BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
THÂN THỊ THU HIỀN
QUẢN LÝ TÀI CHÍNH THEO CƠ CHẾ TỰ CHỦ, TỰ CHỊU
TRÁCH NHIỆM TẠI BỆNH VIỆN SẢN NHI BẮC GIANG
LUẬN VĂN THẠC SĨ
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KINH TẾ
HÀ NỘI, NĂM 2015
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi, được tiến hành,
thực hiện nghiêm túc, trung thực. Các số liệu, thông tin và kết quả nghiên cứu
trong Luận văn do tôi thu thập là trung thực và chưa được công bố trong bất kỳ
công trình nghiên cứu khoa học của tác giả nào trong nước và nước ngoài.
Tôi xin cam đoan các thông tin trích dẫn trong Luận văn đã được chỉ rõ
nguồn gốc.
Hà Nội, tháng … năm 2015
Học viên Thân Thị Thu Hiền Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page iii
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành chương trình học tập và Luận văn tốt nghiệp, với lòng kính trọng
và biết ơn sâu sắc, tôi xin chân thành cảm ơn tới:
PGS.TS Trần Đình Thao đã dành nhiều thời gian công sức chỉ dẫn, giúp
đỡ và động viên tôi trong suốt quá trình học tập cũng như thực hiện Luận văn.
Các thầy cô giáo Bộ môn Kế hoạch và Đầu tư, Khoa Kinh tế và Phát triển
nông thôn, Ban quản lý Đào tạo, Học Viện Nông nghiệp Việt Nam đã giúp đỡ tạo
điều kiện thuận lợi cho tôi thực hiện đề tài.
Bệnh viện Sản Nhi Bắc Giang đã tạo mọi điều kiện thời gian cũng như địa
điểm cho tôi thực hiện đề tài.
Gia đình, đồng nghiệp, những người bạn thân thiết đã luôn giúp đỡ, động viên,
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu 3
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu 4
PHẦN II CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH
THEO CƠ CHẾ TỰ CHỦ, TỰ CHỊU TRÁCH NHIỆM 5
2.1 Quản lý tài chính theo cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm 5
2.1.1 Một số khái niệm về quản lý tài chính 5
2.1.2 Quản lý tài chính bệnh viện công lập 8
2.1.3 Nội dung quản lý tài chính theo cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm 12
2.1.4 Cơ chế quản lý tài chính các bệnh viện công lập của Việt Nam 15
2.1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả tài chính khi thực hiện tự chủ,
tự chịu trách nhiệm
16
2.1.6 Những kết quả thực hiện tự chủ tài chính theo nghị định
43/2006/NĐ-CP của Chính Phủ
25
2.2 Công tác quản lý tài chính hiện nay 33
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page v
2.3 Một số mô hình quản lý tài chính bệnh viện hiện nay ở Việt Nam 36
2.3.1 Mô hình bệnh viện tư nhân 36
2.3.2 Mô hình bệnh viện công lập 37
PHẦN III PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 39
3.1 Địa điểm nghiên cứu 39
3.1.1 Giới thiệu về Bệnh viện Sản Nhi Bắc Giang 39
3.1.2 Kết quả hoạt động của Bệnh viện 42
3.2 Phương pháp nghiên cứu 42
3.2.1 Thiết kế nghiên cứu 42
3.2.2 Thu thập số liệu 43
4.4.3 Bất cập về khả năng quản lý của đơn vị 89
4.5 Một số giải pháp hoàn thiện quản lý tài chính 93
4.5.1 Giải pháp khai thác nguồn tài chính 93
4.5.2 Giải pháp sử dụng nguồn tài chính của Bệnh viện Sản Nhi Bắc Giang
96
4.5.3 Giải pháp về kiểm tra tài chính 100
4.5.4 Giải pháp về nâng cao năng lực viên chức 100
4.5.5 Giải pháp về nâng nhận thức của Bệnh nhân và người nhà bệnh
nhân đến KCB tại Bệnh viện
103
PHẦN V KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 104
5.1 Kết luận 104
5.2 Kiến nghị 106
TÀI LIỆU THAM KHẢO 107
PHỤ LỤC 108
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page vii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt Nghĩa của chữ viết tắt
BHXH Bảo hiểm xã hội
BHYT Bảo hiểm y tế
CK I Chuyên khoa I
CK II Chuyên khoa II
CNTT Công nghệ thông tin
CSHQ Chỉ số hiệu quả
ĐDV Điều dưỡng viên
