Xemtailieu danh gia hien trang va de xuat mot so giai phap bao ve moi truong tai nha may san xuat do trang suc my ky cong ty tnhh shinhan vina kcn s - Pdf 42

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
-------------

HOÀNG THỊ THU HẰNG

ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI
PHÁP
BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TẠI NHÀ MÁY SẢN XUẤT ĐỒ
TRANG

SỨC MỸ KÝ- CÔNG TY TNHH SHINHAN VINA-

KHU CÔNG
NGHIỆP SÀI ĐỒNG – LONG BIÊN - HÀ N ỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ
CHUYÊN NGÀNH: KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG


HÀ NỘI – 2015


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

hoàn toàn trung thực, chưa hề sử dụng cho bảo vệ một học vị nào. Mọi sự giúp đỡ
cho hoàn thành luận văn đều đã được cảm ơn. Các thông tin, tài liệu trình bày trong
luận văn này đã được ghi rõ nguồn gốc.

Hà Nội, ngày..... tháng ..... năm 2015
Tác giả luận văn

Hoàng Thị Thu Hằng

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page i


LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn tốt nghiệp, em xin tỏ lòng biết ơn tới cô Nguyễn Thị
Hồng Hạnh đã tận tình hướng dẫn em trong suốt quá trình viết luận văn tốt nghiệp.
Em xin chân thành cảm ơn quí thầy cô trong khoa Môi trường- Học viện Nông
Nghiệp Việt Nam đã tận tình truyền đạt về mặt kiến thức trong những năm em học
tập.
Em chân thành cảm ơn ban lãnh đạo và cán bộ công nhân viên Công ty TNHH
Shinhan Vina đã cho phép và tạo điều kiện thuận lới để em thực tập tại công ty.
Cuối cùng em kính chúc quý thầy cô sức khỏe dồi dào và thành công trong
công việc.
Tác giả luận văn

Hoàng Thị Thu Hằng

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp


1

Chương 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

3

1.1

Tình hình phát triển KCN Việt Nam

3

1.2

Giới thiệu về ngành công nghiệp sản xuất đồ trang sức mỹ ký

4

1.2.1 Công đoạn tạo mẫu

4

1.2.2 Công đoạn ép mô cao su, mô silicon

5

1.2.3 Giai đoạn bơm sáp, cắm cây thông

6

1.3.3

Rửa

15

1.3.4

Sấy khô

15

1.3

1.4

Hiện trạng môi trường từ các KCN ở Việt Nam

1.4.1 Hiện trạng môi trường các KCN nói chung
1.4.2

15

Hiện trạng môi trường của các khu công nghiệp, cơ sở mạ kim
loại, doanh nghiệp sản xuất đồ trang sức mỹ ký

1.5

15



Đặc tính và tác hại của Đồng (Cu) và Crom (Cr)

32

Công tác quản lý môi trường tại các KCN, nhà máy

33

1.6

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU

36

2.1

Đối tượng nghiên cứu

36

2.2

Phạm vi nghiên cứu

36

2.3



36

2.4.2 Phương pháp thu thập tài liệu thứ cấp

38

2.4.3 Phương pháp lấy bụi khí và phân tích mẫu khí

38

2.4.3 Phương pháp lấy mẫu nước thải và phân tích mẫu nước

40

2.4.4 Phương pháp so sánh

42

2.4.5 Phương pháp nhận dạng môi trường

42

2.4.6 Phương pháp xử lý số liệu

42

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1


49

3.3

Đánh giá hiện trạng môi trường do hoạt động của nhà máy

59

3.3.1 Môi trường không khí

59

3.3.2

Môi trường nước

67

3.3.3

Chất thải rắn

84

3.4

Đề xuất một số biện pháp bảo vệ môi trường

86



91

PHỤ LỤC

93

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page v


DANH MỤC BẢNG

STT

Tên bảng

1.1

Nước thải mạ điện tại một số nhà máy ở Hà Nội

1.2

Trang
27

Đặc tính nước thải của phân xưởng mạ Công ty Cổ phần Khóa Minh
Khai sau khi phân luồng dòng thải



Lượng mưa hàng tháng và năm (mm)

45

3.4

Độ ẩm trung bình hàng tháng và năm (%)

