BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NỘI VỤ
…………/………… …………/…………
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
LÀNH HỒNG MẠNH
BỒI THƯỜNG GIẢI PHÓNG MẶT BẰNG
Ở HUYỆN SƠN DƯƠNG, TỈNH TUYÊN QUANG
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG
Chuyên ngành: Quản lý công
Mã số: 60 34 04 03
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. NGUYỄN THỊ PHƯỢNG
HÀ NỘI, 2014
1
LỜI CẢM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận vă này là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Mọi
kết quả nghiên cứu và số liệu nghiên cứu trong luận văn này là chính xác thực.
Tác giả
Lành Hồng Mạnh
2
LỜI CẢM ƠN
Tác giả xin chân thành cảm ơn Ban Giám đốc, cô giáo chủ nhiệm cùng
toàn thể các thầy, cô giáo đã giảng dạy tại lớp Cao học CH17I, Học viện
Hành chính quốc gia.
Tác giả xin chân thành cám ơn TS. Nguyễn Thị Phượng, giảng viên tại
Học viện Hành chính quốc gia đã hướng dẫn học viên hoàn thành luận văn này.
Tác giả xin chân thành càm ơn Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện
Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang, Ban Đền bù giải phóng mặt bằng huyện Sơn
Dương, tỉnh Tuyên Quang cùng các cán bộ công chức đang công tác tại
phòng, ban đã tạo điều kiện và giúp đỡ tác giả có được những tài liệu cần thiết
phục vụ cho việc nghiên cứu và hoàn thành luận văn này. Tác giả cũng cám
vấn đề phức tạp, làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự, gây mất ổn định
xã hội.
Sơn Dương là huyện nằm ở phía Nam của tỉnh Tuyên Quang, nơi có vị
trí quan trọng, tiếp giáp với các tỉnh bạn, đồng thời là của ngõ phía Nam của
tỉnh Tuyên Quang với các tỉnh trung du và đồng bằng Bắc Bộ. Trong những
năm gần đây, với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa diễn ra mạnh mẽ, có
nhiều dự án mà diện tích đất thu hồi, giải phóng mặt bằng lớn, tác động đến
6
đời sống của hàng trăm hộ dân như dự án xây dựng hạ tầng kỹ thuật khu công
nghiệp An Hòa, dự án trường Phổ thông dân tộc nội trú ATK Sơn Dương, dự
án cải tạo và nâng cấp quốc lộ 2C, dự án kè hai bờ sông Phó đáy…Để phát
triển cở sở hạ tầng xã hội, thúc đẩy phát triển kinh tế, Ủy ban nhân dân tỉnh
Tuyên Quang rất quan tâm, chú trọng đến công tác bồi thường giải phóng mặt
bằng. Thực hiện chủ trương của tỉnh, những năm gần đây công tác bồi thường
giải phóng mặt bằng của huyện Sơn Dương ngày càng được củng cố, hoan
thiện, về cơ bản đã đáp ứng được mục tiêu, nhiệm vụ đề ra.Tuy nhiên, qua
thực tế triển khai ở địa phương cho thấy, khó khăn nhất trong công tác bồi
thường giải phóng mặt bằng hiện nay là: Đơn giá bồi thường giải phóng mặt
bằng chưa hợp lý, chưa sát với giá thị trường, dẫn đến tình trạng khiếu kiện
của người dân bị thu hồi đất. Cơ chế chính sách về đất đai và bồi thường, tái
định cư của Nhà nước thường xuyên bổ sung, sửa đổi. Công tác chuẩn bị các
điều kiện giải phóng mặt bằng còn chậm và chưa đồng bộ, nhất là quỹ nhà,
đất tái định cư, kinh phí giải phóng mặt bằng. Công tác cải cách thủ tục hành
chính chưa chuyển biến mạnh, việc giải quyết đơn thư khiếu nại tố cáo của
công còn chậm, chưa dứt điểm. Việc thực hiện quy trình, thủ tục trong công
tác bồi thường, hỗ trợ tái định cư như công khai tuyên truyền, đối thoại ở một
số dự án còn thực hiện chưa đầy đủ, kịp thời. Mặt khác, do thiếu hiểu biết
kiến thức pháp luật và do tính toán lợi ích cá nhân dẫn đến một bộ phận người
dân không chấp hành các quy định của Nhà nước. Công tác quản lý đất đai,
xác nhận nguồn gốc sử dụng đất tại địa phương còn yếu và nhiều bất cập. Một
trễ trong công tác bồi thường giải phóng mặt bằng, tái định cư là do: Người
dân chưa đồng tình với đơn giá đất được bồi thường, chính sách tuyên truyền
của chính quyền địa phương đến người dân chưa tốt; một số hộ dân trong diện
bị thu hồi giải phóng còn cố tình trây ỳ bàn giao mặt bằng để xây dựng các dự
án. Quá đó bài viết cũng đã đề cập đến những giải pháp tháo gỡ khó khăn
như: tính toán đơn giá bồi thường hợp lý để tránh thiệt hại cho các bên liên
quan, gặp gỡ, tuyên truyền cho các hộ dân bị thu hồi đất về chính sách, pháp
8
luật của nhà nước…Trong những yếu tố trên thì việc phát huy sự nỗ lực từ hai
phía là chính quyền và người dân cũng được bài viết đề cập đến.