ĐVSN Đơn vị sự nghiệp
4.9. Kết quả chi cho con người 63
4.10. Kết quả chi quản lý hành chính 64
4.11. Kết quả chi nghiệp vụ chuyên môn 64
4.12. Kết quả chi cho đầu tư phát triển sự nghiệp 71
4.13. Kết quả thực hiện quy chế tự chủ tự chịu trách nhiệm 75
4.14. Tăng các nguồn tài chính năm 2013 so với năm 2012 76
4.15. Tăng các nguồn tài chính năm 2014 so với năm 2012 77
4.16. Hiệu quả nguồn tài chính 77
4.17. Kết quả đầu tư phát triển sự nghiệp năm 2013 so với năm 2012 80
4.18. Kết quả đầu tư phát triển sự nghiệp năm 2014 so với năm 2012 80
4.19. Hiệu quả đầu tư phát triển sự nghiệp 81
4.20. Hiệu quả đánh giá chất lượng dịch vụ y tế 82
4.21. Hiệu quả khi thực hiện quy chế tự chủ tự chịu trách nhiệm 83
4.22. Hiệu quả khi thực hiện quy chế tự chủ tự chịu trách nhiệm 84
4.23. Yếu tố liên quan đến nguồn thu khám chữa bệnh 90
4.24. Yếu tố ảnh hưởng đến chi quản lý hành chính 91
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page ix
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
STT Tên biểu đồ Trang
4.1. Tỷ lệ các loại quỹ được trích lập 65
4.2 . Kết quả thu, chi và chênh lệch 66
4.3. Kết quả phân chia chênh lệch thu chi hình thành các loại quỹ 67 DANH MỤC SƠ ĐỒ
bệnh viện từ Trung ương đến địa phương xuống cấp nhiều. Đầu tư từ NSNN dù
đã cố gắng tăng lên hàng năm nhưng cũng rất hạn chế, dẫn đến tình trạng các
bệnh viện công quá tải, hiệu quả hoạt động thấp, cơ sở vật chất thiếu thốn và
xuống cấp, đội ngũ y bác sĩ, nhân viên thiếu động lực, không đáp ứng được đầy
đủ chất lượng nhu cầu khám chữa bệnh đang ngày càng tăng lên của nhân dân.
Trong khi đó, chi phí KCB ngày một tăng do áp dụng các tiến bộ khoa học
kỹ thuật, sử dụng các trang thiết bị hiện đại, đắt tiền trong chẩn đoán và điều trị.
Việc sử dụng nhiều biệt dược đắt tiền cũng là một yếu tố làm tăng nhanh chi phí
KCB. Trong lúc này mặc dù đầu tư của NSNN cho y tế tăng nhanh từ 130 tỷ
đồng/năm vào năm 1991 lên 650 tỷ đồng /năm 1992, nhưng cũng chỉ đáp ứng
được 50-54% nhu cầu chi phí thực tế của ngành y tế.
Trước tình hình ngân sách bao cấp của Nhà nước không đủ cho nhu cầu
hoạt động của ngành y tế, từ năm 1989 đến nay, Đảng và Nhà nước ta đã ban
hành nhiều chính sách trong lĩnh vực hoạt động kinh tế y tế và đã được thực hiện
tại các cơ sở KCB, nhằm đáp ứng nhu cầu chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân
ngày càng cao, đồng thời xây dựng cơ sở vật chất, trang thiết bị y tế, đội ngũ có
trình độ cao ngang tầm khu vực và quốc tế. Năm 1993 Nghị quyết 04/NQ-TW đã
đề ra chủ trương "xã hội hoá y tế" và chỉ rõ "Sự nghiệp chăm sóc sức khoẻ là
trách nhiệm của cộng đồng và mỗi người dân, là trách nhiệm của các cấp uỷ
Đảng và chính quyền, các đoàn thể và tổ chức xã hội "
Trong nền kinh tế thị trường, y tế được xã hội hoá và trở thành một
ngành dịch vụ trong hệ thống kinh tế quốc dân có đóng góp quan trọng vào GDP
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 2
của đất nước và phục vụ các nhu cầu có tính chất phúc lợi xã hội, trong đó hệ
thống bệnh viện công lập được xem như xương sống của hệ thống y tế. Chi tiêu
cho các bệnh viện công chiếm tỷ lệ đáng kể trong tổng chi tiêu y tế. Một trong
những thay đổi căn bản trong ngành y tế là việc áp dụng cơ chế tự chủ tài chính
trong cung ứng, sử dụng và chi trả dịch vụ y tế. Tuy nhiên vẫn còn nhiều khó khăn,
bất cập trong việc đảm bảo và nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực tài chính
để thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ của bệnh viện. Thực tiễn đó càng đòi hỏi cấp
thiết phải đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện việc quản lý tài chính tại bệnh viện.
