đánh giá hiện trạng hệ sinh thái đất ngập nước và đề xuất giải pháp bảo vệ các vùng sinh thái dễ bị tổn thương tại tỉnh bắc giang - Pdf 30


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

 NGUYỄN VĂN MẠNH
ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG HỆ SINH THÁI ĐẤT NGẬP NƯỚC
VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP BẢO VỆ CÁC VÙNG SINH THÁI
DỄ BỊ TỔN THƯƠNG TẠI TỈNH BẮC GIANG

CHUYÊN NGÀNH: KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG
MÃ SỐ: 60.64.03.01

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. TRỊNH QUANG HUY

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page iii

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành đề tài tốt nghiệp, ngoài sự cố gắng của bản thân tôi đã nhận
được rất nhiều sự quan tâm giúp đỡ nhiệt tình của thầy cô, bạn bè và người thân.
Trước tiên, tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS. Trịnh Quang
Huy - Phó Trưởng khoa Môi trường – Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã tận
tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài và hoàn thành bản
luận văn này.
Tôi xin được gửi lời cảm ơn chân thành tới Sở Tài nguyên và Môi trường;
Chi cục Bảo vệ môi trường tỉnh; Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; Phòng
Nông và PTNT, Phòng Kinh tế hạ tầng, Phòng Tài nguyên và MT các huyện, thành


C
HƯƠNG 1
T

N
G

Q
UAN
T
À
I
L
I

U
4

1.1. Tóm tắt lịch sử nghiên cứu về đất ngập nước 4
1.1.1. Khái quát về đất ngập nước 4
1.1.2. Trên thế giới 5
1.1.3. Ở Việt Nam 8
1.2. Hiện trạng quản lý đất ngập nước ở Việt Nam 12
1.2.1. Quản lý đất ngập nước ở cấp trung ương 14
1.2.2. Quản lý đất ngập nước ở cấp tỉnh 15
1.1.3. Quản lý đất ngập nước ở tỉnh Bắc Giang 15
1.3. Một số tồn tại trong quản lý đất ngập nước hiện nay 15
1.3.1. Về văn bản luật pháp 15
1.3.2. Quản lý đất ngập nước 17

3.3.1. Hiện trạng chất lượng nước tại một số khu vực đất ngập nước
hồ chứa trên địa bản tỉnh 47
3.3.2. Đánh giá chỉ tiêu đa dạng sinh học chỉ thị cho chất lượng nước 52
3.4. Hiện trạng khai thác và áp lực tới các vùng đất ngập nước 57
3.5. Hiện trạng quản lý và bảo tồn các vùng đất ngập nước 59
3.6. Đề xuất giải pháp bảo vệ các vùng sinh thái đất ngập nước trên địa bàn tỉnh 61
3.6.1. Giải pháp kỹ thuật 61
3.6.2. Giải pháp về giáo dục, tuyên truyền 63
3.6.3. Giải pháp quản lý 64
KẾT LUẬN - KIẾN NGHỊ 66
TÀI LIỆU THAM KHẢO 68
PHỤ LỤC HÌNH

PHỤ LỤC TỔNG HỢP KẾT QUẢ PHIẾU ĐIỀU TRA
PHỤ LỤC PHIẾU ĐIỀU TRA

PHỤ LỤC PHIẾU KẾT QUẢ PHÂN TÍCH MẪUHọc viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page vi

DANH MỤC BẢNG
STT Tên bảng Trang
3.1. Diện tích đất trồng lúa và diện tích nuôi trồng thủy sản ở các huyện 31
3.2. Thống kê các hồ có dung tích lớn hơn 500,000 m3 36
3.3. Mật độ động vật nổi tại một số khu vực của tỉnh 38
3.4. Cấu trúc thành phần loài thực vật nổi vùng nghiên cứu 39
3.5. Các nhóm côn trùng tại các khu vực đất ngập nước tỉnh 40
3.6. So sánh số lượng chim của tỉnh Bắc Giang so với Việt Nam 41