Báo Điện tử Đảng cộng sản Việt Nam, số ra ngày 11-10- 2013 có
bài:“Kiên cố hóa trường học ở Tuyên Quang”. Nội dung bài viết đềcập tới
việc tỉnh Tuyên Quang thực hiện xây dựng 99 trường học trong giai đoạn từ
năm 2010 đến năm 2020. Với việc các dự án xây dựng mới các trường học
trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang thì riêng huyện Sơn Dương có tới 4 trường
được xây dựng mới hoàn toàn. Bài viết cũng đi sâu phân tích những thuận lợi
trong việc thực hiện các dự án xây dựng trên địa bàn được tiến hành khẩn
trương, đúng tiến độ là do địa phương đã thực hiện tốt công tác bồi thường
giải phóng mặt bằng, nhận được sự ủng hộ của nhân dân, đặc biệt những hộ
trong diện bị thu hồi đất phục vụ dự án. Bài viết cũng đánh giá rất cao sự
đồng thuận của các hộ dân bị thu hồi đất đai với chính quyền địa phương, coi
đó là bài học về sự đồng thuận về lợi ích, hài hài hòa về trách nhiệm giữa
người dân và chính quyền địa phương. Đây là bài học cho chính quyền khi
thực hiện công tác bồi thường giải phóng mặt bằng, hỗ trợ, tái định cư các dự
án khác khi thực hiện tại Tuyên Quang nói chung và trên địa bàn huyện Sơn
Dương nói riêng.
Những công trình nghiên cứu, những bài viết trên các báo và tạp trí
nêu trên, ở chừng mực nhất định có thể là những tài liệu tham khảo hữu ích
đối với đề tài luận văn của tác giả. Tuy nhiên những công trình khoa học nêu
trên vẫn chưa giải quyết hết mọi vấn đề về giải phòng mặt bằng, nhất là đối
duy vật lịch sử và Chủ nghĩa duy vật biện chứng; hệ thống các quan điểm,
đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam về công tác bồi
thường giải phóng mặt bằng.
- Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể sau: Phương
pháp thống kê, điều tra nghiên cứu, phương pháp so sánh đối chiếu số liệu;
phương pháp phân tính, tổng hợp, chứng minh để đánh giá tình hình bồi
thường, giải phóng mặt bằng tại huyện Sơn Dương.
10
6. Những đóng góp về lý luận và thực tiễn của luận văn
Luận văn là công trình khoa học nghiên cứu về quản lý nhà nước trong
công tác bồi thường đền bù giir phóng mặt bàng trên địa bàn huyện Sơn
Dương, tỉnh Tuyên Quang. Kết quả nghiên cứu của đề tài có ý nghĩa sau:
- Về lý luận: Hệ thống hóa lý luận các khái niệm liên quan đến quản lý
nhà nước về đất đai, về bồi thường, đền bù giải phóng mặt bằng nói chung,
trên địa bàn huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang nói riêng từ đó làm cơ sở
xây dựng luận cứ khoa học quản lý nhà nước về đất đai nói chung, đất đai trên
địa bàn huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang trong điều kiện hiện nay.
