TRƢỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
NGUYỄN THÀNH TỦY XU HƢỚNG TIÊU DÙNG THỰC PHẨM
SẠCH CỦA NGƢỜI DÂN TRÊN ĐỊA BÀN
THÀNH PHỐ CẦN THƠ LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Ngành Quản trị kinh doanh Marketing
Mã số ngành: 52340101
Tháng 11 - 2013
Tháng 11 - 2013
i
LỜI CẢM TẠ
Để hoàn thành luận văn này, tôi đã nhận được sự hướng dẫn và giúp đỡ
của rất nhiều cá nhân và tập thể.
Trước tiên, tôi xin gửi lời biết ơn sâu sắc đến cha mẹ, người đã hỗ trợ,
cho tôi niềm tin và động lực để có được ngày hôm nay.
Với lòng kính trọng, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Quý thầy cô
của Trường Đại học Cần Thơ nói chung và Quý thầy cô của Khoa Kinh tế -
Quản trị kinh doanh nói riêng, những người đã tận tình truyền đạt, bồi dưỡng
kiến thức quý báu và hữu ích giúp tôi có thể chuẩn bị hành trang vượt qua
những khó khăn, thử thách trong công việc cũng như trong cuộc sống sau này.
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến Quý thầy cô và các bạn bè, những người
đã hỗ trợ tôi rất nhiều trong quá trình thực hiện đề tài nghiên cứu của mình.
Đặc biệt, tôi xin gửi lời tri ân sâu sắc nhất đến Th.S Châu Thị Lệ Duyên
đã trực tiếp hướng dẫn tôi, quan tâm, giúp đỡ tận tình trong suốt thời gian tôi
thực hiện đề tài.
Cuối lời, tôi xin kính chúc Quý thầy cô và tất cả mọi người được nhiều
sức khoẻ, niềm vui, hạnh phúc và thành công.
Cần Thơ, ngày 04 tháng 12 năm 2013
Ngƣời thực hiện Nguyễn Thành Tủy
ii
LỜI CAM KẾT
Tôi xin cam kết luận văn này được hoàn thành dựa trên các kết quả
2.2 MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU HÀNH VI TIÊU DÙNG 25
2.2.1 Mô hình thái độ ba thành phần 25
2.2.2 Mô hình thái độ đơn thành phần 26
2.2.3 Mô hình thái độ đa thuộc tính 26
2.2.4 Mô hình hành động hợp lý 26
2.2.5 Mô hình về lý thuyết tín hiệu 28
2.2.6 Mô hình xu hướng tiêu dùng của Dodds, Monroe, Grewal 29
iv
2.2.6 Mô hình nghiên cứu trước 30
2.2.7 Mô hình nghiên đề xuất 30
2.3 PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 35
2.3.1 Phương pháp thu thập số liệu 35
2.3.2 Lý thuyết các phương pháp phân tích số liệu 37
CHƢƠNG 3: TỔNG QUAN VỀ TIÊU DÙNG THỰC PHẨM SẠCH
CỦA NGƢỜI DÂN TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ CẦN THƠ 40
3.1. MỘT VÀI NÉT TIÊU BIỂU VỀ TP. CẦN THƠ 40
3.1.1. Lịch sử hình thành 40
3.1.2. Cơ sở hạ tầng 40
3.1.3 Tiềm năng và cơ hội đầu tư 41
3.1.4 Kinh tế và xã hội 42
3.2. KHÁI QUÁT TÌNH HÌNH KINH DOANH TRÊN ĐỊA BÀN
TP. CẦN THƠ 43
3.2.1 Chỉ số giá tiêu dùng TP. Cần Thơ 43
3.2.2 Mức bán lẻ hàng hóa TP. Cần Thơ 44
3.2.3 Tiêu dùng 45
CHƢƠNG 4: XU HƢỚNG TIÊU DÙNG THỰC PHẨM SẠCH CỦA
NGƢỜI DÂN TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ CẦN THƠ 47
4.1 THỰC TRẠNG TIÊU DÙNG THỰC PHẨM CỦA NGƢỜI DÂN
TP. CẦN THƠ 47
DANH SÁCH BẢNG
Trang
Bảng 2.1 Diễn giải các biến thành phần và hiệu chỉnh thang đo 34