BTVĐNN Bảo tồn vùng đất ngập nước
CTY TNHH Công ty trách nhiệm hữu hạn
ĐDSH Đa dạng sinh học
ĐNN Đất ngập nước
HST Hệ sinh thái
KBT Khu bảo tồn
NĐ-CP Nghị định chính phủ
NN&PTNT Nông nghiệp và phát triển nông thôn
QĐ-TT Quyết định thủ tướng
QCVN Quy chuẩn Việt Nam
TNMT Tài nguyên và môi trường
UBND Ủy ban nhân dân

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 1

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Bắc Giang là một tỉnh miền núi thuộc vùng Đông Bắc Bộ, với diện tích tự
nhiên khoảng 3.849 km² chiếm 1,16% diện tích tự nhiên của cả nước. Địa hình
chủ yếu là đồi núi, chiếm hơn 72% diện tích của cả tỉnh. Bắc Giang có một khu
hệ sinh thái đất ngập nước rộng khắp với 3 con sông lớn chảy qua với tổng chiều
dài 347 km, lưu lượng lớn và có nước quanh năm cùng nhiều hồ chứa lớn với
tổng diện tích gần 5.000 ha (hồ Cấm Sơn, hồ Suối Nứa, hồ Hố Cao, hồ Cây
Đa và hồ Suối Mỡ) và hàng trăm các hồ, ao có dung tích nhỏ nằm rải rác khắp
các huyện. Các hồ chứa là một dạng đất ngập nước điển hình, tuy là dạng đất
ngập nước nhân tạo nhưng nó mang đầy đủ các chức năng của đất ngập nước như
kiểm soát lũ, giảm xói mòn, là nơi tích trữ các chất dinh dưỡng, nơi sinh sống
của đa dạng các loài động thực vật và còn là một hệ thống xử lý chất ô nhiễm

2. Mục đích nghiên cứu
- Thống kê các hồ chứa trên địa bàn tỉnh
- Đánh giá hiện trạng chất lượng nước và đa dạng sinh học để xác định các
khu vực có nguy cơ bị tổn thương
- Hiện trạng quản lý đất ngập nước trên địa bàn tỉnh
- Hiện trạng khai thác và áp lực tới hệ sinh thái đất ngập nước
- Đề xuất giải pháp bảo vệ hệ sinh thái đất ngập nước dễ bị tổn thương về
môi trường trên địa bàn.
3. Yêu cầu của đề tài
- Việc thu thập các tài liệu, số liệu liên quan đến đề tài phải đảm bảo tính
tin cậy
- Thống kê, phân bố các hồ chứa có dung tích > 100.000 m
3
trên địa bàn tỉnh
- Việc xác định hàm lượng các chất pH, DO, COD, BOD5, (TSS), Pb,
Fe, Cu, Zn, Clorua, Colifrom và một số chỉ tiêu liên quan đến đa dạng sinh học
(thành phần và mật độ động vật nổi) theo QCVN
- Từ kết quả phân tích mẫu nước xác định các vùng hệ sinh thái có nguy
cơ dễ bị tổn thương về môi trường.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 3

