ảnh hưởng của mỡ cá tra trong khẩu phần lên năng suất và chất lượng trứng gà hisex – brown giai đoạn 25 – 32 tuần tuổi - Pdf 30

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG

LÝ MINH THIỆN ẢNH HƯỞNG CỦA MỠ CÁ TRA TRONG
KHẨU PHẦN LÊN NĂNG SUẤT VÀ CHẤT
LƯỢNG TRỨNG GÀ HISEX – BROWN
GIAI ĐOẠN 25 – 32 TUẦN TUỔI LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH CHĂN NUÔI – THÚ Y
CÁN BỘ HƯỚNG DẪN
TS. NGUYỄN THỊ THỦY 2014
PHẦN KÝ DUYỆT
Cần Thơ, ngày … tháng … năm 2014 Cần Thơ, ngày … tháng … năm 2014
CÁN BỘ HƯỚNG DẪN DUYỆT BỘ MÔN Lý Minh Thiện
ii

LỜI CẢM TẠ
Sau thời gian học tập và rèn luyện tại trường, tôi đã không ngừng tích lũy
kiến thức và kinh nghiệm từ thực tiễn. Tôi đạt được thành quả ngày hôm nay
là nhờ vào sự động viên từ gia đình, sự giúp đỡ nhiệt tình từ quý Thầy Cô
giảng dạy, sự chia sẻ từ bạn bè xung quanh. Những tình cảm chân thành đó,
tôi xin mãi khắc ghi trong lòng.
Tôi xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến cha mẹ, người đã sinh thành, nuôi
nấng, yêu thương, dạy dỗ, tạo mọi điều kiện cho tôi được ăn học đến ngày
hôm nay và hy sinh một đời vì tôi.
Tôi xin chân thành cảm ơn:
Quý Thầy Cô Trường Đại học Cần Thơ, đặc biệt là các Thầy Cô trong
Bộ môn Chăn nuôi – Thú y, Khoa Nông Nghiệp và Sinh học ứng dụng.
Cô Nguyễn Thị Thủy, cố vấn học tập lớp Chăn nuôi – Thú y khóa 37 đã
hết lòng quan tâm giúp đỡ, động viên tôi trong suốt quá trình học tập, là người
đã tận tình hướng dẫn tôi hoàn thành nghiên cứu này.
Anh Nguyễn Hoài An, anh Trần Thanh Phong và tập thể anh em, Cô chú
làm việc tại trại đã nhiệt tình hướng dẫn, giúp đỡ, tạo mọi điều kiện vật chất và
tinh thần để tôi thuận lợi tiến hành thí nghiệm tại trại gà đẻ ấp Phú Thọ, xã
Tân Phú, huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long.
Tập thể lớp Chăn nuôi – Thú y K37A đã động viên, giúp đỡ, cùng tôi
chia sẽ buồn vui, khó khăn trong quá trình học tập.
Kính chúc tất cả dồi dào sức khỏe, hạnh phúc và thành đạt!

Cần Thơ, ngày … tháng … năm 2014
Sinh viên thực hiện

2.3.2 Nhu cầu protein 11
2.3.3 Nhu cầu vitamin và muối khoáng 13
2.4 Sơ lược về mỡ cá Tra 14
2.5 Các chỉ tiêu về năng suất và chất lượng trứng 15
2.5.1 Sản lượng trứng 15
2.5.2 Khối lượng trứng 15
2.5.3 Chất lượng trứng 16
2.6 Quy luật của sự đẻ trứng 17
2.7 Một số nghiên cứu bổ sung mỡ cá tra đã từng thực hiện 18
2.7.1 Ảnh hưởng bổ sung bột tỏi và mỡ cá Tra lên gà Hisex- Brown 21 –
29 tuần tuổi 18
2.7.2 Ảnh hưởng bổ sung dầu nành và mỡ cá lên gà Hisex – Brown 44 –
52 tuần tuổi 19
2.7.3 Ảnh hưởng bổ sung dầu mỡ lên gà ISA Brown 32 – 36 tuần tuổi 20
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP THÍ NGHIỆM 21
3.1 Phương tiện thí nghiệm 21
3.1.1 Thời gian và địa điểm thí nghiệm 21
3.1.2 Đối tượng thí nghiệm 21
3.1.3 Chuồng trại 21
3.1.4 Dụng cụ thí nghiệm 23
3.1.5 Thức ăn thí nghiệm 24
3.2 Phương pháp thí nghiệm 24
3.2.1 Bố trí thí nghiệm 24
iv

