ảnh hưởng của việc bổ sung bột quế lên năng suất và chất lượng trứng gà đẻ thương phẩm hisex brown giai đoạn từ 33 42 tuần tuổi - Pdf 30

i

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG NGUYỄN HỒNG SANG ẢNH HƯỞNG CỦA VIỆC BỔ SUNG BỘT QUẾ
LÊN NĂNG SUẤT VÀ CHẤT LƯỢNG TRỨNG
GÀ ĐẺ THƯƠNG PHẨM HISEX BROWN
GIAI ĐOẠN TỪ 33 - 42 TUẦN TUỔI

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
NGÀNH CHĂN NUÔI - THÚ Y
2014
iii

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG NGUYỄN HỒNG SANG LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
NGÀNH CHĂN NUÔI - THÚ Y ẢNH HƯỞNG CỦA VIỆC BỔ SUNG BỘT QUẾ
LÊN NĂNG SUẤT VÀ CHẤT LƯỢNG TRỨNG
GÀ ĐẺ THƯƠNG PHẨM HISEX BROWN
GIAI ĐOẠN TỪ 33 - 42 TUẦN TUỔI Cần Thơ, ngày tháng năm 2014

Cần Thơ, ngày tháng năm 2014
DUYỆT CÁN BỘ HƯỚNG DẪN


Cô Nguyễn Thị Thủy cố vấn học tập lớp chăn nuôi A1 đã tận tâm hướng
dẫn, động viên và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập.
Cô Nguyễn Thị Kim Khang đã tận tình giúp đỡ, động viên và hướng dẫn
tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài này.
Anh Lê Thanh Phương và bà Hồ Thị Thu đã tạo điều kiện cho tôi thực
hiện đề tài.
Anh Cao Văn Út và kỹ sư Nguyễn Thị Thúy Liễu đã giúp đỡ tôi trong quá
trình thực hiện đề tài.
Anh Nguyễn Văn Tuấn quản lý trại đã tạo cơ hội cho tôi thực hiện đề tài
ở trại.
Cùng tất cả anh chị em công nhân đã giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực
hiện đề tài ở trại.
Xin chân thành cảm ơn anh chị em, bạn bè và người thân đã động viên,
giúp đỡ trong quá trình sống, học tập cũng như trong quá trình thực hiện đề tài.
Xin chân thành cảm ơn!
Cần Thơ, ngày 26 tháng 11 năm 2014
Sinh viên thực hiện Nguyễn Hồng Sang
iii

MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM TẠ ii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC BẢNG vii
DANH MỤC HÌNH VÀ BIỂU ĐỒ viii
TÓM LƯỢC ix



CHƯƠNG 3: PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP THÍ NGHIỆM 25
3.1 Phương tiện thí nghiệm 25
3.1.1 Thời gian và địa điểm thực hiện 25
3.1.2 Chuồng trại thí nghiệm 25
3.1.3 Thức ăn thí nghiệm 27
3.1.4 Dụng cụ thí nghiệm 27
3.2 Phương pháp thí nghiệm 28
3.2.1 Bố trí thí nghiệm 28
3.2.2 Quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng 28
3.2.3 Phương pháp lấy mẫu 28
3.3 Các chỉ tiêu theo dõi 29
3.3.1 Chỉ tiêu về năng suất trứng 29
3.3.2 Chỉ tiêu về chất lượng trứng 29
3.2.5 Hiệu quả kinh tế 30
3.2.6 Xử lý số liệu 30

CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 31
4.1 Nhận xét chung về đàn gà thí nghiệm 31
4.2 Khối lượng đầu kỳ và cuối kỳ của gà thí nghiệm 32
4.3 Ảnh hưởng của việc bổ sung bột quế lên năng suất trứng và tỷ lệ đẻ của
gà 33
4.3.1 Ảnh hưởng của việc bổ sung bột quế lên năng suất trứng (NST) 33
4.3.2 Ảnh hưởng của việc bổ sung bột quế lên tỷ lệ đẻ 34
4.4 Ảnh hưởng của việc bổ sung bột quế đến TTTĂ của gà 36
4.4.1 Tiêu tốn thức ăn (g/gà/ngày) 36
4.4.2 Tiêu tốn thức ăn (g/trứng) 37
4.5 Ảnh hưởng của việc bổ sung bột quế lên chất lượng trứng 40
4.6 Ảnh hưởng của việc bổ sung bột quế lên chất lượng trứng qua các tuần tuổi
thí nghiệm 43

