ảnh hưởng bổ sung yucca schidigera trong khẩu phần lên năng suất và chất lượng trứng của gà đẻ hisex brown - Pdf 31

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG

CAM THỊ MỸ HẠNH

ẢNH HƯỞNG BỔ SUNG YUCCA
SCHIDIGERA TRONG KHẨU PHẦN LÊN
NĂNG SUẤT VÀ CHẤT LƯỢNG TRỨNG
CỦA GÀ ĐẺ HISEX BROWN

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH CHĂN NUÔI - THÚ Y

2014


TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG

CAM THỊ MỸ HẠNH

ẢNH HƯỞNG BỔ SUNG YUCCA
SCHIDIGERA TRONG KHẨU PHẦN LÊN
NĂNG SUẤT VÀ CHẤT LƯỢNG TRỨNG
CỦA GÀ ĐẺ HISEX BROWN

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH CHĂN NUÔI - THÚ Y

CÁN BỘ HƯỚNG DẪN
TS. NGUYỄN THỊ KIM KHANG

Cần Thơ, ngày tháng năm 2014
DUYỆT CỦA KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG

……………………………………………….

i


LỜI CAM ĐOAN
Kính gửi: Ban lãnh đạo khoa Nông Nghiệp & SHƯD và các thầy cô của
Bộ Môn Chăn Nuôi.
Tôi tên: Cam Thị Mỹ Hạnh, MSSV: 3118080 là sinh viên ngành Chăn
Nuôi, khóa 37, niên học: 2011 – 2014.
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân. Các số liệu,
kết quả trình bày trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố
trong bất cứ công trình luận văn nào trước đây.
Tác giả

Cam Thị Mỹ Hạnh

ii


LỜI CẢM ƠN
Trải qua gần 3,5 năm học tập và rèn luyện dưới giảng đường Đại học
Cần Thơ, với sự tận tâm hướng dẫn, truyền dạy những kiến thức và kinh
nghiệm quý báo của các thầy cô cùng sự nỗ lực của bản thân, hôm nay tôi đã
hoàn thành xong luận văn tốt nghiệp. Trước khi rời khỏi mái trường kính yêu
để chuẩn bị hành trang mới bước vào đời, tôi xin gởi đến tất cả mọi người lời
cám tạ chân thành và sâu sắc nhất.

nghiệm thức đối chứng (ĐC) chỉ bao gồm thức ăn của cơ sở (KPCS), YC50
gồm KPCS + 50mg bột Yucca/kg thức ăn, YC75 gồm KPCS + 75mg bột
Yucca/kg thức ăn, YC100 gồm KPCS + 100mg bột Yucca/kg thức ăn. Thí
nghiệm được lặp lại 10 lần, mỗi lần lặp lại là 4 con gà. Thí nghiệm nuôi
dưỡng được thực hiện tại Trại gà 1 ấp Đồng Tâm, xã Tam Lập, huyện Phú
Giáo, tỉnh Bình Dương, từ ngày 04/08/2014 đến ngày 12/10/2014.
Kết quả phân tích cho thấy bổ sung Yucca vào khẩu phần ăn của gà mái
đẻ Hisex Brown giai đoạn 25-34 tuần tuổi cải thiện được năng suất trứng và
tỷ lệ đẻ của gà qua các tuần tuổi. So với ĐC, đặc biệt là ở tuần 34 (P0,05). Chất lượng trứng
của gà được cải thiện khi có bổ sung Yucca trong khẩu phần, đặc biệt là ở các
chỉ tiêu về tỷ lệ lòng trắng, tỷ lệ lòng đỏ và màu sắc lòng đỏ cao hơn so với
ĐC (P
4.1 Nhận xét chung về đàn gà thí nghiệm ....................................................... 37
4.2 Nhiệt-ẩm trong chuồng nuôi ...................................................................... 37
4.3 Ảnh hưởng của chất bổ sung lên năng suất trứng...................................... 38
4.3.1 Ảnh hưởng của chất bổ sung lên khối lượng gà thí nghiệm ................... 38
4.3.2 Năng suất trứng và Tỷ lệ đẻ .................................................................... 39
v