3.2.2 Quy trình chăm sóc nuôi dưỡng 24
3.2.3 Quy trình phòng bệnh cho gà ở trại 25
3.2.4 Phương pháp lấy mẫu 26
3.2.5 Các chỉ tiêu theo dõi 26
3.2.6 Hiệu quả kinh tế 28

phần gà đẻ ISA Brown giai đoạn 32 – 36 tuần tuổi trên chuồng kín 20
Bảng 3.1: Thành phần hóa học của thức ăn, % DM 24
Bảng 3.2: Bố trí thí nghiệm 24
Bảng 3.3: Quy trình sử dụng thuốc và vaccine cho gà ở trại 25
Bảng 4.1: Ảnh hưởng của khẩu phần thí nghiệm lên năng suất trứng 29
Bảng 4.2: Lượng protein thô (CP), năng lượng trao đổi (ME) và béo thô (EE)
ăn vào ở các nghiệm thức 32
Bảng 4.3: Ảnh hưởng của khẩu phần thí nghiệm lên chất lượng trứng 33
Bảng 4.4: Tỷ lệ trứng loại trong mỗi nghiệm thức 36
Bảng 4.5: Tăng trọng trung bình của gà mái thí nghiệm 36
Bảng 4.6: Hiệu quả kinh tế của các nghiệm thức thí nghiệm 37
vi

DANH MỤC HÌNH
Hình 2.1: Hệ sinh dục của gà mái 3
Hình 2.2: Cấu tạo của trứng gà 5
Hình 2.3: Gà mái Hisex- Brown 6
Hình 3.1: Gà mái đẻ Hisex- Brown nuôi thí nghiệm 21
Hình 3.2: Tổng quan chuồng nuôi gà thí nghiệm 22
Hình 3.3: Hệ thống làm mát 22
Hình 3.4: Hệ thống quạt hút 22
Hình 3.5: Hệ thống máng ăn 23
Hình 3.6: Hệ thống nước uống 23
Hình 4.1: Biểu đồ so sánh tỷ lệ đẻ của nghiệm thức giữa các tuần 30
Hình 4.2: Biểu đồ ảnh hưởng bổ sung mỡ cá lên tiêu tốn thức ăn và tỷ lệ đẻ 31
Hình 4.3: Biểu đồ so sánh lượng CP và ME ăn vào giữa các nghiệm thức 32
Hình 4.4: Biểu đồ so sánh khối lượng trứng trung bình qua các tuần 34
Hình 4.5: Biểu đồ ảnh hưởng bổ sung mỡ cá lên tỷ lệ thành phần của trứng .35
vii


sau chăn nuôi heo. Đặc biệt, chăn nuôi gà theo hướng công nghiệp với quy mô
lớn, góp phần cung cấp một nguồn thực phẩm rất lớn cho con người như sản
phẩm thịt và trứng. Trứng là một loại sản phẩm cung cấp nhiều về mặt giá trị
dinh dưỡng. Theo Bùi Xuân Mến (2008), ngoài thịt thì trứng là một trong
những thực phẩm hoàn hảo nhất được biết vì chứng minh được sự cân bằng
tuyệt vời các thành phần protein, mỡ, carbohydrat, khoáng và vitamin. Vì thế,
chăn nuôi gà đẻ hiện nay đang rất được quan tâm phát triển rất mạnh.
Theo Dương Thanh Liêm (2003), chất béo là một trong những dưỡng
chất quan trọng trong nhu cầu dinh dưỡng của gà đẻ trứng. Chất béo là một
nguồn cung cấp năng lượng rất cao và có ảnh hưởng đến năng suất cũng như
chất lượng của trứng. Ngoài cung cấp năng lượng, chất béo còn là dung môi
hòa tan các vitamin A, D, E giúp cơ thể dễ hấp thu và sử dụng. Chất béo dễ bị
oxy hóa trong điều kiện bảo quản thông thường, nhất là khi tiếp xúc với ánh
nắng, nhiệt độ và độ ẩm cao của môi trường. Thức ăn của gia cầm thường
không bổ sung vượt quá 8% chất béo (Bùi Xuân Mến, 2008). Theo Lưu Hữu
Mãnh và ctv (1999), chất béo cung cấp các acid béo thiết yếu là acid linoleic,
acid linolenic và acid arachidonic. Ba acid béo này được xem là cần thiết cho
gà, giống như các acid béo chưa no khác, chúng là thành phần của của màng tế
bào và có vai trò như lipid vận chuyển và là thành phần của enzyme
lipoprotein.
Mỡ cá là loại nguyên liêu tương đối dễ tìm trong điều kiện chăn nuôi cá
Tra phát triển mạnh ở khu vực Đồng bằng sông Cửu Long. Mỡ cá giàu acid
béo chưa no, nguồn cung cấp nhiều acid béo quan trọng cần thiết cho gà đẻ
như acid linoleic, acid linolenic, acid arachidonic và đặc biệt là acid oleic
(Alphonse, 2010). Từ những lợi ích trên tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài:
“Ảnh hưởng của mỡ cá Tra trong khẩu phần lên năng suất và chất lượng
trứng gà Hisex-Brown giai đoạn 25 – 32 tuần tuổi” với mục tiêu: Đánh giá
ảnh hưởng của việc bổ sung các mức độ mỡ cá Tra lên năng suất, chất lượng
trứng và hiệu quả mang lại trên gà đẻ trứng công nghiệp giống Hisex – Brown.