45

3.5

Công suất sản xuất của nhà máy năm 2012, 2013, 2014

49

3.6

Nguyên liệu đầu vào sản xuất của nhà máy

53

3.7

Danh sách hóa chất sử dụng của nhà máy

54

3.8


Page vi


DANH MỤC HÌNH
STT

Tên hình

Trang

1.1

Quy trình mạ điện

13

1.2

Sơ đồ bể mạ

14

1.3

Tỷ lệ gia tăng lượng nước thải từ các KCN và tỷ lệ gia tăng tổng
lượng nước thải từ các lĩnh vực trong toàn quốc

1.4


2008

19

Diễn biến ô nhiễm nước sông Nhuệ đoạn qua Hà Đông

20

Nồng độ khí SO2 trong khí thải một số nhà máy tại KCN Bắc Thăng
Long (Hà Nội), KCN Tiên Sơn (Bắc Ninh) năm 2006 - 2008

1.11

22

Nồng độ CO trong không khí xung quanh các KCN tỉnh Đồng Nai
năm 2008

1.13

21

Hàm lượng bụi lơ lửng trong không khí xung quanh một số KCN miền
Bắc và miền Trung từ năm 2006 - 2008

1.12

19

22

3.2

Sơ đồ công nghệ dây chuyền mạ và nguồn thải của nhà máy

53

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page vii


3.3

Công đoạn tạo khuôn, đúc, đánh bóng sản phẩm đúc

55

3.4

Dây chuyền công nghệ mạ sản phẩm

56

3.5

Một vài sản phẩm của nhà máy

58

3.6


Tổng mặt bằng hệ thống xử lý nước thải

72

3.12

Mặt cắt thủy lực hệ thống xử lý nước thải

73

3.13

Hàm lượng chỉ tiêu BOD5 qua các năm 2012, 2013, 2014

81

3.14

Hàm lượng chỉ tiêu Cr3+, Cr6+ qua các năm 2012, 2013, 2014

76

3.15

Hàm lượng Niken qua các năm 2012, 2013, 2014

82

3.16


DN

Doanh nghiệp

HĐND

Hội đồng nhân dân

KCN

Khu công nghiệp

KT – XH

Kinh tế - xã hội

KH

Kế hoạch

TCMT

Tổng cục Môi trường

TC

Tiêu chuẩn

TCVN

quyết định chủ động lựa chọn những phương án khả thi, tối ưu về kinh tế và kỹ thuật
trong bất cứ một kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội nào.
KT- XH quận Long Biên đã và đang đạt tốc độ tăng trưởng khá và ổn định.
Giá trị sản xuất các ngành đạt tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm: thương mại,
dịch vụ 24,2%, công nghiệp 18,2%; sản xuất nông nghiệp chuyển dịch đúng hướng,
giá trị sản xuất nông nghiệp trên một ha canh tác tăng bình quân hàng năm 5,5%.
Năm 2013, Quận Long Biên đã có những bước phát triển kinh tế mới. Tổng giá trị
sản xuất ước 18.483 tỷ đồng, tăng 14,72% so kế hoạch (KH) và đạt 11,9% cao hơn
chỉ tiêu HĐND quận giao là 10,9%; thu ngân sách đạt 7.931 tỷ đồng, đạt 193%, (vượt
gần 2 lần) so với dự toán, đây là kết quả ấn tượng trong bối cảnh khó khăn như năm
2013. Tuy nhiên bên cạnh những phát triển về kinh tế là vấn đề môi
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page 1


trường đang hết sức nan giải với các khu CN trên địa bàn, điển hình là KCN Sài
Đồng B, Sài Đồng A, KCN Đài Tư, …
Nhà Máy sản xuất đồ mỹ ký thuộc Công ty TNHH Shinhan Vina nằm trên địa
bàn Phường Sài Đồng- KCN Sài Đồng A được thành lập từ năm 2008 đến nay đã và
đang đóng góp cho sự phát triển kinh tế Quận, bên cạnh đó do hoạt động sản xuất mà
phần nào có sự ảnh hưởng tới môi trường khu vực nhà máy.
Vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Đánh giá hiện trạng và đề
xuất một số giải pháp bảo v ệ môi trường tại nhà máy sản xuất đồ trang
sức mỹ k ý
- Công t y TNHH Shinhan V ina- K CN Sài Đồng- Long Biên- Hà Nội” để
đánh giá
hiện trạng môi trường và đề ra các giải pháp phòng ngừa, giảm thiểu tác động xấu
của nhà máy tới môi trường.
2 Mục tiêu của đề tài