4.3.3 Tỷ lệ trứng loại của gà thí nghiệm .......................................................... 41
4.3.4 Tiêu tốn thức ăn (g/mái) và Hệ số chuyển hóa thức ăn (g/trứng)........... 41
4.4 Ảnh hưởng của chất bổ sung lên chất lượng trứng .................................... 43
4.4.1 Ảnh hưởng của nghiệm thức................................................................... 43
4.4.2 Ảnh hưởng của tuần tuổi......................................................................... 45
4.4.3 Tương tác giữa nghiệm thức và tuần tuổi ............................................... 46
4.4 Hiệu quả kinh tế ......................................................................................... 48
CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ ........................................................ 50
5.1. Kết luận ..................................................................................................... 50
5.2. Đề nghị ...................................................................................................... 50
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................... 51
PHỤ CHƯƠNG ............................................................................................... 54

vi


DANH SÁCH BẢNG
Bảng 2.1: Bảng chỉ tiêu của giống gà Hisex Brown .......................................... 3
Bảng 2.2: Nhu cầu dinh dưỡng gà đẻ ................................................................ 3
Bảng 2.3: Nhu cầu vitamin của gà đẻ ................................................................ 9
Bảng 2.4: Nhu cầu các nguyên tố khoáng ở các loại gà: ................................. 15
Bảng 2.5: Nhu cầu nước của gà đẻ theo nhiệt độ ............................................ 16

Hình 3.9 Bồn chứa nước .................................................................................. 30
Hình 3.10 Thức ăn hỗn hợp 7606 sử dụng trong thí nghiệm .......................... 31
Hình 3.11 Bố trí thí nghiệm ............................................................................. 32
Hình 3.12 Thu lượm trứng ............................................................................... 34
Hình 3.13 Trứng đo các chỉ tiêu ...................................................................... 34
Hình 3.14 Quạt so màu Roche ......................................................................... 36

viii


DANH SÁCH CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt
Ca
CP, %
CSHD
CSLTD
CSLĐ
ĐC
ĐDV
HU
ME
MLD
NEm
NT
P
TPDD
TLLD
TLLT
TLV
TA

Đơn vị
Khẩu phần cơ sở
Tiêu tốn thức ăn
Hệ số chuyển hóa thức ăn

ix


CHƯƠNG 1: ĐẶT VẤN ĐỀ
Trứng là một nguồn thực phẩm rất giàu dinh dưỡng và khá cân bằng về
dưỡng chất, và là nguồn protein an toàn nhất trong các nguồn protein có nguồn
gốc từ động vật đối với con người. Thành phần của trứng có chứa hàm lượng
cao protein, các acid béo chưa bão hòa đơn và đa, acid amin, khoáng và
vitamin (Cook & Briggs, 1997).
Trong cây Yucca schidigera có hợp chất saponin có khả năng làm giảm
được ammonia và mùi hôi chất thải trong chuồng nuôi do saponin có tác dụng
đến chức năng của thận, làm tăng tốc độ phân giải loại bỏ urê, dẫn đến giảm
thấp hàm lượng urê và ammonia trong máu (Kong, 1998). Bên cạnh đó,
saponin còn có khả năng kết hợp với cholesterol trên màng protozoa, làm cho
màng bị phá hủy, bị ly giải và tế bào protozoa bị chết (Makkar et al, 1998;
Wang et al, 1998). Ngoài ra, bột hay dịch chiết của cây Yucca không chỉ có
saponin mà còn có những hóa thực vật khác như oligosaccharide, phenol,
stilbene, resveratrol. Mặc khác, cây Yucca còn ngăn ngừa một số bệnh nhiễm
khuẩn của heo, gà, tôm, cá giúp kích thích tăng trưởng 10%, giảm 10–20% chi
phí thức ăn (Vũ Duy Giảng, 2010).Vì thế, Yucca schidigera thường được bổ
sung vào khẩu phần ăn cho gia súc và gia cầm để cải thiện tốc độ tăng trưởng,
năng suất và kiểm soát lượng amonia thải ra môi trường ngoài. Một số nghiên
cứu cho thấy việc bổ sung Yucca cho kết quả khá tốt như: Ở động vật nhai lại,
saponin từ cây yucca, quillaia làm giảm nồng độ NH3 trong dạ cỏ (Wallace et
al., 1994; Hristov et al.,1999). Người ta nhận thấy rằng heo con sinh ra từ heo