- Về thực tiễn: Tìm ra những vướng mắc trong cơ chế bồi thường, đền
bù giải phóng mặt bằng, từ đó đưa ra các kiến nghị, biện pháp giải quyết phù
hợp cho việc bồi thường, đền bù giải phóng mặt bằng về đất đai nói chung và
trên địa bàn huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang nói riêng.
Kết quả nghiên cứu của luận văn có đóng góp nhất định về cơ sở lý luận
trong quản lý nhà nước về đất đai, đặc biệt là vấn đề bồi thường, giải phóng mặt
bằng nói chung, trên địa bàn huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang nói riêng.
Đồng thời luận văn có thể làm tư liệu tham khảo cho các nhà nghiên cứu, giảng
dạy, đào tạo và bồi dưỡng môn học quản lý nhà nước; quản lý nhà nước về đất
đai chuyên ngành quản lý công, cũng như áp dụng trong thực tiễn vào công tác
bồi thường giải phòng mặt bằng tại huyện Sơn Dương nói riêng và công tác bồi
thường giải phóng mặt bằng tại tỉnh Tuyên Quang và cả nước nói chung.
7. Kết cấu của luận văn
phải trả cho chủ sở hữu (Nhà nước, tổ chức hay cá nhân) khi người sử dụng
được chủ sở hữu chuyển giao đất theo cơ chế kinh tế thị trường thông qua các
hình thức mua, bán, cho thuê, thế chấp…
1.1.2. Quyền sở hữu và quyền sử dụng đất đai ở Việt Nam
Theo quy định của pháp luật Việt Nam “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân
do Nhà nước đại diện làm chủ sở hữu và thống nhất quản lý. Nhà nước trao
12
quyền sử dụng đất theo quy định của Luật này” [21, tr.12]. Trong đó Nhà
nước thực hiện quyền định đoạt đối với đất đai như sau:
- Tổ chức, cá nhân được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận
quyền sử dụng đất. Người sử dụng đất được chuyển quyền sử dụng đất, thực
hiện các quyền và nghĩa vụ theo quy định của luật. Quyền sử dụng đất được
pháp luật bảo hộ.
- Nhà nước thu hồi đất do tổ chức, cá nhân đang sử dụng trong trường
hợp thật cần thiết do luật định vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển
kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng. Việc thu hồi đất phải công
khai, minh bạch và được bồi thường theo quy định của pháp luật.
Như vậy, với tư cách là người đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai,
Nhà nước có đủ ba quyền năng: quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền
định đoạt, song Nhà nước không sử dụng trực tiếp mà giao đất cho người sử
dụng trên cơ sở mục tiêu chung của Nhà nước và của xã hội và cho phép họ
được chuyển quyền sử dụng nhằm phát huy và mở rộng các quan hệ đất đai
cho quá trình phát triển kinh tế, xã hội.