Bảng 4.1 Thông tin chung của đáp viên 47
Bảng 4.2 Thu nhập các nhân của đáp viên 49
Bảng 4.3 Hiểu biết về thực phẩm sạch 50
Bảng 4.4 Dấu hiệu nhận biết thực phẩm sạch 51
Bảng 4.5 Mối quan hệ giữa nghề nghiệp và tiêu dùng thực phẩm sạch 51
Bảng 4.6 Nguyên nhân tiêu dùng thực phẩm sạch 52
Bảng 4.7 Các loại thực phẩm sạch thường được tiêu dùng 53
Bảng 4.8 Phần trăm mua từng loại thực phẩm sạch 54
Bảng 4.9 Nơi mua thực phẩm sạch 54
Bảng 4.10 Các kênh thông tin tham khảo về TPS 55
Bảng 4.11 Kết quả kiểm định thang đo lần 1 56
Bảng 4.12 Kết quả kiểm định thang đo lần lần 2 57
Bảng 4.13 Kết quả kiểm định thang đo lần cuối 58
Bảng 4.14 Kết quả kiểm định thang đo XHTDTPS 59
Bảng 4.15 Ma trận điểm nhân tố 60
Bảng 4.16 Thống kê nội dung và đặt tên các nhóm biến 61
Bảng 4.17 Kết quả phân tích hồi quy tuyến tính 64
Bảng 4.18 Kết quả kiểm định so sánh XHTDTPS theo giới tính 67
Bảng 4.19 Kết quả kiểm định sự khác biệt mức độ tác động theo nhóm tuổi . 68
Bảng 4.20 Kết quả kiểm định sự khác biệt XHTDTPS theo nghề nghiệp 68
Bảng 4.21 Kết quả kiểm định sự khác biệt XHTDTPS theo thu nhập 69
Bảng 4.22 Kết quả kiểm định sự khác biệt XHTDTPS theo tình trạng hôn nhân
69
vii
DANH SÁCH HÌNH
Trang
1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1.1 Sự cần thiết nghiên cứu
Với xu hướng toàn cầu hóa, hiện đại hóa cùng với sự phát triển của
những thành tựu về kinh tế, khoa học kỹ thuật nên đời sống con người được
cải thiện và nâng cao dẫn đến nhu cầu tiêu dùng ngày càng phong phú, đặc
biệt là nhu cầu về ăn uống. Thực phẩm là nhu cầu thiết yếu cần cho sự sống và
phát triển của con người. Hiện nay hàng loạt những thực phẩm không rõ
nguồn gốc, không rõ thành phần tràn lan trên thị trường. Những thực phẩm đó
là một mối nguy hại tiềm tàng rất lớn không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến sức
khỏe và chất lượng cuộc sống của mỗi người mà còn tác động mạnh về kinh tế
và chi phí chăm sóc sức khỏe. Sự lựa chọn không đúng giữa thực phẩm an
toàn và thực phẩm độc hại con người chúng ta đang tự giết mình hàng ngày,
hàng giờ. Và việc sử dụng thực phẩm không an toàn đã gây ra những căn bệnh
vô cùng nguy hiểm như bệnh ung thư, bệnh tim mạch, bệnh rối thần kinh,… là
rất phổ biến ngày nay. Đặc biệt thể hiện rõ nhất là rối loạn tiêu hóa, một hiện
tượng của ngộ độc thực phẩm. Theo báo cáo của Tổ chức Y tế thế giới
(WHO), hơn 1/3 dân số các nước phát triển bị ảnh hưởng của các bệnh do thực
phẩm gây ra mỗi năm. Đối với các nước đang phát triển, tình trạng lại càng
trầm trọng hơn nhiều, hàng năm gây tử vong hơn 2,2 triệu người, trong đó hầu
hết là trẻ em. Các vụ ngộ độc thực phẩm có xu hướng ngày càng tăng. Nước
Mỹ hiện tại mỗi năm vẫn có 76 triệu ca ngộ độc thực phẩm với 325.000 người
phải vào viện và 5.000 người chết (Bộ Y Tế, 2011).