cùng với thức ăn để làm tăng khả năng tiêu hóa những thức ăn nguyên hạt
hoặc hạt sơ chế và những thức ăn có vỏ cứng khác. Hạt sỏi có vai trò kích
thích sự vận động trong mề cũng như cung cấp thêm diện tích bề mặt trong khi
nghiền thức ăn. Khi cho gia cầm ăn thức ăn hỗn hợp ở dạng bột thì vai trò của
hạt sỏi trong mề là không đáng kể.
2.1.2 Đặc điểm hoạt động sinh sản
Gà mái đang đẻ trứng chỉ có một buồng trứng trái hoạt động, nằm trong
xoang bụng, gần dưới xương sống lưng. Lúc mới nở, buồng trứng trái của gà
mái con có khoảng 3600 – 4000 tế bào trứng rất nhỏ và sau đó lòng đỏ sẽ phát
triển và có độ lớn đầy đủ khi gà mái ở tuổi trưởng thành (Bùi Xuân Mến,
2008).
Mỗi lòng đỏ được bao bọc bởi một túi có màng rất mỏng gọi là nang
(follicle) gắn vào cuống buồng trứng. Túi này chứa hệ thống dày các mạch
máu để cung cấp chất dinh dưỡng cho lòng đỏ. Khi một gà hậu bị đạt đến tuổi
trưởng thành, một số trứng phát triển thành lòng đỏ. Khi chín trứng được giải
3

phóng khỏi túi lòng đỏ theo một đường trên thành túi gọi là vết rách (stigma).
Ngay sau khi phóng thích, trứng rớt và chìm xuống phễu (funnel) của ống dẫn
trứng (Bùi Xuân Mến, 2008).
Ống dẫn trứng là một khúc ngoằn ngoèo dài khoảng 50 – 75 cm, chiếm
phần lớn bên trái xoang bụng (Hình 2.1). Nó chia ra làm 5 đoạn xác định khá
rõ ràng, mỗi đoạn đóng một vai trò chuyên biệt để hình thành hoàn chỉnh một
quả trứng. Một gà mái bình thường cần trên 24 giờ để hình thành một quả
trứng. Ở gà trong vòng 10 – 30 phút sau khi đẻ trứng, một trứng chín khác
được tiếp tục phóng thích từ buồng trứng để chuẩn bị cho ngày đẻ kế tiếp.
Chức năng trong mỗi đoạn của ống dẫn trứng được chỉ rõ trong Bảng 2.1 (Bùi
Xuân Mến, 2008).
Đoạn Thời gian trứng lưu lại Chức năng
Phễu (funnel) 15 phút
Nhận trứng rụng, tinh trùng và
trứng thụ tinh
Tiết lòng trắng
(magnum)
3 giờ
Lòng trắng đặc bao quanh lòng
đỏ. Hình thành lớp sợi, dây
chằng, lớp lòng trắng đặc và
loãng bên trong
Hình thành màng vỏ
(isthmus)
1 giờ 15 phút
Màng vỏ trong và ngoài, thêm
nước và muối khoáng. Bảo vệ
chất liệu trong trứng, cách ly
bẩn từ bên ngoài
Tử cung (uterus) 21 giờ
Thêm nước và khoáng làm
căng phồng trứng, tăng lòng
trắng loãng ngoài. Tiết canxi và
sắc tố
Âm đạo (vagina)
Trứng rụng đến khi đẻ
trên 24 giờ
Trứng chuyển qua vùng này
ngay trước khi đẻ, chức năng
chưa được biết rõ ràng
(Nguồn: Bùi Xuân Mến, 2008)