khoảng 472 dự án, với tổng vốn đăng ký 8,742 tỷ USD vốn FDI, chiếm 70% vốn FDI
của cả nước, tạo việc làm trực tiếp cho trên 2 triệu lao động (Tạp chí KCN, 2014)
Bên cạnh đó, lũy kế đến cuối quý I/2014, các KCN trong cả nước đã thu hút
được 5.300 dự án FDI, với tổng vốn đầu tư đăng ký hơn 112 tỷ USD (Tạp chí KCN,
2014)
Năm 2013, các KCN đã thu hút được nhiều dự án quy mô lớn, công nghệ hiện
đại, như: các dự án của Tập đoàn Samsung tại Thái Nguyên (hơn 3,2 tỷ USD); Dự án
Công ty TNHH Lọc hóa dầu Nghi Sơn - Thanh Hóa (điều chỉnh tăng vốn đầu tư 2,8
tỷ USD); hay Dự án Công ty TNHH LG Electronics Việt Nam - Hải Phòng (1,5 tỷ
USD)... (Tạp chí KCN, 2014)
Cũng theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, riêng trong quý I/2014, các KCN đã thu
hút 70 dự án FDI, với tổng số vốn đầu tư lên đến 800 triệu USD. Riêng Tập đoàn
Triple Eye Infrastructure (Canada) đầu tư Dự án bệnh viện quốc tế tại KCN Đại An
(Hải Dương) đã chiếm 225 triệu USD và là nhà đầu tư có dự án quy mô lớn nhất vào
các KCN trong quý I năm nay. (Tạp chí KCN, 2014)
Hệ thống KCN còn góp phần hiện đại hóa hệ thống cơ sở vật chất hạ tầng, đơn
giản hóa thủ tục hành chính, tạo ra một môi trường đầu tư thông thoáng, phù hợp hơn
với thông lệ quốc tế, đồng thời, góp phần củng cố an ninh, quốc phòng.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page 3


Các KCN đã trở thành điểm đến của nhiều dự án quan trọng và có quy mô lớn, là lựa
chọn hàng đầu của các nhà đầu tư nước ngoài, đặc biệt là các nhà đầu tư trong lĩnh
vực chế biến, chế tạo.
1.2. Giới thiệu về ngành công nghiệp sản xuất đồ trang sức mỹ ký
Hiện nay nhu cầu làm đẹp của con người ngày càng cao, đặc biệt là các chị em
phụ nữ. Để đáp ứng nhu cầu đó hàng loạt các mặt hàng: mỹ phẩm, quần áo, giày dép,
đồ trang sức... ngày càng phát triển để theo kịp thị trường. Trên cơ sở đó ngành sản

vào những chương trình render như Vray, Hypershot … và thực hiện các thao tác cẩn
hột, gắn hột ngay trên mô Hình 2D ấy. Khi kết thúc quá trình thiết kế,
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page 4