67g. Sản lượng trứng đến 78 tuần tuổi là 307 quả/mái. Tỉ lệ chết trong thời kỳ
đẻ trứng là 5,8%. Khối lượng gà mái khi kết thúc đẻ khoảng 2,15kg/con.
Lượng thức ăn tiêu thụ đến hết 78 tuần tuổi là 47kg/con (Bảng 2.1).

công ty Emivest

Hình 2.1 Gà đẻ Hisex Brown
(http://www.safnepal.com/products_hisexbrown.html)

2


Bảng 2.1: Bảng chỉ tiêu của giống gà Hisex Brown

Chỉ tiêu
Tỷ lệ sống
Ngày tuổi đạt 50% năng suất
Đạt đỉnh (%)
Số trứng/gà (quả)
Khối lượng trứng (g)
Tiêu tốn thức ăn (g/ngày)
Chuyển hóa thức ăn (kg/kg)
Độ cứng của vỏ (g)
Màu vỏ trứng
Đơn vị Haugh

Đơn vị
%
ngày
%

3–9
Protein
%
20
20
Năng lượng
Cal
2975
2975
Xơ (max)
%
3,5
3,5
Béo (max)
%
6,5
6,5
Linoleic acid %
1,5
1,5
Acid amin tiêu hóa
Methionine
%
0,54
0,54
Methionine +
%
0,92
0,92
Cysteine


9–17
15,5
2750
6
6
1,25

17–19
16,5
2750
6
6
1,25

19–45
16,7
2775
5
8
2,2

45–70
16,2
2750
5,5
8,5
1,6

70–kt

0,8
0,15
0,52

0,8
0,17
0,56

0,75
0,16
0,53

0,7
0,15
0,5

0,9

2,2

3,7

4

4,2

0,45

0,42


mô mềm của các tổ chức của động vật như: cơ, mô liên kết, da, lông...Ở gia
cầm protein có trong lông, mỏ,...
Protein tham gia cấu tạo tế bào là thành phần quan trọng của sự sống,
protein có vai trò quan trọng trong vận chuyển các chất dinh dưỡng qua thành
ruột vào máu và từ máu đến các mô của cơ thể và qua màng tế bào. Chiếm đến
khoảng 1/5 khối lượng cơ thể gia cầm, 1/7-1/8 khối lượng trứng. Protein là
hợp chất hữu cơ quan trọng không có chất dinh dưỡng nào thay thế vai trò của
protein trong tế bào sống vì phân tử protid ngoài cacbon, hydro, oxy còn có
nitơ, lưu huỳnh, phospho mà ở các phân tử mỡ, bột đường không có.
Sản phẩm thịt, trứng đều cấu tạo từ protid. Không đủ protein trong thức
ăn, năng suất chăn nuôi giảm. Protid tham gia điều hòa quá trình đồng hóa các
chất dinh dưỡng của thức ăn cho cơ thể, đồng thời nó còn cung cấp năng
lượng cho cơ thể (Bùi Đức Lũng và Lê Hồng Mận, 1999).
Nhu cầu protein trong cơ thể là sự cân đối các axít amin không thay thế.
Đối với gà con, nhu cầu protein cho duy trì cơ thể và phát triển sinh trưởng
của các bộ phận mô cơ. Ở gà thịt cần tỷ lệ protein tương đối cao trong khẩu
phần để hỗ trợ tăng trưởng nhanh.
Cân bằng các axit amin có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong cân bằng
các chất dinh dưỡng bởi: tất cả các axit amin cần thiết cho vật nuôi đều được
lấy từ thức ăn, các axit amin được dùng chủ yếu để tổng hợp protein củ cơ thể,
không có sự dự trữ các axit amin trong cơ thể. Cân bằng bị phá vỡ sẽ làm giảm
lượng thức ăn thu nhận và khả năng tăng trọng.
2.2.2 Nhu cầu năng lượng
Dinh dưỡng của gia cầm, năng lượng thường được xem là nguồn dinh
dưỡng giới hạn nhất vì nhu cầu quá lớn so với các chất dinh dưỡng khác. Nhu
cầu năng lượng của gia cầm có thể được xác định là mức năng lượng cần thiết
cho sinh trưởng hoặc cho sản xuất trứng và cho duy trì mọi hoạt động sống
của cơ thể. Theo Nguyễn Đặng Ngô (2005), nhu cầu năng lượng cho gà là
mang tính thiết yếu, ở gà nhu cầu năng lượng được biểu thị bằng năng lượng
trao đổi Kcal/kg thức ăn. Nếu hàm lượng trong thức ăn cao gà sẽ ăn ít còn hàm