cho 1 kg trứng là 2,36 kg và cho 10 quả trứng là 1,49 kg. Khối lượng cơ thể
vào cuối thời kỳ đẻ là 2150 g/mái. Gà mái đẻ thương phẩm đạt tỷ lệ đẻ 5% ở
20 tuần tuổi, đỉnh cao tỷ lệ đẻ khoảng 92%. Thời gian đạt tỷ lệ đẻ trên 90%
khoảng 10 tuần. Khối lượng trứng trong tuần đẻ đầu là 46 g và tăng dần cho
đến khi kết thúc là 67 g. Tỷ lệ chết trong thời kỳ đẻ trứng là 5,8%. Lượng thức
ăn tiêu thụ đến hết 78 tuần tuổi là 47 kg/con.
6 Hình 2.3: Gà Hisex Brown
(Nguồn: www.safnepal.com)
2.2.1.1 Nhu cầu dinh dưỡng
Gà đẻ Hisex – Brown cần lượng nhu cầu dinh dưỡng cần thiết được trình
bày cụ thể qua Bảng 2.2.
Bảng 2.2: Nhu cầu dinh dưỡng gà đẻ Hisex – Brown
Giai đoạn (tuần tuổi) Thành phần
dinh dưỡng
Đơn
vị
0 – 3


2750

2750

2775

2750

2725

Xơ (max) % 3,5

3,5

6,0

6,0

5,0

5,5

5,5

Béo (max) % 6,5

6,5

6,0


0,38

0,41

0,39

0,36

Methionine
+ Cysteine
% 0,92

0,92

0,61

0,68

0,75

0,69

0,63

Lysine % 1,20

1,20

0,75


0,56

0,53

0,50

Calcium % 1,0

1,0

0,9

2,2

3,7

4,0

4,2

Phosphor
hữu dụng
% 0,50

0,50

0,45

0,42


0,20

0,18 – 0,2

(Nguồn: Công ty TNHH Emivest Việt Nam, 2010)
7

2.2.1.2 Tỷ lệ đẻ và trọng lượng trứng chuẩn
Gà đẻ Hisex – Brown có tỷ lệ đẻ và khối lượng trứng chuẩn được trình
bày cụ thể qua Bảng 2.3.
Bảng 2.3: Tỷ lệ đẻ và khối lượng trứng chuẩn của gà đẻ Hisex – Brown
Tuần tuổi Tỷ lệ đẻ, % Khối lượng trứng, g
18 6,0 42,8
19 16,0 45,3
20 36,0 47,8
21 66,0 50,8
22 88,0 53,8
23 93,0 56,0
24 94,5 58,2
25 95,0 59,2
26 95,0 59,6
27 95,0 59,8
28 95,0 60,0
29 94,7 60,2
30 94,5 60,4
31 94,3 60,6
32 94,1 60,9
33 93,9 61,2
34 93,6 61,5
35 93,3 61,8

60 83,3 64,4
(Nguồn: Công ty TNHH Emivest Việt Nam, 2010)

