đánh giá hiện trạng và đề xuất một số giải pháp bảo vệ môi trường tại nhà máy sản xuất đồ trang sức mỹ ký công ty tnhh shinhan vina khu công nghiệp sài đồng – long biên hà nội - Pdf 30


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM



HOÀNG THỊ THU HẰNG
ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP
BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TẠI NHÀ MÁY SẢN XUẤT ĐỒ TRANG
SỨC MỸ KÝ- CÔNG TY TNHH SHINHAN VINA- KHU CÔNG
NGHIỆP SÀI ĐỒNG – LONG BIÊN - HÀ NỘI LUẬN VĂN THẠC SĨ
CHUYÊN NGÀNH: KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI – 2015


HÀ NỘI – 2015
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page i

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là
hoàn toàn trung thực, chưa hề sử dụng cho bảo vệ một học vị nào. Mọi sự giúp đỡ
cho hoàn thành luận văn đều đã được cảm ơn. Các thông tin, tài liệu trình bày trong
luận văn này đã được ghi rõ nguồn gốc.

Hà Nội, ngày tháng năm 2015
Tác giả luận văn Hoàng Thị Thu Hằng
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page ii

LỜI CẢM ƠN Để hoàn thành luận văn tốt nghiệp, em xin tỏ lòng biết ơn tới cô Nguyễn
Thị Hồng Hạnh đã tận tình hướng dẫn em trong suốt quá trình viết luận văn tốt
nghiệp.
Em xin chân thành cảm ơn quí thầy cô trong khoa Môi trường- Học viện
Nông Nghiệp Việt Nam đã tận tình truyền đạt về mặt kiến thức trong những
năm em học tập.
Em chân thành cảm ơn ban lãnh đạo và cán bộ công nhân viên Công ty
TNHH Shinhan Vina đã cho phép và tạo điều kiện thuận lới để em thực tập tại

1.2.4 Giai đoạn đúc
8
1.2.5 Giai đoạn đánh bóng
10
1.2.6 Giai đoạn xi, mạ
11
1.3 Quy trình mạ điện
12
1.3.1 Gia công bề mặt:
13
1.3.2 Mạ
14
1.3.3 Rửa
15
1.3.4 Sấy khô
15
1.4 Hiện trạng môi trường từ các KCN ở Việt Nam
15
1.4.1 Hiện trạng môi trường các KCN nói chung
15
1.4.2 Hiện trạng môi trường của các khu công nghiệp, cơ sở mạ kim
loại, doanh nghiệp sản xuất đồ trang sức mỹ ký
25
1.5 Ảnh hưởng của nước thải công nghiệp mạ đến môi trường
27
1.5.1 Đặc tính và tác hại của Asen
28
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page iv


36
2.4.1 Phương pháp bản đồ, khảo sát thực địa
36
2.4.2 Phương pháp thu thập tài liệu thứ cấp
38
2.4.3 Phương pháp lấy bụi khí và phân tích mẫu khí
38
2.4.3 Phương pháp lấy mẫu nước thải và phân tích mẫu nước
40
2.4.4 Phương pháp so sánh
42
2.4.5 Phương pháp nhận dạng môi trường
42
2.4.6 Phương pháp xử lý số liệu
42
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 43
3.1 Điều kiện môi trường tự nhiên và kinh tế - xã hội Quận Long Biên
43
3.1.1 Điều kiện môi trường tự nhiên
43
3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
46
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page v

3.2 Đặc điểm của Nhà máy sản xuất đồ mỹ ký- Công ty TNHH Shinhan Vina
48
3.2.1 Vị trí địa lí của nhà máy
48
3.2.2 Quy mô, công nghệ và công suất sản xuất của Nhà máy


Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page vi

DANH MỤC BẢNG

STT Tên bảng Trang

1.1 Nước thải mạ điện tại một số nhà máy ở Hà Nội 27
1.2 Đặc tính nước thải của phân xưởng mạ Công ty Cổ phần Khóa Minh
Khai sau khi phân luồng dòng thải 27
2.1 Các vị trí lấy mẫu 38
2.2 Phương pháp lấy mẫu bụi khí và phân tích mẫu khí 39
2.3 Phương pháp lấy mẫu nước thải và phân tích mẫu nước 41
3.1 Nhiệt độ trung bình háng tháng và năm (
0
C) 44
3.2 Số giờ nắng hàng tháng và năm (giờ) 44
3.3 Lượng mưa hàng tháng và năm (mm) 45
3.4 Độ ẩm trung bình hàng tháng và năm (%) 45
3.5 Công suất sản xuất của nhà máy năm 2012, 2013, 2014 49
3.6 Nguyên liệu đầu vào sản xuất của nhà máy 53
3.7 Danh sách hóa chất sử dụng của nhà máy 54
3.8 Kết quả phân tích mẫu không khí tại các vị trí lấy mẫu năm 2012 62
3.9 Kết quả phân tích mẫu không khí tại các vị trí lấy mẫu năm 2013 63
3.10 Kết quả phân tích mẫu không khí tại các vị trí lấy mẫu năm 2014 65
3.11 So sánh các chỉ tiêu nước thải sản xuất sau hệ thống xử lý qua các năm 79
3.12 So sánh các chỉ tiêu nước thải sinh hoạt qua các năm 80

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

1.15 Ước tính khối lượng chất thải nguy hại phát sinh tại các KCN 24
2.1 Sơ đồ vị trí lấy mẫu 37
3.1 Sơ đồ công nghệ chế tạo đồ trang sức của nhà máy 51
3.2 Sơ đồ công nghệ dây chuyền mạ và nguồn thải của nhà máy 53
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page viii

3.3 Công đoạn tạo khuôn, đúc, đánh bóng sản phẩm đúc 55
3.4 Dây chuyền công nghệ mạ sản phẩm 56
3.5 Một vài sản phẩm của nhà máy 58
3.6 Sơ đồ công nghệ hệ thống xử lý bụi công đoạn gia công thô sản phẩm 60
3.7 Sơ đồ công nghệ hệ thống xử lý hơi khí thải bể mạ 61
3.8 Sơ đồ hệ thống thu gom, xử lý nước thải ngoài nhà 69
3.9 Sơ đồ công nghệ xử lý nước thải sinh hoạt 70
3.10 Sơ đồ công nghệ hệ thống xử lý nước thải sản xuất 71
3.11 Tổng mặt bằng hệ thống xử lý nước thải 72
3.12 Mặt cắt thủy lực hệ thống xử lý nước thải 73
3.13 Hàm lượng chỉ tiêu BOD
5
qua các năm 2012, 2013, 2014 81
3.14 Hàm lượng chỉ tiêu Cr3+, Cr6+ qua các năm 2012, 2013, 2014 76
3.15 Hàm lượng Niken qua các năm 2012, 2013, 2014 82
3.16 Hàm lượng chỉ tiêu BOD
5
, COD qua các năm 2012, 2013, 2014 83
hóa, các khu công nghiệp, các nhà máy đóng vai trò quan trọng trong quá trình
phát triển KT-XH, là nhân tố chủ yếu thúc đẩy tăng trưởng công nghiệp, tăng
khả năng thu hút vốn đầu tư trong và ngoài nước vào phát triển công nghiệp,
đẩy mạnh xuất khẩu, tạo công ăn việc làm và thu nhập cho người lao động. Tuy
nhiên, bên cạnh những đóng góp tích cực, quá trình phát triển các khu công
nghiệp ở Việt Nam đang phải đối mặt với nhiều thách thức lớn về ô nhiễm môi
trường do chất thải, nước thải.
Chính vì thế hiện nay việc phân tích, đánh giá ảnh hưởng đến môi trường
do hoạt động của các xí nghiệp nhà máy, đề xuất các giải pháp thích hợp về
bảo vệ môi trường là hết sức quan trọng, bắt buộc phải thực hiện đối với
những đối tượng được nêu trong văn bản pháp luật về môi trường hiện hành.
Những ảnh hưởng đến môi trường do hoạt động sản xuất của các nhà máy, xí
nghiệp có thể tốt hoặc xấu, có lợi hoặc có hại nhưng việc đánh giá thực trạng
môi trường sẽ giúp những nhà quản lý ra quyết định chủ động lựa chọn
những phương án khả thi, tối ưu về kinh tế và kỹ thuật trong bất cứ một kế
hoạch phát triển kinh tế - xã hội nào.
KT- XH quận Long Biên đã và đang đạt tốc độ tăng trưởng khá và ổn định.
Giá trị sản xuất các ngành đạt tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm: thương mại,
dịch vụ 24,2%, công nghiệp 18,2%; sản xuất nông nghiệp chuyển dịch đúng hướng,
giá trị sản xuất nông nghiệp trên một ha canh tác tăng bình quân hàng năm
5,5%. Năm 2013, Quận Long Biên đã có những bước phát triển kinh tế mới. Tổng
giá trị sản xuất ước 18.483 tỷ đồng, tăng 14,72% so kế hoạch (KH) và đạt 11,9%
cao hơn chỉ tiêu HĐND quận giao là 10,9%; thu ngân sách đạt 7.931 tỷ đồng, đạt
193%, (vượt gần 2 lần) so với dự toán, đây là kết quả ấn tượng trong bối cảnh khó
khăn như năm 2013. Tuy nhiên bên cạnh những phát triển về kinh tế là vấn đề môi
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 2