Chỉ số lòng trắng
Cty Emivest
Công ty Emivest
DC
Nghiệm thức đối chứng
DDV
Độ dày vỏ
HU
Đơn vị Haugh
HSCHTĂ
Hệ số chuyển hóa thức ăn
KL trứng
Khối lượng trứng
KPCS
Khẩu phần cơ sở
NT
Nghiệm thức
TTTĂ
Tiêu tốn thức ăn vii

DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1: Lượng thức ăn ăn vào, khối lượng chuẩn và thời gian chiếu sáng
đối với gà Hisex Brown 3
Bảng 2.2: Nhu cầu dinh dưỡng gà đẻ Hisex Brown 4
Bảng 2.3: Tỷ lệ đẻ và khối lượng chuẩn của gà Hisex Brown 5
Bảng 2.4: Định mức thức ăn cho gà mái đẻ theo khối lượng cơ thể và năng
suất trứng 6

Hình 3.1 Trại nuôi gà thí nghiệm 23
Hình 3.2 Hệ thống làm mát và quạt hút 24
Hình 3.2 Hệ thống máng ăn và máng uống 24
Hình 3.3 Máng hứng trứng 24
Biểu đồ 4.1 Nhiệt độ trong chuồng nuôi 29
Biểu đồ 4.2 Ẩm độ trong chuồng nuôi 29 ix

TÓM LƯỢC
Nhằm xác định ảnh hưởng của việc bổ sung bột quế lên năng suất và chất
lượng trứng của gà đẻ giống Hisex Brown từ 33 đến 42 tuần tuổi, thí nghiệm
được bố trí theo thể thức hoàn toàn ngẫu nhiên với 4 nghiệm thức (NT), các NT
lần lượt như sau: DC: khẩu phần cơ sở (KPCS), BQ
150
: KPCS + 150 mg bột
quế/kg TĂ, BQ
200
: KPCS + 200 mg bột quế/kg TĂ, và BQ
250
: KPCS + 250 mg
bột quế/kg TĂ, mỗi NT được lặp lại 10 lần với 4 gà mái/ô. Tổng số gà thí nghiệm
là 160 con thực hiện trong thời gian 70 ngày.
Kết quả phân tích cho thấy:
Bổ sung bột quế giúp cải thiện năng suất trứng và tỷ lệ đẻ so với DC, giữa
các NT có sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê (P>0,05). Sự khác biệt về
TTTĂ của gà giữa các NT không có ý nghĩa thống kê (P>0,05).
Có sự khác biệt giữa các NT về CSLD, TLLT (%), và TLLD (%) có ý
nghĩa thống kê (P<0,05), trong đó NT BQ

Theo AI-Kassie (2009), việc sử dụng các chiết xuất từ quế giúp cải thiện hiệu
quả thức ăn do các chất như cinnamaldehyde và eugenol. Quế còn là thảo được
dùng như một gia vị trong thực phẩm của con người và cũng là chất phụ gia rất
quan được sự quan tâm trong dinh dưỡng gia cầm. Từ những lợi ích thiết thực nêu
chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Ảnh hưởng của việc bổ sung bột quế lên
năng suất và chất lượng trứng gà đẻ thương phẩm Hisex Brown giai đoạn từ 33
– 42 tuần tuổi” với mục tiêu:
Đánh giá ảnh hưởng của việc bổ sung bột quế đến năng suất, chất lượng trứng
gà đẻ thương phẩm Hisex Brown.
So sánh hiệu quả kinh tế của các khẩu phần bổ sung này.
2

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN
2.1 Sơ lược về giống gà Hisex Brown
2.1.1 Nguồn gốc
Gà hậu bị Hisex Brown được nhập vào Việt Nam 1997, có nguồn gốc ở Hà
Lan được công ty Emivest nhập giống gà bố mẹ về nuôi nhân giống. Gà Hisex
Brown bố mẹ được công ty nuôi để sản xuất gà hậu bị đẻ lấy trứng thương phẩm
hoặc thực hiện các hợp đồng nuôi gia công. Gà con sản xuất ra dùng để thả nuôi ở
các trang trại nuôi gia công cho công ty và một số để bán ra thị trường.
2.1.2 Đặc điểm và ngoại hình
Theo Nguyễn Thị Mai et al. (2009), thì đây là giống gà chuyên trứng lông
màu nâu và trắng có nguồn gốc từ hãng Euribreed – Hà Lan (hình 2.1).
Hình 2.1: Gà mái Hisex Brown
(Nguồn: www.safnepal.com/products.html)
Gà giống bố mẹ có khối lượng cơ thể đến 17 tuần là 1400g, tỷ lệ nuôi sống
97%. Lượng thức ăn tiêu thụ từ 18 – 20 tuần 5,5 kg/con. Tuổi đạt tỷ lệ đẻ 50% ở
152 ngày. Sản lượng trứng đến 78 tuần tuổi 315 quả/mái, khối lượng trứng 63g.
Lượng thức ăn tiêu thụ từ 140 ngày tuổi là 116 g/con/ngày.Tiêu tốn thức ăn cho 1
kg trứng là 2,36 kg và cho 10 quả trứng là 1,5 – 1,7 kg. Khối lượng cơ thể vào cuối