ta sẽ có một mẫu trang sức y như thật theo dạng 3D, với đúng tỉ lệ và kích thước mà
nó sẽ hình thành.
Ở đoạn tiếp theo, mẫu trang sức này sẽ được xuất ra cho máy chạy khắc thành
những mô hình bằng sáp cứng. Sáp cứng có màu xanh ngọc hoặc xanh lá cây sậm.
Tính chất của chúng khá đặc biệt: cho phép liên kết các phần sáp với nhau, có thể gọt
tạo hình bằng dao, chạm khắc và đánh bóng. Sau khi một khối sáp cứng nguyên vẹn
(thường là có hình hộp chữ nhật, sẽ được cắt gọt trước khi đưa vào máy tùy theo hình
dáng sản phẩm sắp được chạy ra) được đưa vào máy, chúng sẽ được máy khắc ra
thành những hình dạng đẹp đẽ tùy thuộc vào bản vẽ 3D mà chúng dựa trên. Đây là
mô hình ba chiều thực sự đầu tiên, giúp người thiết kế được nhìn thấy bản vẽ của họ
“hiện thực hóa”. Khi đó, họ sẽ nghiên cứu một cách thận trọng hơn cách nhận hột,
kiểu dáng, chi tiết hoa văn… của sản phẩm, và sửa nó trực tiếp trên khối sáp.
1.2.2. Công đoạn ép mô cao su, mô silicon
Có những mẫu trang sức thuộc loại “độc bản”, chỉ được thiết kế một lần theo
yêu cầu của khách. Nhưng phần lớn, các trang sức được chế tác số lượng lớn, chế tác
hàng loạt. Khi đó, cái ta cần chính là thật nhiều khuôn để đúc ra nhiều mẫu sáp, sau
đó đem đúc cả cây với số lượng theo yêu cầu của khách hàng. Khuôn trong trường
hợp này thường được gọi là mô. Việc ép khuôn được gọi là ép mô.
Có hai loại mô, thực ra là mô làm từ hai chất liệu khác nhau: mô cao su và mô
silicon. Hai mô này nhìn vào là phân biệt được ngay, do có màu sắc khác nhau. Mô
silicon có màu trắng trong và cứng hơn, trong khi đó mô cao su có màu vàng nhạt đặc
trưng và mềm hơn khá nhiều. Chúng còn khác nhau ở chỗ khả năng: mô cao su có thể
ép được cả mẫu sáp lẫn các mẫu bằng kim loại (vàng, bạc …) trong khi mô cao su

đặt mô và hai miếng mica để định vị, sát một mép. (Tùy theo khuôn/ mô dày hay
mỏng mà người ta đặt một hay hai tấm mica). Sau đó, đẩy toàn bộ mô và mica vào đế
định vị của máy bơm sáp. Chú ý đặt sao cho lỗ của ống rót của tấm mô (đã được vạch
thành rãnh bên trong để dẫn sáp lỏng – như đã nói ở trên) khớp với ống bơm sáp của
máy. Điều chỉnh lượng sáp lỏng sẽ bơm vào khuôn, và chạy máy. Sau khoảng 5 giây
là bơm xong, mô được lấy ra và để nguội cho sáp có thời gian đông khô lại. Theo
kinh nghiệm của những người thợ, khoảng thời gian này ước chừng một tiếng.

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page 6


Khi bơm sáp, phải đảm bảo cho lượng sáp lỏng được bơm đầy và bơm đủ vào
trong mô, nghĩa là không dư đến trào ra cũng không bị thiếu hụt, đồng thời tất cả các
mẫu cũng đều phải được bơm đều như nhau. Nếu không làm tốt điều này thì sẽ xuất
hiện những mẫu bơm bị lỗi. Sáp sau khi đã khô cứng và được lấy ra khỏi mô (các thợ
thường gọi chúng là những con sáp) phải qua tiếp một giai đoạn nữa là kiểm tra,
chỉnh sửa lại bề mặt và các chi tiết của mẫu bằng phương pháp hàn sáp hay gọt giũa.
Những con sáp này có màu hồng, tuy không dễ tạo hình như sáp cứng kia nhưng
cũng không phải là không chỉnh sửa được. Theo kinh nghiệm của thợ thì, việc có
những mẫu bị bơm hư là không thể tránh được. Thường thì chỉ có những mẫu nào
đơn giản mới ít bị hư, còn hơi phúc tạp và nhiều chi tiết thì sẽ có nguy cơ cao hơn.
Cắm cây thông: là cái tên hình tượng cho công đoạn nối những con sáp ở
trên vào một ống rót trước khi đem đúc. Lí do gọi chúng là “cắm cây thông”, đơn
giản vì khi hoàn thành công đoạn này, những con sáp được cắm đều nhau trên ống rót
và chĩa ra ngoài, nhìn tổng thể trông rất giống cây thông.
Láp: Thực chất láp là những ống hình trụ có đục lỗ tròn đều đặn, làm bằng
kim loại có thể chịu được nhiệt độ rất cao của lò nung, lò đúc, thường là bằng sắt.
Bên dưới láp vành tròn xòe ra thành đế, đế lớn và dày hơn phần trên. Láp được công