loạn, nếu nhiệt độ tiếp tục tăng nữa thì cơ thể gà không bị mất năng lượng như
trên mà lúc này ta phải biết giảm năng lượng trong thức ăn một cách hợp lý
(Trần Thị Kim Oanh, 1998).
Những thay đổi về mức ăn vào thì tỉ lệ nghịch với sự thay đổi năng
lượng, người ta dùng chỉ số của một số axít amin đặc biệt/năng lượng (hay chỉ
số năng lượng: protein) trong việc thiết lập khẩu phần ăn chi gia cầm (NRC,
1994).
Mức ăn vào bị ảnh hưởng ngoài mức năng lượng và sự cân bằng dưỡng
chất thì mật độ dưỡng và nhiệt độ môi trường xung quanh cũng tác động
tương tự. Nhiệt độ tăng thì mức ăn vào giảm, nghiên cứu ở gà đẻ Leghorn sẽ
giảm 1,5 g thức ăn mỗi ngày khi nhiệt độ tăng 10C trong phạm vi từ 100C đến
350C (NRC, 1994). Phản ứng giảm lượng thức ăn khi gia tăng nhiệt độ được
đề xuất ở gà Tây (NRC, 1994).
Năng lượng thuần cần cho một mái đang có tỷ lệ đẻ cao gồm năng lượng
tiêu phí cho duy trì và năng lượng dự trữ trong trứng. Nếu tốc độ trao đổi cơ
bản được ước lượng là 68 kcal/kg thể trọng trao đổi (lũy thừa 0,75 của thể
trọng sống), hoạt động duy trì coi như bằng 50% của trao đổi cơ bản và một
trứng lớn chứa 90 kcal. Một gà mái nặng 1,8 kg, trong môi trường thích hợp
đẻ một trứng một ngày sẽ cần khoảng 250 kcal năng lượng trong một ngày.
5


Hiệu quả sử dụng năng lượng trao đổi cho mục đích này là 75%, do đó năng
lượng trao đổi cần ăn vào khoảng 330 kcal ME. Như vậy, lượng thức ăn cần
thiết để đáp ứng một ngày cho gà đẻ là 110g, chứa 2974 kcal ME/kg. Những
giả định này sẽ tạo cơ sở cho ước lượng tiêu thụ thức ăn của gia cầm.
Gà mái có khả năng thay đổi mức tiêu thụ thức ăn theo mức năng lượng
trong khẩu phần. Tuy nhiên mức năng lượng tối thiểu trong khẩu phần của gà
đang đẻ không thể dưới mức 2640 kcal ME/kg. Khi gà mái phải chịu đựng
trong môi trường lạnh thì mức năng lượng không thể thấp hơn 2750 kcal

6


tích đầy urat, gà đẻ giảm năng suất trứng do buồng trứng phát triển kém, niêm
mạc ống dẫn trứng bị sừng hóa, vỏ trứng mỏng, tỷ lệ thụ tinh thấp, tỷ lệ chết
phôi cao, thường chết phôi.
Nguồn vitamin A và sắc tố vàng được cung cấp từ những thực liệu chứa
nhiều caroten như bắp vàng, bột cỏ giúp cho màu lòng đỏ trứng đậm hơn, da
và mỡ gà vàng. Vitamin A dễ hư hỏng khi trộn vào thức ăn nên cần có thêm
chất chống oxy hóa, khi tồn trữ thức ăn lâu sẽ bị mất vitamin A.
Nhu cầu vitamin A ở gia cầm phụ thuộc vào tuổi và sức sản xuất của
chúng: gia cầm non đang sinh trưởng nhanh cần khoảng 12000-15000 IU/kg
thức ăn, gà đẻ trứng cần 10000-12000 IU/kg.
Vitamin D (Cholecalciferol) tham gia vào quá trình trao đổi chất khoáng,
protein và lipid. Giúp điều hòa quá trình gắn kết Ca, P và Mg vào xương, kích
thích các phản ứng oxy hóa khử. Khi thiếu vitamin D gia cầm non mắc bệnh
còi xương, xương chân và xương lưỡi hái cong, dị dạng; gà đẻ bị bệnh xốp
xương, xương dễ gẫy, bại liệt chân, lòng trắng trứng loãng, vỏ trứng mỏng, dễ
vỡ, tỷ lệ ấp nở thấp, phôi chết nhiều ở ngày ấp thứ 19-20. Nhu cầu vitamin D
cho gà: gà con 2000-2200 UI, gà đẻ 1500 UI/kg thức ăn.
Vitamin E (Tocoferol) giúp ngăn cản quá trình oxy hóa, bảo vệ các hợp
chất sinh học và các axít béo chưa no, tạo điều kiện thuận lợi trao đổi
Phospho, glucid và protein, kích thích sự tạo thành các hoocmon thùy trước
tuyến yên, tăng cường sự hấp thu các vitamin A và D, giúp ổn định thành
mạch, màng tế bào của tuyến sinh dục. Thiếu sẽ gây tình trạng gà bị ngẹo đầu,
mỏ trúc xuống, mất thăng bằng, đi đứng loạng choạng, đi thụt lùi, hoại tử cơ
trắng vùng cơ ức và cơ đùi (giống như tình trạng thiếu Selen). Ở gia cầm sinh
sản sẽ giảm tỷ lệ thụ tinh, giảm tỷ lệ đẻ, trứng đã thụ tinh có phôi phát triển
kém, phôi chết nên tỷ lệ ấp nở thấp. Nhu cầu vitamin E cho gà: gà con 15-20
UI, gà đẻ 20-30 UI/kg thức ăn.

