻ Hisex
Brown lên năng suất và chất lƣợng trứng giai đoạn 33 – 42 tuần tuổi nhằm xác
định mức độ bổ sung beta-glucan tối ƣu trong khẩu phần qua hiệu quả kinh tế
mà nó đem lại.
2
CHƢƠNG 2: LƢỢC KHẢO TÀI LIỆU
2.1 Sơ lƣợc về giống gà Hisex Brown
2.1.1 Nguồn gốc
Gà Hisex Brown là có nguồn gốc từ hãng Euribreed - Hà Lan nhập vào
Việt Nam từ năm 1997 (Đào Đức Long, 2004). Sau đó, công ty Emivest nhập
giống gà bố mẹ về nuôi nhân giống từ năm 2007. Gà con sản xuất ra dùng để
thả nuôi ở các trang trại nuôi gia công cho công ty và một số để bán ra thị
trƣờng (Hình 2.1).
Hình 2.1 Gà Hisex Brown thƣơng phẩm
(http://www.actualidadavipecuaria.com/noticias/hisex-brown-linea-genetica.html)
2.1.2 Đặc điểm sản xuất ở gà Hisex Brown
Một số chỉ tiêu về đặc điểm sản xuất ở gà Hisex Brown đƣợc trình bày ở
sống đến 97%. Lƣợng thức ăn tiêu thụ từ 18 – 20 tuần 5,5 kg/con. Tuổi đạt tỷ
lệ đẻ 50% ở 152 ngày. Sản lƣợng trứng đến 78 tuần tuổi 315 quả/mái, khối
lƣợng bình quân trứng là 63 g. Lƣợng thức ăn tiêu thụ từ 140 ngày tuổi là 116
g/con/ngày. Tiêu tốn thức ăn cho 1 kg trứng là 2,36 kg và cho 10 quả trứng là
1,49 kg. Gà mái đẻ thƣơng phẩm đạt tỷ lệ đẻ 5% ở 20 tuần tuổi. Khối lƣợng gà
mái khi kết thúc đẻ khoảng 2,15 kg/con. Tổng số thức ăn tiêu thụ cho 1 con gà
mái đẻ đến hết 78 tuần tuổi là 47 kg/con.
Bảng 2.2: Lƣợng thức ăn ăn vào, khối lƣợng gà chuẩn và thời gian chiếu sáng
đối với gà Hisex Brown
Tuần tuổi
Lƣợng thức ăn
ăn vào (g/ngày)
Khối lƣợng gà chuẩn
(g)
Thời gian chiếu sáng
(giờ/ngày)
20
98
1630
14,5
21
100
1700
15
22
104
1740
15,5
23
106
(www.isapoultry.com, 2008) Thời gian chiếu sáng chuẩn trên hệ thống chuồng kín
Tỷ lệ đẻ đạt 90% và tới 92% kéo dài khoảng 10 tuần từ tuần thứ 26 đến
tuần 36. Sau đó giảm chút ít và đến khi kết thúc ở 78 tuần tuổi gà đẻ đạt
khoảng 60%. Khối lƣợng trứng trong tuần đẻ đầu là 46 g và tăng dần cho đến
khi kết thúc là 67 g. Tổng số trứng đẻ ra đến hết tuần tuổi 78 là 307 quả/mái.
Tỷ lệ chết trong suốt thời kỳ đẻ trứng là 5,8% (Đào Đức Long, 2004). 4
Bảng 2.3: Tỷ lệ đẻ (%) và khối lƣợng trứng chuẩn (g) đối với gà Hisex Brown
Tuần tuổi
Tỷ lệ đẻ (%)
Khối lƣợng trứng chuẩn
25
95,4
58,4
26
96,0
59,2
27
96,2
59,9
28
95,9
60,5
29
95,7
61,0
30
92,7
63,3
41
92,4
63,3
42
92,2
63,4
43
91,9
63,4
44
91,7
63,5
45
91,2
63,5
46
90,7
63,6
47
90,4
63,6
48
90,2
63,7
49
89,7
63,7
(www.isapoultry.com, 2008)
thị theo phần trăm trong khẩu phần thì mức protein ăn vào thực sự sẽ tùy thuộc
vào sự tiêu thụ thức ăn. Mức năng lƣợng trong khẩu phần có thể là sự xem xét
quan trọng nhất trong việc đánh giá lƣợng thức ăn ăn vào. Vì lý do này mà các
nhu cầu đƣợc biểu diễn nhƣ phần trăm của khẩu phần luôn có liên quan đến
mức năng lƣợng của khẩu phần đó.