đoạn cắm cây thông này, những con sáp của mẫu trang sức ấy cũng được gắn hột lên
trước – ở vị trí y như khi nó đã trở thành sản phẩm thật. Sau khi gắn lên xong rồi,
chúng sẽ được cắm lên cây thông, quy trình y như những sản phẩm không gắn đá
khác. Như vậy khi đúc ra trang sức bằng kim loại quý (ở công đoạn sau), những hột
ấy sẽ đính sẵn trên sản phẩm luôn. Đây là phương pháp mới. Trước đây, người ta phải
làm kiểu truyền thống là đúc hẳn ra thành kim loại thật rồi mới gắn hột lên sau.
Phương pháp cắm cây thông có thể sử dụng cho nhiều loại trang sức: có thể
cắm cả nhẫn, vòng, bông tai, mặt dây chuyền.
1.2.4. Giai đoạn đúc
Nung chảy sáp và nung khuôn thạch cao
Dựa vào trọng lượng kim loại đã tính ở giai đoạn trước, người thợ ở xưởng đúc
sẽ ước lượng thạch cao cần thiết để đổ khuôn. Thạch cao được pha theo tỉ lệ 1gram
thạch cao với 40cc nước, sau đó được khuấy bằng máy khuấy cho thạch cao tan đều
hết. Tiếp theo, thợ sẽ bỏ chậu thạch cao vào máy hút chân không từ 1-2 phút. Phần
thạch cao trên, sau khi lấy ra khỏi máy, sẽ được đổ vào các láp – lúc này cần kiểm tra
lại để chắc chắn rằng thân láp đã được bọc kín, nếu không thạch cao sẽ


Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page 8


chảy tràn ra ngoài. Sau đó, các láp được xếp vào máy hút chân không để hút hết bọt
khí đọng trong láp – nếu còn bọt khí và bọt khí ấy tiếp xúc với bề mặt mẫu sáp, thì sẽ
bị lỗi khi đúc. Một thời gian kế tiếp, khi đã đảm bảo bọt khí được hút hết, ta sẽ chờ
cho thạch cao đông đặc rồi khô hẳn. Thời gian chờ lâu hay mau là tùy theo kích
thước láp, có thể từ 1 – 2 tiếng.
Khi thạch cao trong láp đã khô hẳn, nghĩa là chúng đã bọc cả cây thông thành
một khối, lúc này, người thợ mới dần dần gỡ lớp băng keo bọc bên ngoài cây thông

loại chén tốt thường làm bằng thạch cao, còn nếu không thì làm bằng đất nung cũng
được. Cả hai loại đều có thể chịu được nhiệt độ rất cao, và trở nên đỏ sẫm khi dùng
để nấu chảy kim loại. Bước tiếp theo, hợp kim nóng chảy được rót vào khuôn. Để
khuôn ổn định trong vài phút rồi đem nhúng láp vào trong nước lạnh đột ngột, nó sẽ
khiến khuôn thạch cao bị nứt, vỡ ra. Khi đó, ta sẽ thu được thành phẩm của quá trình
đúc là một hay nhiều mẫu trang sức thô (bằng chính kim loại dùng để đúc) chưa được
gọt giũa còn dính trên cây thông. Người ta phải tiếp tục một bước nữa là khử lớp oxy
hóa và các tạp chất bằng cách rửa trong dung dịch axit. Các tạp chất cũng như lớp
oxy hóa này làm giảm độ bóng bề mặt và gây khó khăn trong các công đoạn sau.
Dung dịch 20% acid sulfuric thường dùng để rửa vàng bạc. Để tăng tốc độ rửa, nó có
thể được nung nóng đến một nhiệt độ thích hợp.
1.2.5. Giai đoạn đánh bóng
Đây là giai đoạn cũng khá quan trọng, vì nó là một khâu góp phần vào tổng thể
cuối cùng cho bộ mặt của trang sức.
Các dụng cụ thiết bị cần thiết gồm có:
Máy đánh bóng với động cơ quay 2800 – 3000 vòng/ phút và các công cụ

-

đánh bóng bằng tay cần thiết
Các loại đồ gá đặc biệt dùng cho vị trí góc, các mặt trong hoặc các đế để cẩn

-

hột đá
-

Bàn chải, đá và bột đánh bóng. Thông thường, để giúp cho bề mặt món trang
sức bóng đẹp hoàn hảo, người thợ dùng hai bộ dụng cụ riêng, một cho đánh bóng,
một cho mài bóng.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status