Người sử dụng đất ở đây chính là người thực hiện những mục tiêu, ý đồ
của Nhà nước, tạo lên mối quan hệ sử dụng đất là quan hệ giữa những người
sử dụng đất với nhau thông qua hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất. Do đó
người sử dụng đất không chỉ có quyền chiếm hữu, sử dụng mà còn có các
quyền khác như quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại,
thừa kế, thế chấp, góp vốn, bảo lãnh, tặng cho quyền sử dụng đất. Các quyền
năng này của người sử dụng đất được pháp luật đất đai, pháp luật dân sự gọi
đích quốc phòng, an ninh, lợi ích công cộng, lợi ích quốc gia được triển khai
thì Nhà nước cần phải có mặt bằng để thực hiện dự án. Tuy nhiên, theo quy
định của pháp luật thì, “đất đai thuộc sở hữu toàn dân”, với tư cách là người
quản lý, nhằm đảm bảo được lợi ích của Nhà nước, lợi ích của nhân dân, khi
đó Nhà nước sẽ ra quyết định thu hồi quyền sử dụng đất của người dân hoặc
đất được Nhà nước giao quản lý. Theo điều 1, Luật đất đai năm 2013 “Thu
14
hồi đất là việc Nhà nước ra quyết định hành chính để thu hồi quyền sử dụng
đất hoặc thu lại đất đã giao cho tổ chức, Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn
quản lý” [24, tr.19]. Việc xây dựng những khu công nghiệp cho mục tiêu phát
triển kinh tế, những con đường quốc gia để phục vụ lợi ích chung là rất cần
thiết nhưng không vì thế mà phải hy sinh quyền lợi của những cá nhân, những
nhóm người. Do đó, khi quyền sử dụng đất của người dân bị thu hồi thì Nhà
nước sẽ bồi thường thiệt hại. Vì vậy, “ Bồi thuờng là việc Nhà nước trả lại giá
trị quyền sử dụng đất đối với diện tích đất bị thu hồi cho người bị thu hồi đất”
[24, tr.19]; “Bồi thường” là sự đền trả lại tất cả những thiệt hại mà chủ thể
gây ra một cách tương xứng, trong quy hoạch xây dựng thiệt hại gây ra có thể
là thiệt hại vật chất và thiệt hại phi vật chất. Trong giải phóng mặt bằng, cùng-
khó khăn cho các nhà đầu tư. Đặc biệt, các nhà đầu tư trong nước có nguồn
vốn hạn hẹp thì việc quay vòng vốn là rất cần thiết để đảm bảo tận dụng cơ
hội đấu thầu của các công trình khác.
Với chính sách hỗ trợ và tái định cư, chính sách bồi thường là một phần
quan trọng trong chính sách đền bù thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất. Chính
sách này nhằm giúp cho người bị thu hồi đất có thể tái lập, ổn định cuộc sống
mới do những thiệt hại vật chất hoặc thiệt hại phi vật chất do việc thu hồi đất
gây ra, mặt khác giúp họ giải quyết được những khó khăn khi phải thay đổi
nơi ở mới.
1.2.2. Bản chất của việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước
thu hồi đất
Mục tiêu phát triển kinh tế và xây dựng đất nước của Đảng và Nhà
Thời kỳ sau năm 1975 đến trước sự ra đời Luật đất đai năm 1993 trên
cơ sở hiến pháp năm 1980 quy định đất đai thuộc sở hữu toàn dân, do Nhà
nước thống nhất quản lý. Vì vậy việc thực hiện đền bù về đất không được
thực hiện mà chỉ thực hiện đền bù tài sản gắn liền với đất hoặc những thiệt hại
do việc thu hồi đất gây nên. Ngày 01/07/1980 hội đồng chính phủ ra Quyết
định 201/CP về việc: không được phát canh thu tô, cho thuê, cầm cố hoặc bán
16
nhượng đất với bất kỳ hình thức nào, không được dùng để thu những khoản
lợi nhuận không do thu nhập mà có, trừ trường hợp do Nhà nước quy định”.
Quan hệ đất đai thời kỳ này đơn thuần chỉ là quan hệ “giao-thu” giữa Nhà
nước và người sử dụng.
1.2.3. Mục đích, yêu cầu của việc thu hồi đất đai
Hoạt động bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất là
vấn đề phức tạp, vừa mang tính chính trị, kinh tế, văn hoá - xã hội, vừa mang
tính thời sự cấp bách. Công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước
thu hồi đất những năm qua trên cả nước bước đầu đã tạo ra nhiều đổi mới cho
khu vực nông thôn, khu vực đô thị, ven đô thị như: Tạo bước chuyển dịch về
cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động, ngành nghề, thu hút đầu tư góp phần đẩy
nhanh tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nền kinh tế, xã hội của địa
phương, của vùng và cả nước. Tuy nhiên, việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư
thời gian qua đã gặp không ít khó khăn do nhiều yếu tố chủ quan, khách quan,
vì vậy, việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư của Nhà nước nói chung, của chính
quyền địa phương những năm qua thông qua những dự án kinh tế, xã hội vẫn
chưa đáp ứng yêu cầu của sự phát triển và đã gây ra nhiều khiếu nại, khiếu
kiện, bất ổn định về xã hội và tình hình trật tự trong cả nước. Xuất phát từ vai
trò, vị trí của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, người có thẩm quyền
trong việc thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, các hoạt động của các cơ
quan này khi thực hiện chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của mình đều ảnh
hưởng trực tiếp đến đời sống của cá nhân, cộng đồng dân cư, nhất là trong hoạt
động quản lý đất đai tại địa phương, nhất là trong lĩnh vực thu hồi, bồi thường,
chuyển sang sản xuất hàng hoá theo hướng thị trường.