- Đánh giá công tác quản lý, hiện trạng khai thác và áp lực tới hệ sinh thái
dựa trên kết quả tổng phiếu điều tra, phỏng vấn người dân và các tài liệu thứ cấp.
- Từ hiện trạng kết quả phân tích mẫu nước, quản lý, khai thác và áp lực
tới hệ sinh thái đề xuất giải pháp bảo vệ hệ sinh thái đất ngập nước phù hợp thực
tế của địa phương. Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Keddy, 2000)).
Qua các nghiên cứu, các nhà khoa học về ĐNN đã được xác định được
những điểm chung của ĐNN thuộc các loại hình khác nhau, đó là chúng đều
có nước nông hoặc bão hòa nước, tồn trữ các chất hữu cơ thực vật phân hủy
chậm, và nuôi dưỡng rất nhiều loài động vật, thực vật thích ứng với điều kiện
bão hòa nước.
Tùy thuộc vào sự khác nhau về loại hình, phân bố cùng với những mục
đích sử dụng khác nhau mà người ta định nghĩa với ĐNN rất khác nhau
Trên thế giới hiện đã có trên 50 định nghĩa về ĐNN (Mitsch và Gosselink,
(1986 & 1993); Dugan, (1990)). Nhiều tài liệu ở các nước như Canada, Hoa Kỳ
và Úc (Zoltai, 1979), (33 CFR323.2(c);1984) (trong Hoàng Văn Thắng, (1995)),
Ủy ban ĐNN của Liên Hiệp Quốc (UN Committee on Characterization of
Wetlands, (1995) v.v đã định nghĩa về đất ngập nước theo nhiều mức độ và
mục đích khác nhau.
Định nghĩa về ĐNN của Công ước RAMSAR (Công ước về các vùng
ĐNN có tầm quan trọng quốc tế, đặc biệt như nơi cư trú và các loài chim nước –
Convention on wetland of intrenational importance, especially as waterfol
habitat) có tầm khái quát và bao hàm nhất. Theo định nghĩa này, ĐNN là : “Các
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 5

vùng đầm lầy, than bùn hoặc vùng nước tự nhiên hay nhân tạo, có nước thường
xuyên hay tạm thời, nước đứng hay nước chảy, nước ngọt, nước lợ hay nước
mặn, kể cả các vùng nước ven biển có độ sâu không quá 6m khi thủy triều thấp
đều là các vùng đất ngập nước” (Điều 1.1. Công ước Ramar, (1971)).
Đất ngập nước có vai trò quan trọng đối với đời sống của các cộng đồng
dân cư. Hiện nay, khoảng 70% dân số thế giới sống ở các vùng ven cửa sông ven
biển và xung quanh các thủy vực nước ngọt nội địa (Dugan, (1990)). Đất ngập
nước còn là nơi sinh sống của một số lượng lớn các loài động vật và thực vật,
trong đó có nhiều loài quý hiếm.

Ngày nay, các nhà nghiên cứu đã thống nhất chia lịch sử nghiên cứu đất
ngập nước ra làm 3 giai đoạn: trước năm 1950; 1950 – 1970 và giai đoạn sau
năm 1970:
Các công trình ở giai đoạn thứ nhất (trước năm 1950) là nghiên cứu về
quần xã thực vật tại các đầm lầy, địa mạo, thuỷ văn, nghiên cứu động lực của đới
ven bờ. Tiếp đến là các nghiên cứu về cổ thực vật nhằm giải thích sự thay đổi của
chế độ khí hậu và mực nước biển trong quá khứ. Góp phần vào đó là các nhà
nghiên cứu và sưu tầm cổ vật. Các nghiên cứu này cung cấp các dữ liệu về tiến
trình phát triển và thay đổi của cảnh quan, văn hoá các vùng đất ngập nước. Các
công trình ở giai đoạn này thường chỉ nhấn mạnh đến việc mô tả đơn ngành như
các nghiên cứu về bãi triều của các nhà khoa học Đức, Hà Lan từ giữa thế kỷ 19,
các nghiên cứu quần xã thực vật và sinh thái tại các đầm lầy, đầm lầy than bùn
hay động lực của sông được tiến hành từ thế kỷ 19. Ngoài ra còn hàng loạt các
công trình nghiên cứu về cổ thực vật nhằm xác định sự thay đổi của khí hậu, mực
nước biển, điều kiện cổ khí hậu. Cùng trong thời gian này (đầu thế kỷ 20), các
nhà khoa học Bắc Mỹ đã bắt đầu nghiên cứu về đất ngập nước nội địa thông qua
việc nghiên cứu tổng hợp giữa vị trí địa lý, thuỷ văn, diễn thế sinh thái thực vật,
địa tầng. Các hoạt động này đã đem lại những hiểu biết cao hơn về các vùng đất
ngập nước cho cộng đồng, đặc biệt là các kiến thức về tự nhiên. Điều đó đã dẫn
đến sự công nhận những giá trị của đất ngập nước đối với việc quản lý chất
lượng nước và đánh giá cao các giá trị văn hoá, du lịch của đất ngập nước, thúc
đẩy việc bảo vệ các vùng đất ngập nước của Chính phủ.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 7