Việt Nam là một quốc gia đang phát triển và vệ sinh an toàn thực phẩm
hiện đang là một vấn đề hết sức nan giải. Tình trạng ngộ độc thực phẩm có
xu hướng tăng và ảnh hưởng không nhỏ tới sức khoẻ cộng đồng. Bên cạnh
đó, sản xuất, kinh doanh thực phẩm ở nước ta cơ bản vẫn là nhỏ lẻ và quy
mô hộ gia đình nên việc kiểm soát an toàn vệ sinh rất khó khăn (Bộ Y Tế,
2011, trang 20). Theo bộ y tế Cục An Toàn Thực Phẩm thì số vụ ngộ độc
thực phẩm năm 2012 là 168 vụ, 5.541 người mắc, 4.335 người đi viện và 34
Danh (2011) đã nghiên cứu về hành vi tiêu dùng rau an toàn tại thành phố Cần
Thơ, Lưu Bá Đạt (2011) cũng đã nghiên cứu về hành vi tiêu dùng đối với thực
phẩm đóng hộp có nguồn gốc xuất xứ từ Trung Quốc ở Quận Ninh Kiều TP.
Cần Thơ.
Ngoài ra, theo ông Alain Barbu (Giám đốc World Bank) phát biểu tại lễ
trao giải năm 2008 về ATTP thì vấn đề thực phẩm không chỉ trực tiếp liên
quan đến sức khỏe và đời sống con người, mà còn ảnh hưởng đến sự phát triển
của nền kinh tế. Ước tính thiệt hại cho con người do các bệnh từ thực phẩm
gây ra cũng như việc thị trường bị thu hẹp do sản phẩm không đạt chất lượng
rất có thể vượt qua con số 1 tỷ USD (tương đương với 2% GDP của Việt
Nam) (Tuấn Thanh, 2008). Tháng 11 năm 2012, phát hiện 119.489 cơ sở vi
phạm về ATTP chiếm 21,2 %, năm 2011 là 22,3% (Theo Lê Mai, 2013). Thực
tế, việc tiếp tục sử dụng những hoá chất cấm dùng trong nuôi trồng, chế biến
nông thủy sản, thực phẩm, việc sản xuất một số sản phẩm kém chất lượng
hoặc do quy trình chế biến hoặc do nhiễm độc từ môi trường, đang gây ảnh
3
hưởng xấu đến xuất khẩu và tiêu dùng của Việt Nam. Năm 2012 đã phát hiện
và đã tiêu hủy theo quy định 2.886 kg khô cá tra, 104 kg khô cá chim và 3 cơ
sở sản xuất chế biến cá khô sử dụng chất cấm Trichlorfon; 4/13 cơ sở kinh
doanh giá đỗ, rau mầm sử dụng hóa chất không rõ nguồn gốc, 1.179 kg huyết
heo không rõ nguồn gốc. Các vụ ngộ độc thực phẩm do một số bếp ăn tập thể
cung cấp, nhiều thông tin liên tục cập nhật về tình hình vệ sinh ATTP, cộng
thêm dịch cúm gia cầm tái phát, bệnh heo tai xanh ở một số nơi trên đất nước
càng làm bùng lên sự lo âu của mỗi chúng ta (Hồ Việt Hiệp, 2013). Chính vì
thế, người tiêu dùng đã thông minh hơn trong việc lựa chọn những thực phẩm
đảm bảo các tiêu chí về vệ sinh, an toàn thực phẩm để bảo vệ sức khoẻ cho
chính bản thân. Xu hướng tiêu dùng thực phẩm sạch, thực phẩm an toàn và
thực phẩm hữu cơ (từ đây về sau gọi chung là thực phẩm sạch (TPS)) đang
bùng nổ mạnh ở Việt Nam. Ngày càng đông đúc người dân bắt đầu biết sử
dùng Thực phẩm sạch của người dân Ninh Kiều, TP. Cần Thơ.
(3) Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao nhận thức của người dân
quận Ninh Kiều, TP. Cần Thơ đối với tiêu dùng thực phẩm sạch.