- Bảo đảm việc sử dụng đất đai ngày càng phù hợp hơn với các thiết
chế kinh tế thị trường khác như cơ cấu lại lực lượng lao động, điều tiết các
nguồn vốn và tài sản khác trong xã hội, phù hợp với xu hướng phi tập trung
hoá trong hoạt động quản lý Nhà nước về đất đai ;
- Tạo điều kiện, cơ sở cho việc phát triển thị trường bất động sản.
18
1.2.4. Các trường hợp thu hồi đất đai.
Thu hồi đất được thực hiện trong các trường hợp quy định tại Điều 61-
62; Điều 64-65 Luật đất đai năm 2013, bao gồm:
- Thu hồi đất để sử dụng vào mục đich quốc phòng, an ninh, lợi ích
quốc gia, lợi ích cộng đồng, phát triển kinh tế.
- Thu hồi trong trường hợp tổ chức được Nhà nước giao đất không thu
tiền sử dụng đất, được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất mà tiền sử
dụng đất có nguồn gốc từ nguồn ngân sách nhà nước hoặc cho thuê đất thu
tiền hàng năm bị giải thể, phá sản, chuyển đi nơi khác, hoặc không còn nhu
cầu sử dụng đất để sử dụng vào mục đích phát triển kinh tế.
- Thu hồi trong trường hợp sử dụng đất không đúng mục đích, sử dụng
đất không có hiệu quả;
- Người sử dụng đất cố ý hủy hoại đất;
- Đất được giao không đúng đối tượng hoặc không đúng thẩm quyền;
- Đất bị lấn, chiếm trong các trường hợp sau đây:
- Đất chưa sử dụng bị lấn, chiếm;
- Đất không được chuyển nhượng, sử dụng theo quy định của Luật Đất đai mà
người sử dụng đất do thiếu trách nhiệm để bị lấn, chiếm;
- Cá nhân người sử dụng đất chết không có người thừa kế;
- Người sử dụng đất tự nguyện trả lại đất;
- Ngưới sử dụng đất cố ý không thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước;
-Đất được Nhà nước giao, cho thuê có thời hạn mà không được gia hạn
khi hết thời hạn;
luật về đất đai, tiền bồi thường cho Nhà nước khi gây thiệt hại trong quản lý
và sử dụng đất đai, phí và lệ phí trong quản lý, sử dụng đất đai.
Trong trường hợp khoản nghĩa vụ tài chính về đất đai phải nộp lớn hơn
hoặc bằng tiền bồi thường về đất thì số tiền được trừ tối đa bằng số tiền bồi
thường đất.
20
Diện tích đất được bồi thường là diện tích đất được xác định trên thực
địa – thực tế đo đạc diện tích thu hồi của từng người sử dụng đất.
1.2.6. Điều kiện được bồi thường, hỗ trợ, tái định cư.
Điều 75 Luật đất đai 2013 quy định về điều kiện được bồi thường về
đất khi Nhà nước thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh
tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng như sau:
“- Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất không phải là đất thuê trả tiền
thuê đất hàng năm, có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Giấy chứng nhận
quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở, Giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (sau đây gọi chung là
Giấy chứng nhận) hoặc có đủ điều kiện để được cấp Giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy
định của Luật này mà chưa được cấp, trừ trường hợp quy định tại khoản 2
Điều 77 của Luật này; người Việt Nam định cư ở nước ngoài thuộc đối tượng
được sở hữu nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở tại Việt Nam mà có Giấy
chứng nhận hoặc có đủ điều kiện được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của
Luật này mà chưa được cấp.