Gà có sức sản xuất càng lớn thì khả năng chuyển hoá năng lƣợng vào sản
phẩm càng cao. Muốn gà sản xuất bình thƣờng thì phải tăng mức năng lƣợng
trong thức ăn hỗn hợp. Năng lƣợng tăng thêm này tốt nhất lấy từ sự bổ sung
chất béo vào khẩu phần vì cơ thể chuyển hoá năng lƣợng từ chất béo không
toả nhiệt, không làm tăng thân nhiệt cao nhƣ chất bột đƣờng và protein. Nhƣ
vậy gà mái đẻ chịu stress nhiệt tốt hơn (Dƣơng Thanh Liêm, 2003).
2.2.3 Nhu cầu sản xuất
Năng lƣợng thuần cần cho một mái đang có tỷ lệ đẻ cao gồm năng lƣợng
tiêu phí cho duy trì và năng lƣợng dự trữ trong trứng. Gà mái có khả năng thay
đổi mức tiêu thụ thức ăn theo mức năng lƣợng trong khẩu phần. Tuy nhiên,
mức năng lƣợng tối thiểu trong khẩu phần cho gà đẻ không thể dƣới mức 2640
kcal ME/kg. Khi gà mái phải chịu đựng trong môi trƣờng lạnh thì mức năng
6
lƣợng không thể thấp hơn 2750 kcal ME/kg. Thƣờng thì mức năng lƣợng thực
trong khẩu phần sẽ tùy thuộc nhiều vào mức độ của giá thức ăn trong thực tế
sản xuất (Bùi Xuân Mến, 2007).
Theo Bùi Đức Lũng và Lê Hồng Mận (1999), gà mái đẻ tiêu thụ thức ăn
giảm khi hàm lƣợng năng lƣợng trong khẩu phần thức ăn tăng và nhiệt độ môi
trƣờng cũng tăng. Và nhƣ vậy khi tăng hàm lƣợng năng lƣợng thì phải tăng cả
protein trong khẩu phần để đảm bảo cung cấp đủ protein và acid amin theo
yêu cầu của gà.
Năng lƣợng của thức ăn không đƣợc cơ thể gà sử dụng hoàn toàn mà một
phần bị mất đi với phân, thải nhiệt. Phần năng lƣợng đƣợc sử dụng khoảng 70
cơ thể gà không giảm, giai đoạn cuối gà mái có biểu hiện tích luỹ mỡ. Pha 2
kéo dài đến khoảng 62 tuần tuổi, khi sức đẻ trứng giảm xuống còn 65% so với
tổng số gà mái đẻ trong ngày.
Pha 3: pha 3 tiếp theo pha 2 cho đến khi gà mái có biểu hiện thay lông.
Trong pha này sản lƣợng trứng giảm đến khi ngừng đẻ hẳn. Khối lƣợng trứng
giảm nhẹ hoặc ổn định, nhƣng chi phí thức ăn để sản xuất trứng tăng lên.
2.3.2 Các giai đoạn sản xuất ở gà đẻ
Theo Dƣơng Thanh Liêm (2003), nuôi dƣỡng khoa học là khi gà mái đẻ
năng suất tăng dần ta cũng cho ăn tăng dần, khi gà mái dẻ trứng giảm ta cũng
cho ăn giảm theo. Ngƣời Đức có câu ngạn ngữ “gà mái đẻ qua cái miệng”,
điều này có nghĩa gà ăn thế nào sẽ đẻ thế nấy hay ngƣợc lại gà đẻ thế nào thì
phải cho ăn theo cỡ nấy. Ở các nƣớc chăn nuôi gà tiên tiến, ngƣời ta chia giai
đoạn sản xuất của gà mái ra làm hai kỳ:
Kỳ đầu: giai đoạn bắt đầu đẻ, năng suất trứng tăng dần cho đến đỉnh cao
và duy trì ở đó một thời gian, thƣờng từ 20 – 40 tuần.
Kỳ cuối: giai đoạn từ năng suất đẻ trứng cao giảm dần xuống thấp,
thƣờng thì từ tuần 40 đến tuần 80.
Thời gian phân bố ở hai giai đoạn đầu kỳ đẻ và hậu kỳ đẻ có thể thay đổi
theo các giống với nhau, điều kiện nuôi dƣỡng cũng khác nhau và công tác
loại thải gà ở cuối kỳ khác nhau. Nếu công tác loại thải gà đẻ hoặc không đẻ
đƣợc tiến hành thƣờng xuyên thì sự giảm năng suất trứng sẽ chậm lại.