1.3 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU
Câu hỏi 1: Thực trạng tiêu dùng thực phẩm của người dân Ninh Kiều,
TP. Cần Thơ như thế nào?
Câu hỏi 2: Các nhân tố nào tác động đến xu hướng tiêu dùng thực phẩm
sạch của người dân quận Ninh Kiều, TP. Cần Thơ?
Câu hỏi 3: Những giải pháp nào cần đề ra để nâng cao nhận thức tiêu
dùng thực phẩm sạch của người dân nơi đây?
1.4 PHẠM VI NGHIÊN CỨU
1.4.1 Không gian
Nghiên cứu được thực hiện tại địa bàn TP. Cần Thơ. TP. Cần Thơ là
thành phố trực thuộc Trung Ương và là trung tâm thương mại, dịch vụ lớn
nhất vùng đồng bằng sông Cửu Long. Do đó, xu hướng tiêu dùng thực phẩm ở
đây là rất cao. Bên cạnh đó, thị trường tiêu thụ tại TP. Cần Thơ đang thu hút
sự chú ý và quan tâm của nhiều nhà đầu tư. Vì thế, nghiên cứu đáp ứng được
nhu cầu thực tế của nền kinh tế. Vùng nghiên cứu của đề tài là quận Ninh
Kiều, quận trung tâm TP. Cần Thơ, có nền kinh tế phát triển mạnh và chuyển
dịch sang cơ cấu công nghiệp - thương mại - dịch vụ du lịch, thu hút nhiều
người nước ngoài vào đầu tư. Đề tài chỉ nghiên cứu phạm vi quận Ninh Kiều
là do thời gian, trình độ và điều kiện có hạn. Hơn nữa quận Ninh Kiều có kinh
tế phát triển mạnh trong tất cả các quận, huyện ở TP. Cần Thơ, người dân có
mức sống cao và thu nhập cao phù hợp với xu hướng nghiên cứu.
1.4.2 Thời gian
Số liệu thứ cấp được thu thập trong khoảng thời gian từ năm 2008 đến
tháng 6 năm 2013. Số liệu sơ cấp được thu thập thông qua phỏng vấn trực tiếp
người tiêu dùng bằng bảng câu hỏi trong tháng 10-11 năm 2013.
sức khỏe của mình và người thân nên hầu hết những thông tin về chỉ định các
của bác sĩ, chất lượng thực phẩm, hướng dẫn sử dụng, hạn dùng đều được xem
trọng. Đặc biệt là với thông tin xuất xứ đối với thực phẩm nhập khẩu và hạn sử
dụng người tiêu dùng đặc biệt chú ý khi mua thực phẩm. Tuy nhiên, nhìn
chung với những thông tin cụ thể, dễ hiểu, thì người tiêu dùng xem nhiều, còn
đối với các thông tin về lượng Calories, cũng như các chất phụ gia, thành phần
và định lượng thực phẩm người tiêu dùng ít quan tâm.
6
Lưu Bá Đạt (2011). “Phân tích hành vi tiêu dùng của ngƣời dân trên địa
bàn quận Ninh Kiều, TP. Cần Thơ đối với thực phẩm đóng hộp có nguồn gốc
xuất xứ từ Trung Quốc”. Đề tài tiến hành phỏng vấn 120 người tiêu dùng thực
phẩm đóng hộp ở quận Ninh Kiều TP. Cần Thơ. Mục tiêu của nghiên cứu là
phân tích hành vi tiêu dùng của người dân trên địa bàn quận Ninh Kiều, TP.
Cần Thơ đối với thực phẩm đóng hộp có nguồn gốc xuất xứ từ Trung Quốc từ
đó đề xuất giải pháp để người tiêu dùng trên địa bàn TP. Cần Thơ ngày càng
ưu chuộng và ưu tiên dùng hàng Việt nhiều hơn. Kết quả cho thấy các nhân tố
ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn thực phẩm đóng hộp của Trung Quốc
được quyết định bởi nhóm yếu tố chất lượng và vệ sinh an toàn thực phẩm, giá
cả và tiện ích sản phẩm, cảm nhận, phương thức tiếp cận đều có ảnh hưởng
đến quyết định lựa chọn của người tiêu dùng với mức điểm trung bình gần
tương đồng nhau. Trong đó, yếu tố giá cả và tiện ích có ảnh hưởng mạnh nhất
đến quyết định lựa chọn của người tiêu dùng đối với các sản phẩm của Trung
Quốc. Đề tài đề ra 6 giải pháp: Phát triển sản phẩm theo hướng nâng cao chất
lượng, Phát triển sản phẩm chất lượng cao, Phát triển thị trường, Tăng cường
đầu tư đổi mới công nghệ cải tiến quy trình chế biến, Chiến lược cạnh tranh về
giá, Mở rộng mạng lưới phân phối.