Xuất phát từ vấn đề trên tôi tiến hành nghiên cứu chuyên đề với tên đề tài
“Quản lý tài chính theo cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm tại Bệnh viện Sản
Nhi Bắc Giang” với mục tiêu sau.
1.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
1.2.1 Mục tiêu chung
Trên cơ sở đánh giá thực trạng tình hình quản lý tài chính theo cơ chế tự
chủ, tự chịu trách nhiệm; đề xuất các giải pháp nhằm thực hiện có hiệu quả tình
hình quản lý tài chính theo cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm ở Bệnh viện Sản
Nhi tỉnh Bắc Giang.
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý tài chính
theo cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm.
- Đánh giá kết quả thực hiện quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài
chính tại Bệnh viện Sản Nhi Bắc Giang.
- Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả thực hiện quyền tự chủ, tự
chịu trách nhiệm về tài chính tại Bệnh viện Sản Nhi Bắc Giang.
- Đề xuất một số giải pháp để thực hiện quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm
về tài chính tại Bệnh viện Sản Nhi Bắc Giang có hiệu quả hơn.
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
1.3.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính tại Bệnh viện Sản Nhi Bắc
Giang.
1.3.1.2 Đối tượng điều tra
Lãnh đạo và nhân viên đang làm việc tại Bệnh viện Sản Nhi Bắc Giang.
được mục tiêu đặt ra trong điều kiện biến động của môi trường.
Quản lý tài chính là việc sử dụng các thông tin phản ánh chính xác tình
trạng tài chính của một đơn vị, để phân tích điểm mạnh và điểm yếu của nó và
lập các kế hoạch hoạt động. Việc quản lý tài chính bao gồm: việc lập các kế
hoạch tài chính ngắn hạn và dài hạn, đồng thời quản lý có hiệu quả nguồn vốn
hoạt động của đơn vị. Việc quản lý tài chính không có hiệu quả là nguyên nhân
lớn dẫn đến sự thất bại của bất kỳ đơn vị nào, không kể đơn vị đó là nhỏ hay
quy mô lớn.
Nghị định số 43/2006/NĐ-CP của Chính phủ ngày 25/4/2006 quy định về tự
chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính là:
Một đơn vị hay một tổ chức có 3 nguồn lực chủ yếu sau đây: nguồn nhân lực,
nguồn lực cơ sở vật chất, nguồn lực tài chính. Trong đó nguồn lực tài chính là nguồn
lực quyết định, bởi có nguồn lực này sẽ có cả 2 nguồn lực kia. Trước đây Nhà nước
bao cấp toàn bộ kinh phí hoạt động cho các đơn vị sự nghiệp công nhưng hiện nay
đã có chủ trương vận động các đơn vị này thực hiện tự chủ, tự chịu trách nhiệm về
biên chế, thực hiện nhiệm vụ về tài chính.
Cơ chế tự chủ tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp công lập có thu là cơ
chế theo đó các đơn vị sự nghiệp công được trao quyền tự quyết định, tự chịu
trách nhiệm về các khoản thu, khoản chi của đơn vị mình nhưng không vượt quá
mức khung do Nhà nước quy định.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 6
Tự chủ tài chính trong đơn vị sự nghiệp công lập được hiểu là việc trao
quyền cho các đơn vị về phân phối và sử dụng nguồn lực tài chính mà cấp trên
giao phó.