2.2.2 Giống gà Lohmann Brown
Lohmann Brown là giống gà đẻ trứng nâu được nhập nội từ Đức vào
Việt Nam. Gà mái thương phẩm mới nở lông màu nâu chọn nuôi, trống màu
trắng loại. Gà bố mẹ trưởng thành có khối lượng trống 3 – 3,3 kg, mái 2 – 2,2
kg. Sản lượng trứng cao 290 – 300 quả/mái/năm, trứng to 63,5 – 65 g, tiêu tốn
thức ăn cho 10 quả trứng từ 1500 – 1600 g. Gà nhập vào Việt Nam thích nghi
tốt, nuôi phổ biến ở nhiều vùng, cho năng suất cao (Lê Hồng Mận, 2003).
2.2.3 Giống gà Brown Nick
Gà có nguồn gốc từ hãng N&N International của Hoa Kỳ, nhập vào nước
ta từ năm 1993. Gà con phân biệt trống mái lúc mới nở, tỷ lệ nuôi sống đến 18
tuần tuổi đạt 96 – 98%. Thể trọng lúc 18 tuần tuổi đạt 1,54 kg. Thời gian khai
thác trứng từ 19 – 76 tuần, đạt tỷ lệ sống 91 – 94%. Tuổi đẻ đạt 50% ở tuần
tuổi 21 – 23 , sản lượng trứng đến 76 tuần tuổi trên số gà đầu kỳ đẻ 305 – 325
trứng. Trứng nặng 62,5 – 63,5 g/quả, vỏ màu nâu sẫm, hệ số chuyển hóa 2,2 –
2,3 kg thức ăn/kg trứng (Bùi Xuân Mến, 2008).
2.2.4 Giống gà Goldline – 54
Gà chuyên trứng Hà Lan, ở cấp bố mẹ có lông màu trắng dòng mái, lông
màu nâu dòng trống. Gà thương phẩm chọn mái lông màu nâu để nuôi, trống
lông trắng loại. Sản lượng trứng cao 260 – 280 quả/mái/năm, trứng có khối
lượng 56 – 60 g, vỏ nâu, giai đoạn đẻ cao 85 – 90% từ tuần 32 – 45 hơn các
giống gà khác. Tiêu tốn thức ăn cho 10 quả trứng từ 1500 – 1600 g. Gà nhập
vào Việt Nam thích nghi tốt, nuôi ở nhiều vùng (Lê Hồng Mận, 2003).
2.2.5 Giống gà Hyline
Gà chuyên trứng cao sản ở Mỹ. Gà thương phẩm mới nở chọn mái lông
màu nâu để nuôi, trống lông trắng loại. Gà mình gọn, mào đơn, sản lượng
trứng 270 – 300 quả/mái/năm, trứng to 56 – 60 g, vỏ nâu, tiêu tốn thức ăn cho
9

Thời kỳ đầu được tính từ lúc gà sắp đẻ đến lúc gà đạt tỷ lệ cao nhất và
khối lượng trứng đạt mức cực đại, thời điểm này thường vào khoảng 35 – 48
tuần tuổi tùy giống gà. Trong thời kỳ đầu giai đoạn đẻ gà được cho ăn tự do để
đẻ rộ, nhanh đạt tỷ lệ đẻ và khối lượng trứng.Thời kỳ sau được tính từ lúc gà
đẻ đạt đỉnh cao đến kết thúc. Hầu hết, gà đẻ các giống trong thời kỳ này đều
ăn theo khẩu phần định mức. Khi đạt được đỉnh cao của tỷ lệ đẻ, gà tiếp tục đẻ
tốt và kéo dài một vài tuần. Lúc này định mức khẩu phần gần như tối đa. Về
sau, gà có xu hướng giảm tỉ lệ đẻ dần theo quy luật, cần kịp thời điều chỉnh
khẩu phần một cách tương xứng cho đến khi kết thúc thời kỳ khai thác. Không
10

giảm lượng thức ăn quá nhanh và đột ngột vì có thể làm cho gà giảm tỷ lệ đẻ
dưới mức chuẩn và khối lượng trứng bị nhỏ lại. Ngược lại giảm mức thức ăn
không kịp thời gà sẽ mập nhanh, gây lãng phí, giảm đẻ nhanh, phải kết thúc
khai thác trước hạn định. Hai trường hợp trên đều kém hiệu quả kinh tế.
2.3.1 Nhu cầu năng lượng
2.3.1.1 Nhu cầu duy trì
Theo Bùi Xuân Mến (2008), gia cầm nuôi cho mục đích sản xuất, trước
hết phải nuôi dưỡng để duy trì sự sống, mặc dù chúng có sản xuất hay không.
Một lượng đáng kể thức ăn tiêu tốn cho gia cầm là sử dụng cho duy trì sự
sống. Nhu cầu năng lượng để duy trì của gia cầm bao gồm sự trao đổi cơ bản
và hoạt động bình thường. Trao đổi cơ bản là sự tiêu phí năng lượng tối thiểu
hoặc sự sinh nhiệt trong những điều kiện khi ảnh hưởng của thức ăn, nhiệt độ
môi trường và hoạt động chủ động bị loại ra. Sự sinh nhiệt cơ bản thay đổi
theo độ lớn của vật nuôi, nhìn chung thì độ lớn vật nuôi tăng thì sự sinh nhiệt
cơ bản trên một đơn vị thể trọng giảm. Sự sinh nhiệt cơ bản của gà con mới nở
vào khoảng 5,5 calo/g thể trọng trong một giờ, nhưng trái lại đối với gà mái
trưởng thành thì chỉ cần phân nửa số năng lượng này.
Năng lượng yêu cầu cho hoạt động có thể thay đổi đáng kể, thường được
ước tính bằng khoảng 50% của sự trao đổi cơ bản. Điều này có thể bị ảnh