Nguyễn Thị Thùy Dung và Lưu Tiến Thuận (2011). “Phân tích hành vi
tiêu dùng dầu ăn của ngƣời dân vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long”. Nghiên
cứu được tiến hành dựa trên việc phỏng vấn trực tiếp 120 người tiêu dùng ở 3
tiêu dùng với tuổi tác, trình độ học vấn và nghề nghiệp của các đối tượng. Còn
sự khác biệt về giới tính, tình trạng hôn nhân và thu nhập của các đối tượng
khác nhau là không có ý nghĩa.
Phạm Hữu Phát và Mai Văn Nam (2008). “Các yếu tố ảnh hƣởng đến xu
hƣớng mua dịch vụ bảo hiểm nhân thọ tại thành phố Cần Thơ”. Đề tài chọn
mẫu theo phương pháp thuận tiện với cỡ mẫu là 300, khu vực lấy mẫu là ở các
quận thành phố Hồ Chí Minh gồm: 1,2,3,6,11, Bình Chánh, Hóc Môn, Gò
Vấp. Mục đích của nghiên cứu này là xác định các thành phần của thang đo
thái độ đối với dịch vụ bảo hiểm nhân thọ. Đồng thời xem xét mối quan hệ
giữa mức độ đánh giá của khách hàng về thuộc tính của dịch vụ và mức độ
quan tâm của người thân ảnh hưởng như thế nào đến xu hướng mua dịch vụ
bảo hiểm nhân thọ của khách hàng. Nghiên cứu sơ bộ được thực hiện bằng
phương pháp định tính, thông qua kĩ thuật thảo luận tay đôi, nghiên cứu này
cùng với mô hình lý thuyết thái độ của Azjen và Fishbein (1980) là cơ sở để
xây dựng mô hình nghiên cứu của đề tài. Nghiên cứu chính thức được thực
hiện bằng phương pháp định lượng thông qua kỹ thuật phỏng vấn trực tiếp với
mẫu nghiên cứu là 315 khách hàng. Nghiên cứu này dùng để đo lường thái độ
đối với dịch vụ và kiểm định mô hình nghiên cứu. Thang đo được phân tích
thông qua phương pháp độ tin cậy Cronbach alpha và phân tích nhân tố khám
phá EFA, sau đó sử dụng phân tích hồi quy, kiểm định T-Test và Anova. Kết
quả nghiên cứu, đối với nhóm khách hàng chưa mua bảo hiểm nhân thọ thì các
yếu tố sự ủng hộ của cha mẹ có mức độ ảnh hưởng đến xu hướng mua mạnh
nhất. Kế đến là yếu tố tinh thần, sự ủng hộ của vợ chồng, sau cùng là yếu tố
bảo vệ. Sự gia tăng của các yếu tố này làm gia tăng xu hướng mua dịch vụ bảo
hiểm nhân thọ. Đối với nhóm khách hàng đã mua bảo hiểm nhân thọ đều có
chung nhận xét là lợi ích tinh thần ảnh hưởng đến xu hướng mua nhiều hơn lợi
ích bảo vệ hay lợi ích đầu tư.