và cần cho tế bào cơ quan hô hấp. Khi thiếu vitamin B5 làm các lóp biểu bì
của da và niêm mạc đường tiêu hóa và hô hấp bị tổn thương, tỷ lệ ấp nở kém.
Nhu cầu B5 cho gà: gà con dưới 8 tuần tuổi 20-55 mg; gà đẻ 10-15 mg/kg
thức ăn.
Vitamin B6 (Pyridoxine) có vai trò tham gia decarboxyl hóa và preamin
hóa các axít amin, cần thiết cho sự chuyển hóa protid thành mỡ, cho tiếp thu
các axít béo chưa no. Thiếu vitamin B6 sẽ dẫn đến tình trạng giảm tính thèm
ăn, ăn ít, chậm lớn, gây thiếu máu. Nhu cầu đối với gà thịt là 4,5 mg/kg thức
ăn, gà đẻ là 3,5 mg/kg thức ăn, khi tỷ lệ protein trong thức ăn tăng thì nhu cầu
vitamin B6 cũng tăng lên.
Vitamin B9 (Folacin) có nhiều trong các loại thức ăn xanh và được vi
khuẩn đường ruột tổng hợp, chỉ thiếu khi thức ăn nấu ở nhiệt độ cao hoặc gà bị
bệnh đường ruột. Khi thiếu sẽ gây thiếu máu, số lượng hồng cầu giảm, gà con
giảm tăng trọng, còi cọc, xuất hiện sự rối loạn sắc tố như trên lông đen, vàng
có những đốm trắng. Gà sinh sản cho trứng tỷ lệ ấp nở thấp. Nhu cầu vitamin
B9 cho gà: gà con là 1 mg/kg thức ăn, gà đẻ là 0,7 mg/kg thức ăn.
Vitamin B12 (Cyanocobalamin) có vai trò trong tạo máu, kích thích tăng
trưởng, cần cho tổng hợp methionine. Khi thiếu B12 gây hiện tượng thiếu
máu, giảm tăng trọng, sức kháng bệnh kém, gà đẻ giảm tỉ lệ ấp nở, phôi chết
nhiều. Nhu cầu vitamin B12 cho gà: gà con dưới 8 tuần tuổi 12-20 mg; gà mái
đẻ 10-15 mg/kg thức ăn.
Vitamin C tham gia quá trình hô hấp tế bào, tăng cường các phản ứng
oxy hóa khử, kích thích sự sinh trưởng và đổi mới tổ chức tế bào, tăng cường
khả năng tạo huyết sắc tố, thúc đẩy sự đông máu, tăng cường sức đề kháng của
8


cơ thể, chống stress, tạo điều kiện gia tăng năng suất và phẩm chất trứng, tinh
trùng, có tính chất chống oxy hóa trong cơ thể. Vitamin C được tổng hợp trong
cơ thể nhưng trong những trường hợp gia cầm bị bệnh hoặc trong tình trạng

mg/kg
Pantothenic acid
mg/kg
Pyridoxine
mg/kg
Riboflavin
mg/kg
Thiamin
mg/kg

Gà đẻ
330
33
0.55
0.055
0.0004
0.011
115
0.028
1.1
0.22
0.28
0.28
0.08

(Nguồn: NRC,1994)