Tự chủ tài chính không đơn thuần biểu hiện ở khía cạnh tài chính mà Tự
chủ tài chính còn bao gồm cả việc các đơn vị phải xác định nhiệm vụ chính trị
của mình từ đó đặt ra kế hoạch thực hiện, yêu cầu đầu tư…Các kế hoạch phải
dụng, được huy động vốn của cán bộ, viên chức trong đơn vị để đầu tư mở rộng và
nâng cao chất lượng hoạt động sự nghiệp, tổ chức hoạt động dịch vụ phù hợp với
chức năng, nhiệm vụ và tự chịu trách nhiệm trả nợ vay theo quy định của pháp luật
( Chính phủ,2006).
Đơn vị thực hiện đầu tư, mua sắm, quản lý, sử dụng tài sản nhà nước theo
quy định của pháp luật về quản lý tài sản nhà nước tại đơn vị sự nghiệp. Đối với
tài sản cố định sử dụng vào hoạt động dịch vụ phải thực hiện trích khấu hao thu
hồi vốn theo quy định áp dụng cho các doanh nghiệp nhà nước. Số tiền trích khấu
hao tài sản cố định và tiền thu từ thanh lý tài sản thuộc nguồn vốn NSNN đơn vị
được để lại bổ sung Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp. Số tiền trích khấu hao,
tiền thu thanh lý tài sản thuộc nguồn vốn vay được dùng để trả nợ vay. Trường
hợp đã trả đủ nợ vay, đơn vị được để lại bổ sung Quỹ phát triển hoạt động sự
nghiệp đối với số còn lại (Chính phủ,2006).
Đơn vị sự nghiệp mở tài khoản tại Kho bạc Nhà nước để phản ánh các
khoản kinh phí thuộc NSNN theo quy định của Luật ngân sách nhà nước; được
mở tài khoản tiền gửi tại Ngân hàng hoặc Kho bạc Nhà nước để phản ánh các
khoản thu, chi của hoạt động dịch vụ ( Chính phủ,2006).
Căn cứ vào định mức kinh tế kỹ thuật, chế độ chi tiêu tài chính hiện hành
của Nhà nước, đơn vị sự nghiệp có thu được chủ động xây dựng tiêu chuẩn, định
mức và chế độ chi tiêu nội bộ cho các khoản chi hoạt động thường xuyên cao hơn
hoặc thấp hơn quy định, trong phạm vi nguồn tài chính được sử dụng; đảm bảo
hoạt động thường xuyên, thực hiện nhiệm vụ được giao, phù hợp với đặc điểm đơn
vị, tăng cường công tác quản lý và sử dụng kinh phí tiết kiệm có hiệu quả , thông
qua việc xây dựng quy chế chi tiêu nội bộ (Chính phủ,2006).
Quy chế chi tiêu nội bộ và việc xây dựng các định mức chi của đơn vị sự
nghiệp có thu đã khắc phục những bất cập, lạc hậu của một số chế độ, tiêu chuẩn,
định mức chi ngân sách hiện hành của Nhà nước như: chế độ công tác phí, chế độ
chi tiêu hội nghị, chi biên soạn giáo trình, chi vượt giờ của ngành giáo dục, chi
bồi dưỡng trực đêm của ngành y tế, chi tổ chức xét xử của ngành toà án (Chính
phủ,2006).
với các quỹ tiền tệ và các loại vốn được sử dụng để thực hiện các hoạt động
nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức đó. Đối với bệnh viện công, tài chính bệnh
viện là sự vận động của đồng tiền để thực hiện mục tiêu phúc lợi về chăm sóc sức
khoẻ cho nhân dân, hướng tới mục tiêu phát triển con người toàn diện. Nó vừa
phải thực hiện mục tiêu công bằng trong y tế, vừa phải bảo đảm mục tiêu hiệu
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 9
quả tài chính (Phạm Trí Dũng, 2009).
Quản lý tài chính trong một tổ chức là chức năng quản lý gắn liền với việc
huy động, tạo lập, phân phối và sử dụng các nguồn tài chính nhằm đáp ứng yêu cầu
về tài chính cho các hoạt động của tổ chức, góp phần thực hiện mục tiêu chung của
tổ chức một cách hiệu quả. Nếu xét theo quá trình thì quản lý tài chính của một tổ
chức cũng gồm các hoạt động lập kế hoạch, tổ chức, điều hành và kiểm tra các
nguồn tài chính và hoạt động tài chính của tổ chức (Phạm Trí Dũng, 2009).