51
62
73
80
84
92
98
100
104
106
108
110
112
114
115
114
113
112
111
111
1500
1560
1630
1700
1740
1780
1800
1815
1830
1840

16
16
16
16
16
16
16
16
(Nguồn: Công ty TNHH Emivest Việt Nam, 2010)

4

Bảng 2.2: Nhu cầu dinh dưỡng gà đẻ Hisex Brown
TPDD
ĐV
Giai đoạn (tuần)
0 – 3
3 – 9
9 –17
17–19
19 –45
45 –70
70–kết
thúc

1,25
16,7
2775
5
8
2,2
16,2
2750
5,5
8,5
1,6
15,3
2725
5,5
8,5
1,25
Acid amin tiêu hóa
Methionine
Methionine
+ Cysteine
Lysine
Trytophan
Threonine
%
%

%
%
%
0,54

0,69

0,75
0,16
0,53
0,36
0,63

0,7
0,15
0,5
Khoáng
Calcium
Phosphor
hữu dụng
Sodium
Chloride
%
%

%
%
1
0,5

0,16
0,22
1
0,5


5

Bảng 2.3: Tỷ lệ đẻ và khối lượng chuẩn của gà Hisex Brown
Tuần tuổi
Tỷ lệ đẻ (%)
Khối lượng trứng (g)
30
31
32
33
34
35
36
37
38
39
40
41
42
43
44
45
46
47
48
49
50
94,5
94,3
94,1

63,1
63,2
63,3
63,4
63,5
63,6
63,7
63,8
63,9
(Nguồn: Công ty TNHH Emivest Việt Nam, 2010)
2.2 Nhu cầu dinh dưỡng gà mái đẻ
2.2.1 Thức ăn
Thức ăn hỗn hợp có ưu điểm là cân bằng được các thành phần dinh dưỡng
như Protein (đạm), năng lượng, Vitamin, khoáng, ngoài ra còn bổ sung một lượng
rất nhỏ các men tiêu hóa Protein, xơ, chất kích thích sinh trưởng, chất kháng sinh,
các chất chống mốc, chống oxy hóa, chống đóng vón. Tùy loại giống, tuổi, hướng
sản xuất (thịt, trứng) hướng chế biến, mà xây dựng các công thức (còn gọi là thực
đơn) TAHH cho phù hợp yêu cầu sinh lý duy trì, phát triển, tăng khối lượng, đẻ
trứng, kể cả lông cho gia cầm.
6

2.2.2 Các loại khẩu phần thức ăn
Theo Nguyễn Đức Hưng (2006), gà mái đẻ cần cho ăn thức ăn hỗn hợp với
dinh dưỡng đầy đủ. Trong 1kg thức ăn hỗn hợp gà cần:
Năng lượng trao đổi (ME): 2700 – 2800 Kcal, protein thô (CP):15 – 18%;
Canxi (Ca): 2,1 – 3,2%, Phosphor (P): 0,75 – 0,80%.
Khẩu phần sản xuất là khẩu phần thức ăn được sử dụng để sản xuất ra trứng
và thịt. Muốn vậy thì khẩu phần sản xuất phải chứa đựng 3 khẩu phần: Khẩu phần
duy trì, khẩu phần tăng trưởng cho gà mái còn non và khẩu phần sản xuất để đẻ
trứng (Hiệp hội chăn nuôi gia cầm Việt Nam, 2007).