tiêu thụ thức ăn của gia cầm.
Gà mái có khả năng thay đổi mức tiêu thụ thức ăn theo mức năng lượng
trong khẩu phần. Tuy nhiên mức năng lượng tối thiểu trong khẩu phần của gà
đang đẻ không thể dưới mức 2640 kcal ME/kg. Khi gà mái phải chịu đựng
trong môi trường lạnh thì mức năng lượng không thể thấp hơn 2750 kcal
ME/kg. Thường thì mức năng lượng thực trong khẩu phần sẽ tùy thuộc nhiều
vào mức độ của giá thức ăn trong thực tế sản xuất.
Theo Dương Thanh Liêm (2003), đặc trưng của gia cầm là không có
vùng nhiệt độ trung hòa rõ rệt. Khi nhiệt độ môi trường tăng lên hay giảm
xuống thấp thì sẽ ăn thức ăn ít hay nhiều lên.
Trong thực tế khi được cho ăn tự do, gà tự cân đối năng lượng ME ăn
vào với nhu cầu của chúng. Thường hàm lượng ME trong thức ăn gà đẻ từ 10
– 12 MJ/kg (11,5 – 13,5 MJ/kg chất khô). Nếu tăng hay giảm 1% hàm lượng
năng lượng trong thức ăn (lớn hơn 12 MJ hay dưới 10 MJ) gây nên sự tăng
hay giảm tương ứng lượng ăn khoảng 0,5%. Nếu gà ăn khẩu phần chứa ít hơn
10 MJ/kg thức ăn có thể làm tăng tích lũy mỡ, làm mau hư gà mái nhưng
không làm tăng số lượng trứng đẻ (mặc dù khối lượng trứng có thể tăng).
2.3.2 Nhu cầu protein
2.3.2.1 Nhu cầu duy trì
Theo Bùi Xuân Mến (2008), protein cần thiết cho duy trì tương đối thấp,
vì thế yêu cầu protein trước hết tùy thuộc vào lượng cần thiết cho mục đích
sản xuất. Để đáp ứng nhu cầu protein thì các acid amin thiết yếu phải được
cung cấp đủ lượng và tổng hợp nitơ trong khẩu phần phải đủ cao và ở dạng
thích hợp để cho phép tổng hợp các acid amin không thiết yếu.
Một khi lượng protein tối thiểu được yêu cầu cung cấp cho sinh trưởng
hoặc sản xuất trứng tối đa thì protein cần cộng thêm do bị oxy hóa thành năng
lượng cũng phải tính đến. Protein cũng không được dự trữ trong cơ thể theo số
12

lượng có thể đánh giá được. Thực tế sản xuất, protein luôn là thành phần thức

cho duy trì cũng phải được xem xét và nhu cầu protein hàng ngày cho những
mái đang đẻ cao cũng đầy đủ như cho gà thịt đang sinh trưởng nhanh.
Trong thời kỳ đầu của sản xuất trứng, gà mái đang còn tăng trọng nên
chúng cần tích lũy protein cho cơ thể và cho sản xuất trứng. Sau đó nhu cầu
protein của tăng trọng giảm xuống nhưng độ lớn của trứng lại tăng lên. Để có
thể tạo ra được những trứng lớn và đạt tỷ lệ đẻ tối đa, một gà mái một ngày
cần phải tiêu thụ 17 g protein (cân đối các acid amin).
13