trường đang hết sức nan giải với các khu CN trên địa bàn, điển hình là KCN Sài
Đồng B, Sài Đồng A, KCN Đài Tư, …

Theo Vụ Quản lý Các Khu kinh tế, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, lũy kế đến hết
2013, trên cả nước có 289 KCN (không bao gồm khu chế xuất, khu kinh tế) với
tổng diện tích đất tự nhiên 81.000 ha, trong đó, 191 KCN (chiếm 66,08%) đã đi vào
hoạt động với tổng diện tích đất tự nhiên 54.060 ha và 98 KCN đang trong giai đoạn
đền bù giải phóng mặt bằng và xây dựng cơ bản với tổng diện tích đất tự nhiên
27.008 ha. Các KCN đã đóng góp hơn 80 tỷ USD kim ngạch xuất - nhập khẩu hàng
năm, chiếm khoảng 35% tổng kim ngạch xuất - nhập khẩu của nền kinh tế. Các
KCN thu hút khoảng 472 dự án, với tổng vốn đăng ký 8,742 tỷ USD vốn FDI,
chiếm 70% vốn FDI của cả nước, tạo việc làm trực tiếp cho trên 2 triệu lao động
(Tạp chí KCN, 2014)
Bên cạnh đó, lũy kế đến cuối quý I/2014, các KCN trong cả nước đã thu
hút được 5.300 dự án FDI, với tổng vốn đầu tư đăng ký hơn 112 tỷ USD (Tạp
chí KCN, 2014)
Năm 2013, các KCN đã thu hút được nhiều dự án quy mô lớn, công nghệ
hiện đại, như: các dự án của Tập đoàn Samsung tại Thái Nguyên (hơn 3,2 tỷ USD);
Dự án Công ty TNHH Lọc hóa dầu Nghi Sơn - Thanh Hóa (điều chỉnh tăng vốn đầu
tư 2,8 tỷ USD); hay Dự án Công ty TNHH LG Electronics Việt Nam - Hải Phòng
(1,5 tỷ USD) (Tạp chí KCN, 2014)
Cũng theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, riêng trong quý I/2014, các KCN đã thu
hút 70 dự án FDI, với tổng số vốn đầu tư lên đến 800 triệu USD. Riêng Tập đoàn
Triple Eye Infrastructure (Canada) đầu tư Dự án bệnh viện quốc tế tại KCN Đại An
(Hải Dương) đã chiếm 225 triệu USD và là nhà đầu tư có dự án quy mô lớn nhất
vào các KCN trong quý I năm nay. (Tạp chí KCN, 2014)
Hệ thống KCN còn góp phần hiện đại hóa hệ thống cơ sở vật chất hạ tầng,
đơn giản hóa thủ tục hành chính, tạo ra một môi trường đầu tư thông thoáng, phù
hợp hơn với thông lệ quốc tế, đồng thời, góp phần củng cố an ninh, quốc phòng.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 4