145
60
105
115
120
125
140
150
70
115
120
125
130
145
155
80
120
120
130
135
150
160
90
125
130
135
140
155
165
(Nguồn: Dương Thanh Liêm, 1990)

phụ phẩm của công nghệ chế biến hạt ngũ cốc (bắp, mạch, cao lương, lúa), các loại
cây họ đậu, chế biến cá, tôm, cua và các động vật khác để vừa đảm bảo yêu cầu các
vật chất dinh dưỡng cho gia cầm, làm tăng tính thèm ăn, tăng chuyển hóa thức ăn
và hạ giá thành sản phẩm TAHH và giá thành chăn nuôi.
2.2.3 Nhu cầu năng lượng để duy trì
Nhu cầu năng lượng để một quả trứng tiêu chuẩn nặng 57g là 122 Kcal (Lưu
Hữu Mãnh và ctv, 1999).
Theo Lê Hồng Mận (2001), cơ thể gà cần một lượng năng lượng nhất định để
duy trì mọi hoạt động sinh lý (hoạt động sống) cho quá trình trao đổi cơ bản như
tiêu hóa thức ăn, sự co bóp cơ, điều hòa thân nhiệt, hoạt động thần kinh thể dịch.
Chi phí năng lượng cho trao đổi cơ bản gắn liền với trao đổi bề mặt của cơ thể mà
dạng trao đổi này không phụ thuộc vào loài động vật, mà theo tiêu chuẩn 1000 kcal
ME/m
2
bề mặt cơ thể. Ở gà mái với khối lượng 3,5 kg thì chi phí năng lượng trao
đổi cho một con là 186 kcal, cho 1 kg khối lượng cơ thể là 53,4 kcal và lớn hơn gắp
3 lần so với heo và bò.
Gà đẻ có nhu cầu năng lượng thấp hơn gà con, gà thịt, nếu vượt quá 3000
kcal/kg thức ăn gà sẽ quá mập, giảm đẻ, mức năng lượng thương giao động 2700
– 2900 kcal/kg thức ăn. Mùa lạnh thì mức năng lượng này cao hơn, xấp xỉ 3000
kcal/kg, mùa nóng chỉ 2700 – 2750 kcal/kg thức ăn.
Theo Bùi Xuân Mến (2007), nuôi gia cầm cho mục đích sản xuất, trước hết
phải nuôi dưỡng để duy trì sự sống, mặc dù chúng có sản xuất hay không. Một
9

lượng đáng kể thức ăn tiêu tốn của gia cầm là sử dụng cho duy trì sự sống. Nhu cầu
năng lượng để duy trì của gia cầm bao gồm sự trao đổi cơ bản và hoạt động bình
thường. Trao đổi cơ bản là sự tiêu phí năng lượng tối thiểu hoặc sự sinh nhiệt trong
những điều kiện khi ảnh hưởng của thức ăn, nhiệt độ môi trường và hoạt động chủ
động bị loại ra. Sự sinh nhiệt cơ bản thay đổi theo độ lớn của vật nuôi, nhìn chung


2.2.5 Nhu cầu năng lượng để đẻ trứng
Bùi Xuân Mến (2007) nói rằng năng lượng thuần cần cho một mái đang có tỷ
lệ đẻ cao gồm năng lượng tiêu phí cho duy trì và năng lượng dự trữ trong trứng. Gà
mái có khả năng thay đổi mức tiêu thụ thức ăn theo mức năng lượng trong khẩu
phần. Mức năng lượng tối thiểu trong khẩu phần cho gà đẻ không thể dưới mức
2640 kcal ME/kg. Khi gà mái phải chịu đựng trong môi trường lạnh thì mức năng
lượng không thể thấp hơn 2750 kcal ME/kg. Thường thì mức năng lượng thực trong
khẩu phần sẽ tùy thuộc nhiều vào mức độ của giá thức ăn trong thực tế sản xuất.
Đặc trưng của gia cầm là không có vùng nhiệt độ trung hòa rõ rệt. Khi nhiệt
độ môi trường tăng lên hay giảm thấp thì chúng ăn thức ăn ít hay nhiều lên. Nếu
dựa vào trao đổi chất cơ bản (hay nhiệt lượng tỏa ra do phân giải lúc đói) với công
thức tính của Brody thì nhu cầu cho duy trì phải cao hơn 20% nhu cầu trao đổi chất
cơ bản. Trong thực tế khi được cho ăn tự do, gà tự cân đối năng lượng ME ăn vào
với nhu cầu của chúng. Thường hàm lượng ME trong thức ăn gà đẻ từ 10 – 12
MJ/kg (11,5 – 13,5 MJ/kg chất khô). Nếu tăng hay giảm 1% hàm lượng năng lượng
trong thức ăn (lớn hơn 12 MJ hay dưới 10 MJ) gây nên sự tăng hay giảm tương
ứng lượng ăn khoảng 0,5%. Nếu gà ăn khẩu phần chứa ít hơn 10 MJ/kg sẽ dẫn đến
giảm sản xuất trứng, khẩu phần chứa nhiều hơn 12 MJ/kg thức ăn có thể làm tăng
tích lũy mỡ, làm mau hư gà mái nhưng không làm tăng số lượng trứng đẻ (mặc dù
khối lượng trứng có thể tăng) (Dương Thanh Liêm, 2003).
2.2.6 Nhu cầu protein để duy trì
Theo Lê Hồng Mận (2001), nhu cầu protein của cơ thể là sự cân đối các axit
amin nhất định là các axit amin không thay thế.
Protein cần thiết cho duy trì tương đối thấp, vì thế yêu cầu về protein trước
hết tùy thuộc vào lượng cần thiết cho mục đích của sản xuất. Để đáp ứng nhu cầu
protein thì các acid amin thiết yếu phải cung cấp đủ lượng và tổng lượng nitơ trong
khầu phần phải đủ cao và ở dạng thích hợp để cho phép tổng lượng acid amin không
thiết yếu. Một khi lượng protein tối thiểu được yêu cầu cung cấp cho sản xuất trứng
tối đa thì protein cần cộng thêm do bị oxy hóa thành năng lượng cũng phải tính