2.4 Các yếu tố ảnh hƣởng đến năng suất và chất lƣợng trứng
2.4.1 Dịch bệnh
2.4.1.1 Tác nhân do virus
Hội chứng giảm đẻ - EDS76 (Egg Drop Syndrome, 1976): Nguyên nhân
do một loại virus thuộc nhóm Adenovirus gây ra. Đặc trƣng của bệnh là gà
đang đẻ bình thƣờng tự nhiên giảm đột ngột 10 – 30% và kéo dài liên tục, mặc
dù ăn uống bình thƣờng và không chết. Thỉnh thoảng có tiêu chảy và thiếu
máu làm mào nhợt nhạt. Hình dạng trứng ngắn lại, vỏ mỏng sần sùi và chuyển
từ màu nâu sang màu trắng.
thấy mức canxi thấp gà sẽ đẻ giảm đi rõ rệt, thiếu một số vitamin trong thức ăn
dẫn đến tỷ lệ có phôi thấp hẵn. Nếu thiếu nhiều loại vitamin và khoáng vi
lƣợng có thể dẫn đến ngừng đẻ hàng loạt. Thiếu vitamin D làm gà đẻ trứng vỏ
mỏng kéo dài một thời gian, sau chuyển sang đẻ non, tỷ lệ đẻ giảm.
Trúng độc Sulfonamid: do dùng quá liều hay dùng kéo dài, gà chậm phát
triển, sử dụng thức ăn kém, lông xù, màu tím tái… Làm gà đẻ trứng giảm, tỷ
lệ trứng có vỏ xù xì tăng, vỏ mỏng và mềm, trên vỏ trứng có nhiều điểm máu.
2.4.3 Stress nhiệt
Nếu nhiệt lƣợng sản xuất lớn hơn nhiệt lƣơng thải ra, nhiệt độ cơ thể gia
cầm cũng tăng lên. Khi thời tiết nóng gia cầm hạn chế hoạt động và ăn ít hoặc
bỏ ăn. Sự tiêu thụ và tiêu hoá thức ăn làm gia tăng nhiệt độ cơ thể do đó gia
9
cầm sẽ giảm lƣợng thức ăn ăn vào. Lƣợng nƣớc tiêu thụ cũng sẽ tăng làm cho
phân lỏng và chuồng trại ẩm hơn.
Stress nhiệt làm giảm lƣợng thức ăn ăn vào gây giảm tăng trọng, sản
lƣợng trứng và khối lƣợng trứng thấp hơn trên gà đẻ (Bảng 2.4). Tác hại
thƣờng gặp nhất là sự suy giảm chất lƣợng vỏ trứng. Ngoài ra, các khoáng
chất khác trong máu cũng bị ảnh hƣởng mà một trong những yếu tố quan trọng
nhất là photpho, và khi photpho tăng lên ở nhiệt độ cao và kết hợp stress nhiệt
có thể dẫn đến tử vong, đặt biệt là trên đàn gia cầm già.
Bảng 2.4: Ảnh hƣởng nhiệt độ đến độ lớn của trứng
Nhiệt độ
27,5
29,2
30,8
31,7
Lƣợng ăn (g/ngày)
0
C sẽ ảnh
hƣởng rất lớn đến sức đẻ trứng, khối lƣợng trứng và tỷ lệ hao hụt tăng (Bùi
Đức Lũng và Lê Hồng Mận, 1999).
Theo Nguyễn Đức Hƣng (2006), ở gà sinh sản nhiệt độ chuồng nuôi tốt
nhất là 18 – 20
0
C và không quá 25
0
C. Nếu nhiệt độ nuôi dƣới 15
0
C hoặc cao
hơn 30
0
C ảnh hƣởng lớn đến sức đẻ trứng và khối lƣợng trứng, tỷ lệ gà chết
tăng lên.
Võ Bá Thọ (1996) cho biết, trong từng giai đoạn của đàn gà, nhu cầu đòi
hỏi về nhiệt độ khác nhau. Gà con bị lạnh hoặc nóng quá có thể chết hàng loạt,
10
gà không đủ sức hoạt động bình thƣờng, không ăn uống, không phát triển, đề
kháng kém với bệnh tật. Ở gà lớn, khi môi trƣờng nóng sẽ có biểu hiện rối
loạn chức năng sinh lý, ăn ít hoặc bỏ ăn, uống nƣớc nhiều làm ảnh hƣởng đến
tăng trọng, giảm đẻ, chất lƣợng trứng kém và có thể gây chết hàng loạt.
Theo Đào Đức Long (2004), những giống gà nhập nội nhẹ cân nhƣ
Lerghorn, Hisex Brown… chịu lạnh kém hơn những giống gà nội nặng cân
hƣớng thịt. Khả năng chịu nóng còn phụ thuộc vào giới tính, con trống chịu
đƣợc nhiệt độ cao tốt hơn con mái. Gà chƣa đẻ chịu nhiệt độ tốt hơn gà đang
đẻ trứng.