Giai đoạn thứ 2 (1950 - 1970) sự tiến bộ về khoa học kỹ thuật và tài liệu
thực nghiệm đã giúp các nhà nghiên cứu theo dõi sự thay đổi của ĐNN vào cuối
Đệ tứ, từ đó có những hiểu biết cụ thể hơn về sự biến đổi các vùng ĐNN. Các
lĩnh vực như sinh thái học ĐNN, hoá học nước đã được chú ý. Tuy nhiên, tính
liên ngành của các nghiên cứu này còn hạn chế.

Châu Á và Đông Nam Á là khu vực có diện tích ĐNN lớn của thế giới. Do
mật độ dân cư cao (chiếm 60% số dân toàn thế giới) dẫn đến sự phụ thuộc có tính
lịch sử và lâu dài của các cộng đồng dân cư tại đây vào tài nguyên ĐNN. ĐNN
của khu vực này đang phải đối mặt với tình trạng suy thoái nghiêm trọng và một
số vùng ĐNN có nguy cơ xoá sổ. Các nghiên cứu hiện nay về ĐNN tại châu Á
chủ yếu tập trung vào các lĩnh vực sau: Xác định loại hình ĐNN và sự phân bố
của chúng; Nghiên cứu các mối đe doạ hiện tại và yêu cầu về bảo vệ ĐNN, đa
dạng sinh học của các vùng đất ngập nước.
Trong tình hình hiện nay, việc nghiên cứu và bảo tồn các vùng ĐNN có ý
nghĩa vô cùng quan trọng đối với các quốc gia trong khu vực, số các nước ký
công ước Ramsar ngày càng tăng. Công tác nghiên cứu ĐNN trên thế giới trong
những năm qua đã nhận được sự ủng hộ của nhiều tổ chức quốc tế như Hiệp hội
bảo tồn thiên nhiên thế giới (The World Conservation Union - IUCN), Chương
trình môi trường của Liên hợp quốc (UNEP), Quỹ động vật hoang dã thế giới
(WWF), các tổ chức phi chính phủ (NGO). Trong đó quan trọng nhất là vai trò
của IUCN vì đây là tổ chức trực tiếp hỗ trợ về tài chính và là cơ quan phối hợp
kết nối với các hoạt động với các tổ chức khác trong việc bảo vệ và nghiên cứu
ĐNN trên Thế giới.
1.1.3. Ở Việt Nam
ĐNN ở Việt Nam đã và đang thu hút được nhiều sự quan tâm của các nhà
nghiên cứu thuộc các lĩnh vực khác nhau (khoa học tự nhiên, xã hội, luật pháp,
quân sự). Các công trình nghiên cứu ĐNN ở Việt Nam tương đối phong phú, đề
cập đến nhiều vấn đề bức xúc như kiểm kê, phân loại các vùng ĐNN, phân tích
chức năng, giá trị của các hợp phần cấu thành vùng ĐNN, hoặc nghiên cứu tổng
hợp một vùng, một đối tượng cụ thể. Có thể khái quát các công trình này theo hai
khuynh hướng như sau:
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 9