Đối với các tổ chức phi lợi nhuận như bệnh viện công, quản lý tài chính
không nhằm mục tiêu lợi nhuận như các tổ chức kinh doanh, nhưng với cơ chế tự
chủ tài chính thì các nhà quản lý của bệnh viện công phải quan tâm đến tài chính
theo hướng tự thu, tự chi; đó không chỉ là huy động và tạo nguồn thu mà còn là
sử dụng hợp lý và có hiệu quả các nguồn thu, nhằm bảo đảm cho bệnh viện thực
hiện được các chức năng và mục tiêu của mình(Phạm Trí Dũng, 2009).
Từ sự phân tích trên, có thể đưa ra khái niệm: Quản lý tài chính bệnh viện
công là sự tác động lên các đối tượng và hoạt động tài chính thông qua quá trình
lập kế hoạch và tổ chức thực hiện các kế hoạch tài chính, quyết toán và kiểm tra
tài chính tại bệnh viện nhằm xác định các nguồn thu và các khoản chi để phục vụ
nhiệm vụ khám, chữa bệnh, đào tạo và nghiên cứu khoa học, đảm bảo đủ kinh
phí và sử dụng kinh phí một cách hiệu quả và công bằng, góp phần thực hiện
mục tiêu chung của bệnh viện công(Phạm Trí Dũng, 2009).
Theo nghĩa rộng, quản lý tài chính tại bệnh viện công là việc quản lý toàn
dân trên địa bàn.
Để hướng tới tính công bằng và tính hiệu quả một cách bền vững, các
mục tiêu cụ thể của quản lý tài chính bệnh viện công phải đáp ứng hài hòa lợi ích
của bốn nhóm đối tượng:
- Người bệnh: họ mong muốn nhận được các dịch vụ y tế chăm sóc sức
khoẻ có chất lượng và công bằng.
- Nhân viên bệnh viện: họ mong muốn đời sống được nâng cao và môi
trường làm việc được cải thiện.
- Ban Giám đốc bệnh viện: họ cần hoàn thành trách nhiệm quản lý tài
chính để thực hiện mục tiêu của bệnh viện, thực hiện cân đối thu- chi trên cơ sở
khai thác và sử dụng các nguồn tài chính có hiệu quả.
- Nhà nước (trực tiếp là cơ quan quản lý nhà nước về y tế): phát triển
bệnh viện.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 11
Trong điều kiện kinh tế của nước ta hiện nay, đặc biệt là ở một số vùng
sâu, vùng xa gặp nhiều khó khăn, do các nguồn lực rất hạn chế trong khi nhu cầu
khám chữa bệnh cho nhân dân lại rất lớn, thì phải sắp xếp mục tiêu đối với từng
nhóm đối tượng trên theo thứ tự ưu tiên.
Để thực hiện được các mục tiêu quản lý tài chính theo định hướng mục
tiêu chung của bệnh viện, thì quản lý tài chính trong bệnh viện công phải đảm
bảo các yêu cầu sau:
- Nâng cao chất lượng công tác kế hoạch của bệnh viện, kế hoạch hoạt
động chuyên môn phải gắn với kế hoạch đảm bảo vật chất, hậu cần, với dự toán
tài chính của bệnh viện, xác lập chính xác các ưu tiên trong điều kiện các nguồn
lực đầu tư luôn bị hạn chế.
- Đảm bảo duy trì hoạt động thường xuyên về chuyên môn của bệnh viện,
đồng thời tập trung kinh phí để từng bước giải quyết những hoạt động ưu tiên đã
Công khai chi phí phải trả cho các loại dịch vụ khám chữa bệnh. Từng
bước hạch toán chi phí và giá thành khám chữa bệnh.
2.1.3 Nội dung quản lý tài chính theo cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm
2.1.3.1 Quy định chung về tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính
Ngày 25/4/2006, Chính phủ đã ban hành Nghị định 43/2006/NĐ-CP quy
định về quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy
biên chế, tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp công lập có quy định chung về
Tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính với các nội dung như sau:
* Phân loại đơn vị sự nghiệp: Căn cứ vào nguồn thu sự nghiệp, đơn vị sự
nghiệp được phân loại để thực hiện quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài
chính như sau:
Đơn vị có nguồn thu sự nghiệp tự bảo đảm toàn bộ chi phí hoạt động
thường xuyên (gọi tắt là đơn vị sự nghiệp tự bảo đảm chi phí hoạt động);
Đơn vị có nguồn thu sự nghiệp tự bảo đảm một phần chi phí hoạt động
thường xuyên, phần còn lại được NSNN cấp (gọi tắt là đơn vị sự nghiệp tự bảo
đảm một phần chi phí hoạt động);
Đơn vị có nguồn thu sự nghiệp thấp, đơn vị sự nghiệp không có nguồn
thu, kinh phí hoạt động thường xuyên theo chức năng, nhiệm vụ do NSNN bảo
đảm toàn bộ kinh phí hoạt động (gọi tắt là đơn vị sự nghiệp do NSNN bảo đảm
toàn bộ chi phí hoạt động).