Các KCN đã trở thành điểm đến của nhiều dự án quan trọng và có quy mô lớn, là

cao su, mô silicon
Công đoạn tạo
mẫu
Giai đoạn bơm
sáp, cắm cây thông
Giai đoạn đúc
Giai đoạn đánh
bóng
Giai đoạn xi, mạ
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 5

ta sẽ có một mẫu trang sức y như thật theo dạng 3D, với đúng tỉ lệ và kích thước mà
nó sẽ hình thành.
Ở đoạn tiếp theo, mẫu trang sức này sẽ được xuất ra cho máy chạy khắc
thành những mô hình bằng sáp cứng. Sáp cứng có màu xanh ngọc hoặc xanh lá
cây sậm. Tính chất của chúng khá đặc biệt: cho phép liên kết các phần sáp với
nhau, có thể gọt tạo hình bằng dao, chạm khắc và đánh bóng. Sau khi một khối
sáp cứng nguyên vẹn (thường là có hình hộp chữ nhật, sẽ được cắt gọt trước khi
đưa vào máy tùy theo hình dáng sản phẩm sắp được chạy ra) được đưa vào
máy, chúng sẽ được máy khắc ra thành những hình dạng đẹp đẽ tùy thuộc vào
bản vẽ 3D mà chúng dựa trên. Đây là mô hình ba chiều thực sự đầu tiên, giúp
người thiết kế được nhìn thấy bản vẽ của họ “hiện thực hóa”. Khi đó, họ sẽ
nghiên cứu một cách thận trọng hơn cách nhận hột, kiểu dáng, chi tiết hoa
văn… của sản phẩm, và sửa nó trực tiếp trên khối sáp.
1.2.2. Công đoạn ép mô cao su, mô silicon
Có những mẫu trang sức thuộc loại “độc bản”, chỉ được thiết kế một lần theo
yêu cầu của khách. Nhưng phần lớn, các trang sức được chế tác số lượng lớn, chế
tác hàng loạt. Khi đó, cái ta cần chính là thật nhiều khuôn để đúc ra nhiều mẫu sáp,
sau đó đem đúc cả cây với số lượng theo yêu cầu của khách hàng. Khuôn trong

tách và cắt khuôn làm đôi, tháo ống rót. Khuôn này có thể dùng được rất nhiều lần
để tạo các mẫu sáp đồng nhất
1.2.3. Giai đoạn bơm sáp, cắm cây thông
Bơm sáp: Thiết bị được sử dụng chính là máy bơm (phun) sáp Vacuum Wac
Injector. Ngoài ra, người ta còn sử dụng bột phấn để đập vào các ổ hột của mô hay
dùng keo xịt silicon để xịt vào cái mô đã sử dụng lâu ngày và bị bịt lại.
Đầu tiên, phấn được đập vào giữa hai lớp của mô. Đóng mô lại cho khớp,
xong đặt mô và hai miếng mica để định vị, sát một mép. (Tùy theo khuôn/ mô dày
hay mỏng mà người ta đặt một hay hai tấm mica). Sau đó, đẩy toàn bộ mô và mica
vào đế định vị của máy bơm sáp. Chú ý đặt sao cho lỗ của ống rót của tấm mô (đã
được vạch thành rãnh bên trong để dẫn sáp lỏng – như đã nói ở trên) khớp với ống
bơm sáp của máy. Điều chỉnh lượng sáp lỏng sẽ bơm vào khuôn, và chạy máy. Sau
khoảng 5 giây là bơm xong, mô được lấy ra và để nguội cho sáp có thời gian đông
khô lại. Theo kinh nghiệm của những người thợ, khoảng thời gian này ước chừng
một tiếng.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 7