8
Trần Lê Trung Huy (2011).“Phân tích xu hƣớng lựa chọn báo in và báo
Trần Thành Tài và Lưu Tiến Thuận (2013). “Nghiên cứu hành vi tiêu
dùng xanh của ngƣời dân thành thị vùng đồng bằng sông cửu long”. Số liệu
của nghiên cứu được phỏng vấn trực tiếp từ 160 người dân đang sống tại các
thành phố của 4 tỉnh An Giang, Cần Thơ, Đồng Tháp, Vĩnh Long. Mục tiêu
nghiên cứu là tìm ra các giải pháp nhằm nâng cao hành vi tiêu dùng xanh của
người dân thành thị vùng ĐBSCL. Các phương pháp phân tích được sử dụng
trong các nghiên cứu này là: thống kê mô tả để có đánh giá tổng quát về thực
9
trạng tiêu dùng xanh của người dân, phương pháp phân tích nhân tố khám phá
và kiểm định hệ số Cronbach’s Alpha để xây dựng và kiểm định các thang đo.
Ngoài ra, phương pháp mô hình cấu trúc tuyến tính (SEM) được sử dụng để
kiểm định độ tin cậy, giá trị phân biệt, giá trị hội tụ, tính đơn nguyên của các
khái niệm và thang đo trong nghiên cứu. Kết quả nghiên cứu cho thấy hành vi
tiêu dùng xanh chịu tác động bởi quy chuẩn chủ quan và hành vi kiểm soát
tiêu dùng xanh, còn yếu tố thái độ người tiêu dùng chưa thật sự tác động đến
hành vi tiêu dùng xanh. Mặt khác, quy chuẩn chủ quan lại chịu tác động bởi
tuyên truyền và giáo dục tiêu dùng xanh; niềm tin kiểm soát tiêu dùng xanh lại
tác động lên hành vi kiểm soát tiêu dùng xanh. Đề tài nghiên cứu đưa ra bốn
giải pháp là phát động chiến dịch tuyên truyền và giáo dục tiêu dùng xanh,
tăng cường quảng bá về các sản phẩm xanh, nâng cao nhận thức cũng như
chuẩn mực chủ quan cho người tiêu dùng. Ngoài ra, đề tài nghiên cứu còn đề
ra 2 nhóm kiến nghị đối với nhà nước, doanh nghiệp.
Jyh-Shen Chiou (1998). “The Effects of Attitude, Subjective Norm, and
Perceived Behavioral Control on Consumers’ Purchase Intentions: The
Moderating Effects of Product Knowledge and Attention to Social Comparison
Information”( Ảnh hƣởng của thái độ, định mức chủ quan, nhận thức và hành
vi điều khiển trên ý định mua của ngƣời tiêu dùng: Những ảnh hƣởng điều tiết
của các kiến thức sản phẩm và chú ý đến thông tin so sánh xã hội). Mục đích
của nghiên cứu này là để điều tra những ảnh hưởng tương đối của thái độ, định
biến tại nhà. Khách hàng ở đây có nhu cầu tư vấn cho sức khỏe, giới tính, tuổi
tác và nghề nghiệp vì vậy khách hàng có thể chọn bữa ăn kiên phù hợp. Kết
quả cho thấy rằng cần duy trì mạnh tư vấn ở những cửa hàng tại những nơi
đông người.
Lau Kwan yi (2009). “Consumer behaviour towards Organic food
consumption in Hong Kong” (hành vi tiêu dùng đối với tiêu thụ thực phẩm hữu
cơ tại Hồng Công). Nghiên cứu này điều tra về tiêu thụ thực phẩm hữu cơ tại
Hồng Kông. Thông qua kiểm tra các đặc điểm nhân khẩu học, thái độ đối với
thực phẩm hữu cơ, ý thức sức khỏe, vấn đề môi trường và kiến thức thực phẩm
hữu cơ. Nghiên cứu nhằm xác định mối liên quan giữa tất cả những yếu tố này
và các tần suất tiêu thụ thực phẩm hữu cơ. Kết quả cho thấy rằng giới tính và sự
hiện diện của trẻ em trong các hộ gia đình có ý nghĩa có mối quan hệ với việc
tiêu thụ thực phẩm hữu cơ. Các mối quan hệ tích cực về thái độ, sức khỏe ý
thức, mối quan tâm về môi trường và kiến thức thực phẩm hữu cơ với số lần
tiêu thụ thực phẩm hữu cơ. Đáng ngạc nhiên là tuổi tác, giáo dục và thu nhập
tìm thấy không có liên quan tích cực đến tiêu dùng thực phẩm hữu cơ.