11
Theo Huỳnh Châu Khanh (2012), đề nghị áp dụng mức nhiệt độ 27,95
0
C
và ẩm độ 81,99% trong chăn nuôi gà đẻ Hisex Brown để đạt năng suất trứng
cao, tiêu tốn thức ăn thấp và đạt hiệu quả kinh tế cao.
2.4.4.3 Ánh sáng
Ánh sáng là yếu tố môi trƣờng quan trọng tác động mạnh mẽ đến quá
trình sinh lý, nó không thể thiếu cho chức năng thị giác và nhận biết của gia
cầm. Ánh sáng ảnh hƣởng trực tiếp đến sự sinh trƣởng, phát triển và phát dục
của chúng. Thông qua hệ thộng nội tiết, ánh sáng kích thích sự phát triển của
buồng trứng, kích thích sự rụng trứng, và sự chín của các bao noãn.
Võ Bá Thọ (1996) nói rằng, thời gian chiếu sáng phải phù hợp với từng
giống gà, từng lứa tuổi và đƣợc chú trọng vào thời kỳ đẻ vì nó ảnh hƣởng đến
năng suất và chất lƣợng của trứng. Trong giai đoạn đẻ trứng, thời gian chiếu
sáng thích hợp cho các giống gà là 16 h/ngày đêm với công suất 4 W/m
2
và
cƣờng độ là 20 lux.
Zhu và Davis (2003) cho biết, màu sắc ánh sáng cũng ảnh hƣởng đến khả
năng sản xuất của gia cầm. Khi đƣợc chiếu với ánh sáng màu đỏ thì chỉ số về
hình dạng của trứng lớn hơn, khả năng sinh sản tốt, tỷ lệ ấp nở cao. Ngoài ra,
còn làm giảm sản lƣợng trứng nhƣng chất lƣợng trứng đƣợc cải thiện khi đƣợc
chiếu với ánh sáng màu xanh lá cây.
Theo Lê Hồng Mận (2003), chƣơng trình chiếu sáng chuồng nuôi ảnh
hƣởng đến sinh trƣởng và sinh sản của gà, cần thực hiện nghiêm ngặt chế độ
chiếu sáng qua các giai đoạn gà con, gà dò, gà đẻ. Đối với gà hậu bị để đẻ
trứng sau 3 ngày nhập gà (tuần 18) thì sẽ đƣợc chiếu sáng liên tục 24 giờ, một
cấu trúc không gian 3 chiều. Các hợp chất này thƣờng tồn tại dƣới dạng phổ
biến là cellulose của thực vật, vỏ cám của hạt ngủ cốc, thành tế bào của nấm
men (saccharomyces cerevisiae), vi khuẩn và một số loại nấm linh chi, nấm
hƣơng…
Một số loại beta-glucan đƣợc sử dụng nhƣ chất dinh dƣỡng ở ngƣời nhƣ
hợp chất tạo mịn và chất xơ hoà tan, tuy nhiên lại có thể bị biến đổi trong quá
trình đun sôi. Các nghiên cứu đã cho thấy dạng hợp chất không hoà tan (1-3/1-
6) -glucan có hoạt tính sinh học cao hơn dạng (1-3/1-4) -glucan. Sự khác
nhau giữa liên kết -glucan và cấu tạo hoá học chủ yếu là do độ hoà tan, phản
ứng và hoạt tính sinh học. Nấm men và nấm y học hấp thụ các beta-glucan cho
khả năng thích nghi với quá trình đề kháng.
2.5.2 Cấu tạo
Beta-glucan có dạng phân tử hình trụ dài chứa khoảng 250000 đơn vị
glucose nối liền nhau. Beta-glucan có 2 dạng: cấu trúc mạch thẳng và cấu trúc
mạch nhánh (Hình 2.2).
Hình 2.2 Cấu trúc hoá học của beta-glucan
(http://vi.wikipedia.org/wiki/Beta-glucan.png/)
13
Dạng cấu trúc mạch thẳng có cấu tạo từ những polysaccharide không
phân nhánh và đƣợc nối với nhau bởi liên kết β-(1-3) và β-(1-4)-D-Glucose
(Hình 2.3).
Hình 2.3 Cấu tạo beta-glucan (1-3) và (1-4)-D-glucan
(http://commons.wikimedia.org/wiki/File:Beta-1,3-1,4-glucan.png)
Beta-glucan mạch phân nhánh có cấu tạo bởi những polysaccharide phân
nhánh và đƣợc nối với nhau bằng liên kết β-(1-3) và β-(1-6)-D-Glucose (Hình
2.4).
Hình 2.4 Cấu tạo beta-glucan (1-3) và (1-6)-D-glucan