2.2.5 Nhu cầu chất khoáng
Nguyên tố khoáng, đến nay người ta đã phát hiện được 14 nguyên tố
khoáng cần thiết cho gia cầm cầm là Ca, P, Na, K, Mg, Cl, I, Fe, Mn, S, Cu, ,

nó là thành phần cấu tạo nên axít hydrochloric (HCl), làm tăng độ toan ở dịch
dạ dày, giúp tăng cường tiêu hóa protit. Nếu có sự thiếu hụt nào của một trong
các khoáng này đều làm cho gia cầm sinh trưởng kém, cơ thể mất nước và dẫn
đến chết khi bị thiếu hụt trầm trọng.
NaCl, KCl có trong huyết tương tạo nên áp suất thẩm thấu của máu.
NaHCO3 bảo đảm lượng kiềm dự trữ của máu, giữ độ toan kiềm của máu.
Natri và Kali tham gia vào hệ đệm của máu có natri như H2CO3,
NaHCO3, NaH2PO4, Na2HPO4... hệ đệm trong hồng cầu có kali như HHb,
KHb, HhbO2 KhbO2 H- protit, K- protit.
Nari và Kali ở trạng thái ion trao đổi qua lại màng tế bào tạo nên điện thế
màng yên tĩnh và hoạt động, là nguyên nhân tạo nên xung điện thần kinh chạy
trong cơ thể.
Tỷ lệ ion Na+, K+ trên Ca++ thích hợp đảm bảo hoạt động co bóp cơ tim
bình thường. K+ làm giảm nhịp đập của tim và sức co bóp của tim nếu tăng,
còn Ca++ làm tăng nhịp đậm và sức co bóp của tim.
Khẩu phần cân đối của Natri, Kali, và Clo là yếu tố quyết định quan
trọng của sự cân bằng acid−base trong cơ thể gia cầm (NRC,1994). Các cation
và anion khác như Canxi, Sunphate, Phosphate cũng có thể tham gia vào sự
cân bằng acid−base. Các thức ăn cân bằng các chất điện phân thường được
đánh giá theo các mức độ của Natri và Kali so với Clo được thể hiện trong
đương lượng/kg thức ăn.
10


Cung cấp muối cho gà con không quá 0,4%, gà lớn và gà đẻ không quá
0,5% muối trong khẩu phần.
Canxi (Ca)
Trong vỏ của một trứng lớn chứa khoảng 2 gam canxi ở dạng carbonate
canxi. Vì vậy, nhu cầu canxi đối với những mái đang đẻ trứng cao hơn nhiều
so với các loại vật nuôi khác. Thiếu canxi trong khẩu phần làm cho mái đẻ

1994).
Phospho (P)
11


Thành phần cấu tạo xương, giữ cân bằng độ toan, kiềm trong máu và các
tổ chức của cơ thể, có vai trò trong trao đổi hydratcarbon, axit amin, lipid,
trong hoạt động thần kinh. Sự trao đổi phospho gần với trao đổi canxi và kali
trong cơ thể. Lượng phospho ở gà con khoảng 0,4−0,6%, ở gà lớn 0,7−0,9%
khối lượng cơ thể. Phospho thiếu trong thức ăn làm cho gà ít thèm ăn, gây còi
xương, xốp xương, gà trống kém nhảy mái, gà mái đẻ trứng giảm sản lượng
trứng, giảm chất lượng vỏ trứng như vỏ mỏng, dễ vỡ, vỏ sần sùi hoặc thiếu vỏ.
Nguồn phospho của dicanxiphosphat là 18%, bột cá 3,5−4%, bột xương
9−10% phospho hấp thu. Phospho từ nguồn thức ăn thực vật hấp thu 30 –
35%, còn ở dạng không hấp thu được là phosphophytin. Phospho từ nguồn
động vật, dicanxiphosphat tỷ lệ hấp thu cao 95−100%. Hàm lượng phospho
trong thức ăn gà con trên 0,5%, gà đẻ 0,45−0,5%.
Phospho ngoài chức năng trong việc hình thành xương thì cần thiết trong
việc sử dụng năng lượng và trong các thành phần cấu trúc của các tế bào. Ví
dụ về các hợp chất có chứa phospho là adenosine 5'−triphosphate (ATP) và
phospholipid. Những hình thức của phosphor trong thức ăn có thể được gia
cầm tiêu hóa nhưng chỉ vào khoảng 30 đến 40% của tổng số phospho. Các
phospho còn lại ở dạng như phospho phytate và khó tiêu hóa. Chỉ có khoảng
10% của phospho phytate trong ngô và lúa mì được tiêu hóa ở gia cầm
(Nelson, 1976).
Magie (Mg)
Ca, P và Mg có mối liên hệ mật thiết với nhau đều tham gia cấu tạo
xương, trao đổi glucid, Mg có tỷ lệ 0,05% khối lượng sống của gà, trong đó
50% trong xương, 40% trong mô cơ, tồn tại chủ yếu trong tế bào. Thiếu Mg
làm giảm hấp thu Ca và P, làm giảm tốc độ sinh trưởng, không điều chỉnh