- Nghiên cứu tổng hợp theo từng vùng cụ thể hoặc toàn quốc, ví dụ đồng


và xúc tiến hoạt động “nghiên cứu về đất ngập nước” một cách chính thức ở
Việt Nam.
Các nhà Điểu học thuộc khoa Sinh học - Đại học Tổng hợp Hà Nội (Đại
học Quốc gia Hà Nội) là lực lượng nòng cốt của chương trình nghiên cứu về đất
ngập nước, trước 1989 họ đã tiến hành khảo sát nghiên cứu tập đoàn các loài
chim nước ở Việt Nam, và năm 1985 phát hiện Sếu đầu đỏ ở Tràm chim Đồng
Tháp Mười, viên gạch đầu tiên đặt nền móng cho việc nghiên cứu chim nước với
hệ sinh thái đất ngập nước. Trước những năm 1990, những nội dung nghiên cứu
khoa học chuyên ngành, có liên quan tới lĩnh vực tổng hợp về đất ngập nước có
thể kể đến như rừng ngập mặn, rừng Tràm ngập chua phèn, than bùn, hệ thuỷ
sinh học, hệ chim nước. Một số công trình nổi bật như: đề tài KT 03 - 02 về đầm
phá do Nguyễn Chu Hồi chủ nhiệm, KT 03 - 01 (chương trình 48B) về động lực
bãi bồi, tiềm năng nguồn lợi ven biển miền Bắc Việt Nam do Trần Đức Thạnh,
Nguyễn Đức Cự và Phí Kim Trung tiến hành.
Lĩnh vực nghiên cứu thứ 2 liên quan đến ĐNN tập trung vào làm rõ đặc
điểm sinh thái và đa dạng sinh học của các vùng ĐNN (cửa sông, đầm phá, ao
hồ ), điển hình là các công trình nghiên cứu về tài nguyên sinh thái và đa dạng
sinh học các vùng ĐNN của Vũ Trung Tạng (1994), Mai Đình Yên (2002), Đặng
Ngọc Thanh (1995 - 2000). Những công trình này đã thống kê, phân loại được
nhiều quần xã sinh vật và quan trọng là tìm hiểu được nhiều thành phần, nguồn
gốc và phân bố của chúng, trong đó đã nêu bật chức năng của vùng ĐNN như là
bãi đẻ, vùng di cư quan trọng của một số quần thể có ý nghĩa quốc gia và xuyên
quốc gia. Chương trình 64A (1982-1985) nghiên cứu hậu quả chiến tranh hoá
học của Mỹ lên rừng ngập mặn tỉnh Minh Hải (PGS. TS. Phan Nguyên Hồng chủ
nhiệm) đã nghiên cứu sự biến đổi của thảm thực vật rừng ngập mặn cũng như các
giá trị thoái hoá của đất do rừng bị huỷ diệt bởi các chất diệt cỏ và chất làm rụng
lá cây, trên cơ sở đó đề xuất biện pháp phục hồi rừng ngập mặn. Chương trình
64B (1986-1990) nghiên cứu hậu quả lâu dài của chiến tranh hoá học lên con
người và thiên nhiên, từ đó tìm biện pháp khắc phục.

đầu đỏ được lựa chọn là loài đặc trưng cho chương trình nghiên cứu. Trong hội
thảo này các đại biểu từ nhiều trường đại học hoặc viện khoa học (ở các nước Úc,
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 12