Ming Elisa Liu (2007),“U.S. college student’s organic food consumption
behavior” (Hành vi tiêu dùng thực phẩm hữu cơ của sinh viên Mỹ). Đề tài tiến
hành nghiên cứu thuận tiện ngẫu nhiên 675 sinh viên đại học từ ba trường đại
học công lập ở Texas. Kết quả cho thấy mô hình ERE cho thấy khả năng tốt
hơn trong việc dự đoán, sự hiểu biết về thực phẩm hữu cơ của sinh viên đại
học và hành vi tiêu dùng so với TRA và TPB. Nghiên cứu cũng xác định rằng
dựa trên các cấu trúc của khung lý thuyết của mô hình ERE, Chuẩn chủ quan
của cá nhân có ảnh hưởng trực tiếp đến việc mua thực phẩm sinh viên đại học
và hành vi tiêu dùng. Ngoài ra, sự chấp nhận xã hội có ảnh hưởng gián tiếp
đến việc mua thức ăn của sinh viên đại học và hành vi tiêu dùng thông qua các
tiêu chuẩn chủ quan và xu hướng. Dựa trên cấu trúc của mô hình ERE, 2 nhóm
11
người tiêu dùng sinh viên được xác định: Một nhóm tiêu dùng thực phẩm hữu
tích hành vi người tiêu dùng là đo lường xu hướng tiêu dùng của khách
hàng. Xu hướng tiêu dùng nghĩa là sự nghiêng theo chủ quan của người tiêu
dùng về một sản phẩm, thương hiệu nào đó, và nó đã được chứng minh là yếu
tố then chốt để dự đoán hành vi người tiêu dùng (Fishbein and Ajzen, 1975).
Có một sự tương ứng giữa thuật ngữ “Xu hướng tiêu dùng” nói chung và “Xu
hướng lựa chọn” vì cả 2 đều hướng đến hành động chọn sử dụng hoặc một sản
phẩm/dịch vụ hoặc một thương hiệu (Trích từ Phạm Thi Tâm, Phạm Ngọc
Thúy, Chưa rõ).
2.1.2 Thực phẩm sạch
2.1.2.1 Thực phẩm
Thực phẩm hay còn được gọi là thức ăn là bất kỳ vật phẩm nào, bao gồm
chủ yếu các chất: chất bột (cacbohydrat), chất béo (lipit), chất đạm (protein),
hoặc nước, mà con người hay động vật có thể ăn hay uống được, với mục đích
cơ bản là thu nạp các chất dinh dưỡng nhằm nuôi dưỡng cơ thể hay vì sở thích.
Các thực phẩm có nguồn gốc từ thực vật, động vật, vi sinh vật hay các sản
phẩm chế biến từ phương pháp lên men như rượu, bia (Bách khoa toàn thư,
2013). Thực phẩm là sản phẩm mà con người ăn, uống ở dạng tươi sống hoặc
13
đã qua sơ chế, chế biến, bảo quản. Thực phẩm không bao gồm mỹ phẩm,
thuốc lá và các chất sử dụng như dược phẩm. Gồm các loại thực phẩm như:
- Thực phẩm tươi sống là thực phẩm chưa qua chế biến bao gồm thịt, trứng,
cá, thuỷ hải sản, rau, củ, quả tươi và các thực phẩm khác chưa qua chế biến.
- Thực phẩm tăng cường vi chất dinh dưỡng là thực phẩm được bổ sung
vitamin, chất khoáng, chất vi lượng nhằm phòng ngừa, khắc phục sự thiếu hụt các
chất đó đối với sức khỏe cộng đồng hay nhóm đối tượng cụ thể trong cộng đồng.
- Thực phẩm chức năng là thực phẩm dùng để hỗ trợ chức năng của cơ
thể con người, tạo cho cơ thể tình trạng thoải mái, tăng sức đề kháng, giảm bớt
nguy cơ mắc bệnh, bao gồm thực phẩm bổ sung, thực phẩm bảo vệ sức khoẻ,
thực phẩm dinh dưỡng y học.
trong một khu vực môi trường cụ thể (Báo cáo thống kê thị trường, 2010). Từ
đó cho thấy thực phẩm địa phương cũng là thực phẩm sạch.