xương để tạo thành hemoglobin của hồng cầu, còn 20% được chuyển đến các
“kho” dự trữ như gan, lách, thận để dự trữ dưới dạng hợp chất feritin (Fe +++ dự
trữ).
Fe tham gia cấu tạo cơ, da, lông, hồng cầu, tạo các axit amin chứa lưu
huỳnh, các axit béo, vitamin…Thức ăn gà thiếu sắt gây bệnh thiếu máu, mỏ,
chân gà con nhợt nhạt, gà mái tái mào, xù lông, giảm đẻ. Nhu cầu sắt trong
thức ăn gà con 88 mg/kg thức ăn, trên 3 tuần tuổi 108mg/kg thức ăn.
Đồng (Cu)
Đồng có trong tất cả các cơ quan của cơ thể động vật, nhiều nhất ở gan.
Cu từ CuS hấp thu tốt hơn từ CuSO4; CuO; CuCO3; phần lớn Cu có trong
chất hữu cơ của các loại thức ăn, ở dạ dày Cu được HCl tách ra khỏi các hợp
chất đó để dễ dàng hấp thụ. Cu làm tăng hấp thu sắt cho tạo hemoglobin của
hồng cầu, vì thế bổ sung sắt vào thức ăn đồng thời bổ sung đủ Cu. Đồng tham
gia tạo sắc tố đen melanin, tạo các enzym oxy hoá, vì thế có quan hệ đến quá
trình hô hấp của mô bào. Đồng trong thức ăn thiếu sẽ làm giảm hấp thu sắt,
gây rối loạn về xương, lông biến màu, da nhợt nhạt chậm lớn, rụng lông, trứng
vỏ mỏng và không bóng mịn. Nhu cầu Cu là 11 mg/kg thức ăn cho các loại gà.
Coban (Co)
Coban được hấp thu qua niêm mạc ruột, nó được dự trữ trong gan, lách,
thận, tuyến tụy. Coban là yếu tố quan trọng cho tạo vitamin B12 cho nên
Coban có vai trò kích thích tạo máu, trong trao đổi chất và tăng trưởng của gà.
Coban thiếu trong thức ăn làm thiếu vitamin B12 giảm đồng hoá hydratcarbon,
protein, giảm thèm ăn của gà, giảm trao đổi năng lượng. Đối với gia cầm
trưởng thành, vitamin B12 được tổng hợp ở manh tràng, vì vậy cần cung cấp
13


đủ yêu cầu Co cho chúng. Coban có nhiều trong nguồn thức ăn động vật hơn
nguồn thực vật. CoSO4; CoCl2.6H2O chứa hàm lượng Co cao.
Mangan (Mn)

trưởng, giảm tỷ lệ đẻ, tỷ lệ phôi, ấp nở kém, gà trống đạp mái kém, kiềm chế
sử dụng vitamin E và cũng gây ra sự loạn dưỡng ở cơ mề và cơ tim của gà tây
(Bùi Xuân Mến, 2007). Se có nhiều trong thức ăn men, bột cá và hợp chất vô
cơ. Nhu cầu selen cho gà con, gà dò 0.1−0.15, gà đẻ 0.15mg/kg thức ăn.
Iod (I)
14



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status