Khi bơm sáp, phải đảm bảo cho lượng sáp lỏng được bơm đầy và bơm đủ vào
trong mô, nghĩa là không dư đến trào ra cũng không bị thiếu hụt, đồng thời tất cả
các mẫu cũng đều phải được bơm đều như nhau. Nếu không làm tốt điều này thì sẽ
xuất hiện những mẫu bơm bị lỗi. Sáp sau khi đã khô cứng và được lấy ra khỏi mô (các
thợ thường gọi chúng là những con sáp) phải qua tiếp một giai đoạn nữa là kiểm tra,
chỉnh sửa lại bề mặt và các chi tiết của mẫu bằng phương pháp hàn sáp hay gọt giũa.
Những con sáp này có màu hồng, tuy không dễ tạo hình như sáp cứng kia nhưng cũng
không phải là không chỉnh sửa được. Theo kinh nghiệm của thợ thì, việc có những mẫu
bị bơm hư là không thể tránh được. Thường thì chỉ có những mẫu nào đơn giản mới ít
bị hư, còn hơi phúc tạp và nhiều chi tiết thì sẽ có nguy cơ cao hơn.
Cắm cây thông: là cái tên hình tượng cho công đoạn nối những con sáp ở
trên vào một ống rót trước khi đem đúc. Lí do gọi chúng là “cắm cây thông”, đơn

hưởng đến năng suất làm việc, tức một ngày có thể làm được bao nhiêu láp. Yêu cầu
của khách khác nhau nên số lượng láp của các ngày cũng không thể giống nhau.
* Đối với những mẫu trang sức được thiết kế là có gắn hột lên, thì trước giai
đoạn cắm cây thông này, những con sáp của mẫu trang sức ấy cũng được gắn hột lên
trước – ở vị trí y như khi nó đã trở thành sản phẩm thật. Sau khi gắn lên xong rồi,
chúng sẽ được cắm lên cây thông, quy trình y như những sản phẩm không gắn đá khác.
Như vậy khi đúc ra trang sức bằng kim loại quý (ở công đoạn sau), những hột ấy sẽ
đính sẵn trên sản phẩm luôn. Đây là phương pháp mới. Trước đây, người ta phải làm
kiểu truyền thống là đúc hẳn ra thành kim loại thật rồi mới gắn hột lên sau.
Phương pháp cắm cây thông có thể sử dụng cho nhiều loại trang sức: có thể
cắm cả nhẫn, vòng, bông tai, mặt dây chuyền.
1.2.4. Giai đoạn đúc
Nung chảy sáp và nung khuôn thạch cao
Dựa vào trọng lượng kim loại đã tính ở giai đoạn trước, người thợ ở xưởng
đúc sẽ ước lượng thạch cao cần thiết để đổ khuôn. Thạch cao được pha theo tỉ lệ
1gram thạch cao với 40cc nước, sau đó được khuấy bằng máy khuấy cho thạch cao
tan đều hết. Tiếp theo, thợ sẽ bỏ chậu thạch cao vào máy hút chân không từ 1-2
phút. Phần thạch cao trên, sau khi lấy ra khỏi máy, sẽ được đổ vào các láp – lúc này
cần kiểm tra lại để chắc chắn rằng thân láp đã được bọc kín, nếu không thạch cao sẽ
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 9