Nhật, Canada, Hoa Kỳ, Ấn Độ, nhiều nước Châu Âu, Phi, Á ) đã đem tới cho
Việt Nam những tư liệu khoa học có tính thực tiễn cao về đất ngập nước, hệ sinh
thái đất ngập nước, phân loại đất ngập nước, tổ chức quản lý và sử dụng bền
vững đất ngập nước. Hội thảo khoa học quốc tế nói trên được xác định là mốc
lịch sử của chương trình nghiên cứu về đất ngập nước ở Việt Nam.
Chương trình khoa học bảo vệ đất ngập nước toàn cầu do WWF và IUCN
đồng chủ trì và hỗ trợ thực hiện năm 1985-1987 đã có ảnh hưởng tới sự khởi
động nhận thức về lĩnh vực đất ngập nước ở nước ta. Cơ quan quản lý và chỉ đạo
cấp Nhà nước trong các chương trình nghiên cứu về ĐNN là Cục Bảo vệ môi
trường thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường đã thực sự tạo nên những định hướng
và giải pháp phát triển nghiên cứu, chương trình hành động quản lý và bảo vệ
những vùng đất ngập nước của Việt Nam.
1.2. Hiện trạng quản lý đất ngập nước ở Việt Nam
Từ năm 1976 đến nay, Việt Nam đã có hơn 500 văn bản quy phạm pháp
luật có liên quan đến bảo vệ môi trường và bảo tồn thiên nhiên, những văn bản
này đã góp phần quan trọng trong việc bảo vệ đất ngập nước. Mặt khác kể từ khi
Việt Nam chính thức tham gia Công ước Ramsar, Chính phủ đã quan tâm rất
nhiều đến việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, vừa tạo cơ sở cho việc
quản lý đất ngập nước bằng pháp luật, vừa tạo điều kiện cho việc hội nhập quốc
tế trong việc bảo tồn và phát triển bền vững các vùng đất ngập nước ở Việt Nam.
Tuy nhiên trong số đó chỉ có khoảng hơn 10 văn bản có những quy định
trực tiếp về đất ngập nước. Trong các văn bản còn lại, việc bảo tồn và sử dụng
hợp lý đất ngập nước chỉ được quy định gián tiếp thông qua việc bảo vệ các
thành phần trong hệ sinh thái đất ngập nước như bảo vệ tài nguyên nước, bảo vệ
động thực vật hoang dã. Theo Luật đất đai (2003) không có danh mục về “đất

Các công ước quốc tế liên quan đến quản lý ĐNN mà Việt Nam tham gia
Bên cạnh việc ban hành hàng loạt các văn bản quy phạm pháp luật về sử
dụng, quản lý và bảo vệ đất ngập nước, Chính phủ Việt Nam đã tham gia các
Công ước quốc tế có liên quan đến đất ngập nước như: Công ước Ramsar về đất
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 14

ngập nước, Công ước Đa dạng sinh học, Công ước quốc tế về buôn bán các loài
động thực vật hoang dã nguy cấp, Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển,
Hiệp định hợp tác và phát triển bền vững lưu vực sông Mê Kông (hiệp định sông
Mêkông) và Nghị định thư Kyoto. Việc cam kết thực hiện các Công ước là nhằm
trao đổi thông tin và chia sẻ kinh nghiệm của các nước về quản lý, bảo tồn và
phát triển các vùng đất ngập nước. Đây cũng là những nguồn tài liệu quan trọng
cho việc nghiên cứu và quản lý ĐNN ở Việt Nam.
1.2.1. Quản lý đất ngập nước ở cấp trung ương
Cho đến hiện nay, ở Việt Nam không có cơ quan nào chịu trách nhiệm
duy nhất về quản lý ĐNN ở cấp Trung ương. Mỗi Bộ, Ngành tùy thuộc theo chức
năng được Chính phủ phân công sẽ thực hiện việc quản lý theo lĩnh vực từng
ngành bao gồm cả đối tượng ĐNN.
- Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chịu trách nhiệm về ĐNN trong
phạm vi đất canh tác lúa nước, các khu rừng là vườn quốc gia hay khu bảo tồn
thiên nhiên ĐNN, các công trình thủy lợi, các hồ chứa.
- Bộ Thủy sản chịu trách nhiệm về ĐNN trong phạm vi diện tích mặt nước
nuôi trồng thủy sản và vùng ven bờ biển.
- Bộ Tài nguyên và Môi trường chịu trách nhiệm về ĐNN, nhất là các hoạt
động liên quan đến Công ước Ramsar. Các cơ quan khác liên quan đến sử dụng
ĐNN như giao thông thủy, du lịch, thủy điện
Một đặc điểm cơ bản là các vùng ĐNN ở Việt Nam là nơi sinh sống của
các cộng đồng dân cư từ thế hệ này sang thế hệ khác, đã hình thành những giá trị
văn hóa, tập quán canh tác đặc thù, vì vậy mà việc quản lý ĐNN không thể tách

quan tâm thực hiện và mới chỉ giao cho Sở Tài nguyên môi trường chủ yếu thực
hiện, thiếu sự phối hợp của nhiều đơn vị liên quan.