Việc phân loại đơn vị sự nghiệp theo quy định trên được ổn định trong thời
gian 3 năm. Sau thời hạn 3 năm sẽ xem xét phân loại lại cho phù hợp.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 13
* Thực hiện nghĩa vụ với ngân sách nhà nước:Đơn vị sự nghiệp có các
hoạt động dịch vụ phải đăng ký, kê khai, nộp đủ các loại thuế và các khoản khác
(nếu có), được miễn, giảm thuế theo quy định của pháp luật.
* Huy động vốn và vay vốn tín dụng: Đơn vị sự nghiệp có hoạt động dịch
Đơn vị sự nghiệp có quyền chi tiêu, phân phối và sử dụng nguồn tài chính.
Quyền này rất quan trọng vì nó quyết định đến phần lớn hiệu quả hoạt động của
đơn vị. Các ĐVSN có thể căn cứ vào tình hình thực tế của mình mà linh hoạt
điều chỉnh các khoản chi, tiết kiệm các khoản chi không cần thiết hoặc tăng chi
cho các vấn đề trọng yếu, cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của mình.
Căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ và loại hình ĐVSN mà các đơn vị được
giao quyền về sử dụng nguồn tài chính khác nhau.
- Đối với ĐVSN tự bảo đảm chi phí hoạt động và đơn vị tự bảo đảm một
phần chi phí hoạt động.
Căn cứ vào nhiệm vụ được giao và khả năng nguồn tài chính, đối với một
số khoản chi thường xuyên, thủ trưởng đơn vị được quyết định một số mức chi
quản lý, chi hoạt động nghiệp vụ cao hoặc thấp hơn mức chi do cơ quan Nhà
nước có thẩm quyền quy định.
Căn cứ tính chất công việc, thủ trưởng đơn vị được quyết định phương
thức khoán chi phí cho từng bộ phận, đơn vị trực thuộc.
Quyết định đầu tư xây dựng, mua sắm mới và sửa chữa lớn tài sản thực
hiện theo quy định của pháp luật
- Đối với ĐVSN do NSNN đảm bảo toàn bộ kinh phí hoạt động như sau:
Căn cứ vào nhiệm vụ được giao và khả năng nguồn tài chính, đối với một
số khoản chi thường xuyên, Thủ trưởng đơn vị được quyết định một số mức chi
quản lý, chi hoạt động nghiệp vụ nhưng tối đa không vượt quá mức chi do cơ
quan Nhà nước có thẩm quyền quy định.
Căn cứ tính chất công việc, thủ trưởng đơn vị được quyết định phương
thức khoán chi phí cho từng bộ phận, đơn vị trực thuộc.
Quyết định đầu tư xây dựng, mua sắm mới và sửa chữa lớn tài sản thực
hiện theo quy định của pháp luật (Chính phủ,2006).
Ngoài quyền chi tiêu phân phối và sử dụng nguồn tài chính, ĐVSN có
hoạt động dịch vụ còn được vay vốn các tổ chức tín dụng, huy động vốn của cán
bộ, viên chức trong đơn vị để nâng cao chất lượng hoạt động sự nghiệp nhưng
nói chung và các bệnh viện công lập nói riêng thực hiện cơ chế quản lý tài chính
đơn vị sự nghiệp có thu theo Thông tư số 01 TC/HCVX ngày 04/01/1994 của Bộ
Tài chính quy định tạm thời chế độ quản lý tài chính đối với cơ quan hành chính,
đơn vị sự nghiệp, các đoàn thể, hội quần chúng tổ chức hoạt động có thu. Theo
quy định của Thông tư này, hàng năm, hàng quý, các đơn vị phải lập kế hoạch tài
chính phản ánh toàn bộ các khoản thu, chi đồng thời có kế hoạch phân phối