chảy tràn ra ngoài. Sau đó, các láp được xếp vào máy hút chân không để hút hết bọt
khí đọng trong láp – nếu còn bọt khí và bọt khí ấy tiếp xúc với bề mặt mẫu sáp, thì
sẽ bị lỗi khi đúc. Một thời gian kế tiếp, khi đã đảm bảo bọt khí được hút hết, ta sẽ
chờ cho thạch cao đông đặc rồi khô hẳn. Thời gian chờ lâu hay mau là tùy theo kích
thước láp, có thể từ 1 – 2 tiếng.
Khi thạch cao trong láp đã khô hẳn, nghĩa là chúng đã bọc cả cây thông thành
một khối, lúc này, người thợ mới dần dần gỡ lớp băng keo bọc bên ngoài cây thông
ra, cho vào lò nung tự động để sáp trong khuôn chảy ra hết. Nhiệt độ nung ở giai

khi chuẩn bị hợp kim hóa. Thợ kim hoàn thường gọi nôm na việc hợp kim là chế
“hội” vàng tây (hợp kim – alloy).
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 10

Sau khi đã chuẩn bị và tính toán xong thành phần để hợp kim hóa, người thợ
cho kim loại vào chén nấu, thêm một chút hàn the vào rồi dùng mỏ đốt khè lửa vào
chén để nấu chảy kim loại. Những chén này có rất nhiều trong xưởng đúc. Được
biết, loại chén tốt thường làm bằng thạch cao, còn nếu không thì làm bằng đất nung
cũng được. Cả hai loại đều có thể chịu được nhiệt độ rất cao, và trở nên đỏ sẫm khi
dùng để nấu chảy kim loại. Bước tiếp theo, hợp kim nóng chảy được rót vào khuôn.
Để khuôn ổn định trong vài phút rồi đem nhúng láp vào trong nước lạnh đột ngột,
nó sẽ khiến khuôn thạch cao bị nứt, vỡ ra. Khi đó, ta sẽ thu được thành phẩm của
quá trình đúc là một hay nhiều mẫu trang sức thô (bằng chính kim loại dùng để đúc)
chưa được gọt giũa còn dính trên cây thông. Người ta phải tiếp tục một bước nữa là
khử lớp oxy hóa và các tạp chất bằng cách rửa trong dung dịch axit. Các tạp chất
cũng như lớp oxy hóa này làm giảm độ bóng bề mặt và gây khó khăn trong các
công đoạn sau. Dung dịch 20% acid sulfuric thường dùng để rửa vàng bạc. Để tăng
tốc độ rửa, nó có thể được nung nóng đến một nhiệt độ thích hợp.
1.2.5. Giai đoạn đánh bóng
Đây là giai đoạn cũng khá quan trọng, vì nó là một khâu góp phần vào tổng
thể cuối cùng cho bộ mặt của trang sức.
Các dụng cụ thiết bị cần thiết gồm có:
- Máy đánh bóng với động cơ quay 2800 – 3000 vòng/ phút và các công cụ
đánh bóng bằng tay cần thiết
- Các loại đồ gá đặc biệt dùng cho vị trí góc, các mặt trong hoặc các đế để
cẩn hột đá
- Bàn chải, đá và bột đánh bóng. Thông thường, để giúp cho bề mặt món
trang sức bóng đẹp hoàn hảo, người thợ dùng hai bộ dụng cụ riêng, một cho đánh
bóng, một cho mài bóng.

không xi mạ thì số thời gian đó ngắn hơn. Dĩ nhiên, không có món trang sức nào là
sáng đẹp vĩnh cửu. Sau khoảng thời gian nhất định đó, các trang sức cần được đem đến
các thợ để “bảo hành”, tức đánh bóng, xi mạ lại, chưa kể là phải làm mờ đi những vết
trầy xước gây ra rất nhiều trong hoạt động thường ngày người sử dụng.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 12