Trong bất cứ nghiên cứu nào về nhu cầu protein của gà mái đang đẻ phải
đương nhiên thừa nhận một sự cân đối hợp lý các acid amin trong protein của
khẩu phần. Thiếu hụt một acid amin thiết yếu sẽ làm sụt giảm khả năng sản
xuất trứng, giảm độ lớn của trứng và giảm mức protein tổng số. Việc xác định
nhu cầu các acid amin riêng rẽ cho gà mái đẻ có khó khăn hơn là cho gà thịt.
Vì thể những ước lượng nhu cầu acid amin cho gà mái đẻ chủ yếu dựa vào
thành phần các acid amin của protein trong trứng. Tỷ lệ của các acid amin
thiết yếu trong protein của khẩu phần phải đi gần với tỷ lệ các acid amin được
tạo thành trong trứng.
2.3.3 Nhu cầu vitamin và muối khoáng
Theo Bùi Xuân Mến (2008), hầu hết nhu cầu của gia cầm về vitamin và
muối khoáng đã được biết chính xác, đặc biệt đối với các vitamin và khoáng
chất biết chắc chắn là bị thiếu trong các khẩu phần sản xuất. Ngoại trừ một số
ít các vitamin hoặc khoáng chất không biết chắc chắn là thiếu dưới những điều
kiện sản xuất, các mức trong khẩu phần được khuyến cáo là sẽ cung cấp lượng
đủ để cho phép gia cầm sản xuất hiệu quả.
Không như protein, các yếu tố vitamin và khoáng vi lượng luôn được
cung cấp vượt quá mức nhu cầu tối thiểu trong khẩu phần. Vì vậy, nhu cầu
vitamin và khoáng vi lượng thường không được chỉ dẫn theo tỉ lệ thức ăn tiêu
thụ hoặc mức năng lượng có trong thức ăn, từ đó số lượng đủ nằm trên mức
nhu cầu tối thiểu luôn được tính trong các khẩu phần gia cầm.

alpha linolenic hay acid omega 3, được biết có nhiều trong mỡ cá ở vùng biển
sâu hoặc đi theo con đường tổng hợp. Ngày nay, các nhà khoa học đã xác định
được thành phần mỡ cá. Việt Nam không những có đủ thành phần acid béo
không no mà còn có thành phần tiền chất DHA. Các acid béo trong mỡ cá
được trình bày trong Bảng 2.4.
Bảng 2.4: Thành phần các acid béo trong mỡ cá tra
Trong mỡ cá sau tinh
luyện
STT

Thành phần acid béo

hiệu

Trong mỡ
cá thô (%)

Phần lỏng
(%)
Phần đặc
(%)
1 Acid miristic 14:0

0,22

1,21

1,25

2 Acid palmitic 16:0


6 Acid linolenic 18:3

1,48

0,91

0,24

7 Acid arachidic 20:0

0,34

0,37

0,94

8 Acid gadoleic 20:1

0,60

0,62

0,33

9 Acid cetoleic 22:1

0,83

0,43

sánh cần xem cách tính cụ thể như thế nào, trong trường hợp cụ thể mà số liệu
được đưa ra.
2.5.2 Khối lượng trứng
Theo Nguyễn Đức Hưng (2006), khối lượng trứng gia cầm mái được xác
định bằng khối lượng trứng trung bình trên năm (g/quả) hoặc khối lượng trứng
sản xuất ra từ một gia cầm mái trên năm (kg trứng). Khối lượng trứng thường
được xác định ở các thời điểm: Khối lượng quả trứng đẻ đầu tiên, khối lượng
quả trứng đẻ lúc 32 tuần tuổi, khối lượng quả trứng đẻ lúc 52 tuần tuổi.
Gia cầm lúc 32 tuần tuổi là lúc sức sản xuất biểu hiện cao nhất, lúc 52
tuần tuổi là lúc gia cầm hoàn toàn trưởng thành. Để tính khối lượng trung bình
trên năm, người ta tính khối lượng trung bình của 10 tháng đẻ trứng. Ở mỗi
tháng đẻ, cân 3 quả trứng rồi lấy khối lượng trung bình. Ba quả trứng được cân
từ một gia cầm mái hoặc khối lượng trứng trung bình toàn đàn gia cầm mái
vào 3 ngày liên tiếp trong tháng, hoặc 3 ngày với khoảng cách cố định và cân
bằng cân kỹ thuật có độ chính xác 0,1 g. Khối lượng trứng trung bình của gà
là 55 – 65 g.

Trích đoạn Các chỉ tiêu về năng suất và chất lượng trứng Chất lượng trứng Ảnh hưởng của khẩu phần thí nghiệm lên chất lượng trứng
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status