đang sinh trưởng có mức tăng khối 37 g/ngày. Mặc dù gà mái không đẻ thường
xuyên hàng ngày nhưng protein cho duy trì cũng phải được xem xét và nhu cầu
protein hàng ngày cho những mái đang đẻ cao cũng đầy đủ như cho gà thịt đang
sinh trưởng nhanh. Trong thời kỳ đầu của sản xuất trứng, gà mái đang còn tăng
khối nên chúng cần tích lũy protein cho cơ thể và cho sản xuất trứng. Sau đó nhu
cầu protein của tăng khối giảm xuống nhưng độ lớn của trứng lại tăng lên. Để có
thể tạo ra được những trứng lớn và đạt tỷ lệ đẻ tối đa, một gà mái một ngày cần
phải tiêu thụ 17 g protein (cân đối các acid amin). Trong bất cứ nghiên cứu nào về
nhu cầu protein của gà mái đang đẻ phải đương nhiên thừa nhận một sự cân đối
hợp lý các acid amin trong protein của khẩu phần. Thiếu hụt một acid amin thiết
yếu sẽ làm sút giảm khả năng sản xuất trứng, giảm độ lớn của trứng và giảm mức
protein tổng số. Việc xác định nhu cầu các acid amin riêng rẽ cho gà mái có khó
12

khăn hơn là cho gà thịt. Vì thế những ước lượng nhu cầu acid amin cho gà mái đẻ
chủ yếu dựa vào thành phần các acid amin của protein trong trứng. Tỷ lệ của các
acid amin thiết yếu trong protein của khẩu phần phải đi gần với tỷ lệ các acid amin
được tạo thành trong trứng (Bùi Xuân Mến, 2007).
Theo Lê Hồng Mận (2001), trong thức ăn gà đẻ trong pha đẻ đầu tiên
20 – 45 tuần tuổi đồng thời còn sinh trưởng tăng khối lượng của cơ thể và tỷ lệ đẻ
cao, cần cung cấp lượng protein cho cơ thể đảm bảo cho duy trì, phát triển và tạo
trứng. Đến pha đẻ thứ 2 sau 45 tuần tuổi gà đẻ không lớn thêm, năng suất trứng
thấp hơn nên yêu cầu protein cũng thấp hơn pha đẻ đầu. Tỷ lệ protein trong pha đẻ
đầu 17 – 18%, giai đoạn đẻ sau 15 – 16%, thời kỳ cuối chỉ còn 13 – 14%.
Bảng 2.5: Tiêu chuẩn dinh dưỡng trong thức ăn gà mái thời kỳ đẻ trứng
Các chất dinh dưỡng trong
thức ăn
Đẻ khởi động
20 – 22 tuần tuổi
Đẻ pha I

100
100
100
Kẽm (Zn), mg/kg TA
75
75
75
Sắt (Fe), mg/kg TA
100
100
100
Đồng (Cu), mg/kg TA
8,0
8,0
8,0
Selen (Se), mg/kg TA
0,1
0,1
0,1
Iod (I), mg/kg TA
1,1
1,1
1,1
(Nguồn: Hội chăn nuôi Việt Nam, 2002)

13

2.3 Giới thiêu chung về cây quế và sản phẩm quế
2.3.1 Đại cương
Trong các loài cây lâm sản ngoài gỗ của rừng nhiệt đới nước ta cây quế có


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status