Ngày nay, không có định nghĩa chung về "Hữu cơ" do thực tế rằng các
quốc gia khác nhau có tiêu chuẩn khác nhau cho các sản phẩm được chứng
nhận "Hữu cơ". Thực phẩm hữu cơ được chế biến để duy trì tính toàn vẹn của
thực phẩm mà không cần nhân tạo, chất bảo quản hoặc chiếu xạ. Các sản
phẩm hữu cơ thu được bằng các quá trình thân thiện với môi trường áp dụng
kỹ thuật canh tác và các phương pháp sản xuất phù hợp (Chinnici et al. ,
2002). Thịt hữu cơ, gia cầm, trứng, sữa và các sản phẩm đến từ động vật được
sản xuất ra không có thuốc kháng sinh hay hormone tăng trưởng. Thực phẩm
hữu cơ được sản xuất mà không sử dụng thuốc trừ sâu, phân bón hóa học hoặc
bùn nước thải, công nghệ sinh học, hoặc bức xạ ion hóa (United States
Department of Agriculture National Organic Program, 2000). Hơn thế nữa,
"Hữu cơ" không chỉ là một tập hợp kỹ thuật sản xuất nông nghiệp vô hại mà
còn là sự tôn trọng thiên nhiên và cuộc sống, bảo tồn các hệ sinh thái để nâng
cao chất lượng môi trường cho các thế hệ tương lai (Trích từ Lau Kwan yi,
2009). Thực phẩm hữu cơ được sản xuất bởi những người nông dân sử dụng
các nguồn tài nguyên tái tạo, bảo tồn đất và nước để nâng cao chất lượng môi
trường. Thịt hữu cơ, gia cầm, trứng, sữa và các sản phẩm từ động vật được sản
xuất không có thuốc kháng sinh hay hormone tăng trưởng và được tiếp cận với
hoạt động ngoài trời. Thực phẩm hữu cơ được sản xuất mà không sử dụng
thuốc trừ sâu, phân bón làm bằng nguyên liệu tổng hợp, hoặc bùn thải và công
nghệ sinh học hoặc ion hóa, bức xạ (USDA National Organic Program, 2005)
(Trích từ Ming Elisa Liu (2007), trang 9). Qua đó chúng ta có thể kết luận
rằng thực phẩm hữu cơ chính là thực phẩm sạch.
Theo Trần Trọng Vũ - giảng viên Khoa Công nghệ thực phẩm, Đại học
Công nghệ Sài Gòn, cho biết: trong ngành công nghiệp thực phẩm, người ta
không sử dụng khái niệm “thực phẩm sạch” một cách chung chung, mà chỉ
xây dựng các tiêu chuẩn cho “thực phẩm an toàn”. Từ “sạch” trong cách gọi
“thực phẩm sạch” thực tế chỉ là cách gọi mang tính phổ thông do người bán
nông phẩm, thực phẩm không ô nhiễm, tuân thủ các quy định của cơ quan
chuyên môn có thẩm quyền. Nông phẩm, thực phẩm sinh thái đạt yêu cầu về
an toàn và đạt tiêu chí quy định, được chia ra 2 cấp, gồm cấp AA và cấp A.
Nói chung, nông phẩm, thực phẩm đạt tiêu chuẩn cấp A coi như đạt tiêu chuẩn
nông phẩm, thực phẩm không ô nhiễm, tức là đạt yêu cầu “an toàn, vệ sinh”,
nếu đạt cấp AA coi như đạt tiêu chuẩn nông phẩm, thực phẩm hữu cơ theo tiêu
chuẩn quốc tế.
- Nông phẩm, thực phẩm hữu cơ
Nông phẩm, thực phẩm hữu cơ là sản phẩm sản xuất theo nguyên lý
nông nghiệp hữu cơ, được sản xuất và chế biến theo quy trình của sản phẩm
hữu cơ, được cơ quan có thẩm quyền của tổ chức nông nghiệp hữu cơ xác
nhận và cấp chứng chỉ. Tư liệu sản xuất và nguyên liệu sản xuất sản phẩm hữu