Thời gian mạ lâu hay mau là tùy kích thước món đồ, và cũng tùy theo ý
khách hàng muốn lớp mạ của trang sức mình dày hay mỏng. Nếu muốn dày thì để
càng lâu nó sẽ dày, có khi đến vài phút. Ngược lại, lớp xi mạ càng mỏng thì càng
tốn ít thời gian, có khi chỉ 30s, đặt vào một chút rồi lấy trang sức ra.
Nguyên lí mạ chia làm hai loại lớn, là mạ điện và mạ trao đổi ion. Hiện nay
chủ yếu sử dụng phương pháp mạ điện. Phương pháp mạ điện được phát hiện lần
đầu tiên vào năm 1805 bởi nhà hóa học Luigi V. Brugnatelli để tạo một lớp phủ bên
ngoài kim loại khác. Trong các công đoạn sản xuất đồ trang sức mỹ ký thì công
đoạn mạ điện là một trong các công đoạn quan trọng nhất, đây là công đoạn sử dụng
nhiều hóa chất nhất để tạo ra màu sản phẩm nên có nhiều phát thải về nước thải
chứa thành phần kim loại nặng, hóa chất khó xử lý nhất. Có thể nói nước thải phát
sinh do quá trình sản xuất đồ trang sức mỹ ký kể cả số lượng và hàm lượng chất ô
nhiễm trong nước thải phần lớn là nước thải công đoạn mạ. Chính vì thế công đoạn
mạ điện cần được quan tâm và tìm hiểu để trên cơ sở đó có biện pháp khắc phục đối
với những chất thải phát sinh do công đoạn này phát thải ra môi trường.
1.3 Quy trình mạ điện
Mạ điện là dùng phương pháp điện phân để kết tủa trên lớp kim loại hoặc
hợp kim một lớp kim loại mỏng với mục đích chống ăn mòn, trang sức bề mặt,
tăng tính dẫn điện, tăng độ cứng.
Quy trình mạ điện có thể tóm tắc như sau:

mặt vật liệu cần mạ, tạo điều kiện thuận lợi cho lớp mạ gắn chắc với kim loại nền.
Các phương pháp gia công bề mặt:
• Phương pháp cơ khí: mài thô, mài tinh, đánh bóng, quay bóng
• Phương pháp hóa học: Tẩy dầu mỡ, tẩy gỉ
Phương pháp mài: sử dụng các loại bột mài như nhôm oxit, các loại lơ đánh
bóng. Chất thải trong quá trình này là các loại bụi do sử dụng các loại bột mài, các
vật liệu bị mài mòn
Phương pháp quay bóng: Các vật thể nhỏ không thể mài bống được thì sử dụng
phương pháp quay bóng. Có hai cách quay bóng: quay bóng khô và quay bóng ướt
Tẩy dầu mỡ:Trên bề mặt chi tiết cần mạ thường có các loại dầu mỡ hay
thuốc đánh bóng dính vào. Màng dầu mỡ gây hiện tượng bong lớp kim loại mạ
đồng thời làm bẩn dung dịch mạ
Các phương pháp tẩy dầu mỡ:
 Tẩy dầu mỡ trong dung môi hữu cơ
 Tẩy dầu mỡ trong dung dịch kiềm và nhũ tương
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 14

 Tẩy dầu mỡ bằng phương pháp điện hóa
1.3.2 .Mạ
Để bảo vệ kim loại người ta dùng các lớp mạ như kẽm, đồng, niken,
crôm, thiếc,… để mạ lên kim loai cần bảo vệ.
Mạ điện tiến hành trong các bể mạ với dòng điện một chiều
Vật cần mạ là catot được nối với cực âm của nguồn điện một chiều
Kim loại dùng để mạ là anot và được nối với cực dương
Quá trình điện cực xảy ra như sau:
Ở catot xảy ra quá trình khử của kim loại cần mạ
[Me(H
2
O)


Hình 1.2 Sơ đồ bể mạ
Vật cần
mạ
Anot bằng kim
loại mạ
Dung dịch
mạ

Trích đoạn Đặc tính và tác hại của Asen Đặc tính và tác hại của Cadmium (Cd) Đặc tính và tác hại của Chì (Pb) Đặc tính và tác hại của Kẽm (Zn) và Niken (Ni) Phương pháp lấy mẫu nước thải và phân tích mẫu nước
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status