1.3. Một số tồn tại trong quản lý đất ngập nước hiện nay
1.3.1. Về văn bản luật pháp
Việt Nam chưa có luật riêng về ĐNN, còn thiếu các quy định, pháp luật về
quản lý, bảo tồn, sử dụng khôn khéo và phát triển bền vững ĐNN; thiếu những
quy định cụ thể và rõ ràng về hệ thống quản lý nhà nước; thiếu sự thống nhất về
cơ chế phối hợp giữa các bộ ngành địa phương trong các hoạt động liên quan đến
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 16

ĐNN và thiếu các chế tài để thi hành. Những quy định điều chỉnh trực tiếp hoạt
động quản lý và bảo tồn ĐNN chủ yếu do Bộ và các địa phương ban hành, còn
thiếu các văn bản mang tính pháp lý cao như nghị định của Chính phủ. Hiện nay,
mới chỉ có Nghị định 109/2003/NĐ-CP
Các văn bản do Ủy ban nhân dân các địa phương ban hành còn nặng nề về
biện pháp hành chính, thiếu các chế tài huy động sự tham gia của cộng đồng
trong khai thác ĐNN. Do đó các văn bản quy định chưa đáp ứng được yêu cầu
bảo tồn và phát triển bền vững các vùng ĐNN.
Hệ thống chính sách và pháp luật để quản lý ĐNN còn thiếu đồng bộ và
chưa hoàn thiện. Các điều khoản quy định pháp lý có liên quan đến ĐNN bị phân
tán, chồng chéo trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác nhau, thiếu cụ thể,
chưa đảm bảo được tính khoa học và đồng bộ, chưa tính hết được các yếu tố kinh
tế - xã hội nên rất khó thực thi hoặc thực thi kém hiệu quả.
Nhiều thuật ngữ và khái niệm liên quan đến ĐNN đã không được quy định
thống nhất và giải thích rõ ràng trong các văn bản pháp luật và chính sách của
Việt Nam. Các văn bản pháp luật liên quan chưa bao quát toàn diện các vấn đề
đặt ra đối với vấn đề đặt ra đối với quản lý và bảo tồn ĐNN. Hiện nay chưa có
chính sách thống nhất rõ ràng vào việc bảo vệ, mở rộng hay thu hẹp các vùng

định rõ ràng.
Thiếu quy hoạch tổng thể quản lý ĐNN, các quy hoạch cụ thể hoặc còn
thiếu không phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của từng vùng. Điều
đó gây ra xung đột môi trường trong việc sử dụng ĐNN, làm suy thoái tài
nguyên. Các quy hoạch quản lý lãnh thổ phát triển kinh tế, giao thông xây dựng,
hồ đập sẽ làm thay đổi hoặc gây cản trở cho việc quản lý ĐNN
Các vùng ĐNN có giá trị cao vẫn chưa được quy hoạch bảo tồn và quản lý
có hiệu quả, nhiều vùng ĐNN chưa có chính sách quản lý và bảo tồn phù hợp.
Đầu tư nguồn lực cho việc bảo tồn và phát triển bền vững ĐNN chưa tương xứng
và giá trị của nó. Nguồn vốn đầu tư cho đào tạo nhân lực, nghiên cứu khoa học,
xây dựng các mô hình phát triển bền vững ĐNN, cho việc bảo tồn, bảo vệ môi
trường và tài nguyên đất ngập nước còn ở mức thấp, không hợp lý thiếu cân đối.

Trích đoạn Phân bố hệ sinh thái đất ngập nước dựa trên diện tích nuô Phân bố hệ sinh thái đất ngập nước các hồ chứa Đánh giá chỉ tiêu đa dạng sinh học chỉ thị cho chất lượng nước Giải pháp kỹ thuật Giải pháp quản lý
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status