- Cộng đồng dân cư, cơ sở tôn giáo đang sử dụng đất mà không phải là
đất do Nhà nước giao, cho thuê và có Giấy chứng nhận hoặc có đủ điều kiện
để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài
sản khác gắn liền với đất theo quy định của Luật này mà chưa được cấp.
- Người Việt Nam định cư ở nước ngoài được Nhà nước giao đất, cho
thuê đất trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê; nhận chuyển nhượng
+ Hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất ổn định, được Ủy ban nhân dân xã,
phường, trị trấn (sau đây gọi chung là Ủy ban nhân dân cấp xã) xác nhận
không có tranh chấp mà có một trong các loại giấy tờ sau đây:
- Những giấy tờ về quyền sử dụng đất đai trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 do
cơ quan có thẩm quyền cấp trong quá trình thực hiện chính sách đất đai của
Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng
22
hòa miền Nam Việt Nam và Nhà nước Cộng hòa xã hội chử nghĩa Việt Nam;
- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tạm thời được cơ quan nhà nước có thẩm
quyền cấp hoặc có tên trong sổ đăng ký ruộng đất, sổ Địa chính;
- Giấy tờ hợp pháp về thừa kế, tặng, cho quyền sử dụng đất hoặc tài sản gắn
liền với đất; giấy tờ giao nhà tình nghĩa gắn liền với đất;
- Giấy tờ chuyển nhượng quyền sử dụng đất, mua bán nhà ở gắn liền với đất
trước ngày 15 tháng 10 năm 1993, nay được Ủy ban nhân dân cấp xã xác
nhận là đất sử dụng trước ngày 15 tháng 10 năm 1993;
- Giấy tờ thanh lý, hóa giá nhà ở, mua nhà ở gắn liền với đất ở theo quy định
của pháp luật;
- Giấy tờ do cơ quan có thẩm quyền thuộc chế độ cũ cấp cho người sử dụng
đất.
+ Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất có một trong những lại giấy tờ
quy định được kể trên mà trên giấy tờ đó ghi tên người khác, kèm theo giấy tờ
về việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất có chữ ký của các bên liên quan,
nhưng đến thời điểm có quyết định thu hồi đất chưa thực hiện thủ tục chuyển
nhượng sử dụng đất theo quy định của pháp luật, nay được Ủy ban nhân dân
cấp xã xác nhận không có tranh chấp.
+ Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất có hộ khẩu thường trú tại địa
phương và trự tiếp sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản,
làm muối tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn ở miền núi, hải đảo,
nay được Ủy ban nhân dân cấp xã nới có đất xác nhận là người đã sử dụng đất
ổn định, không có tranh chấp.
1.2.7.1. Chi trả bồi thường về đất đai và tài sản trên đất,
- Tổ chức, cá nhân trong nước; người Việt Nam định cư ở nước ngoài;
tổ chức, cá nhân nước ngoài được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất,
cho thuê đất theo quy định của pháp luật về đất đai nếu thực hiện ứng trước
tiền bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và kinh phí tổ chức thực hiện bồi
thường, giải phóng mặt bằng theo phương án đã được xét duyệt thì được
ngân sách nhà nước hoàn trả bằng hình thức trừ vào tiền sử dụng đất, tiền
24
thuê đất phải nộp.
- Tổ chức, cá nhân trong nước; người Việt Nam định cư ở nước ngoài;
tổ chức, cá nhân nước ngoài được Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng
đất, giao đất có thu tiền sử dụng đất, cho thuê đất theo quy định của pháp luật
về đất đai mà được miễn tiền sử dụng đất, tiền thuê đất thì tiền bồi thường, hỗ
trợ, tái định cư và kinh phí tổ chức thực hiện bồi thường, hỗ trợ, tái định cư
theo phương án đã phê duyệt được tính vào vốn đầu tư của dự án.
Xác định lại giá đất trong một số trường hợp cụ thể:
- Khi Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất không thông qua hình
thức đấu giá quyền sử dụng đất hoặc đấu thầu dự án có sử dụng đất, cho thuê
đất, phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi
đất và trường hợp doanh nghiệp nhà nước tiến hành cổ phần hóa lựa chọn
hình thức giao đất mà giá đất do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định tại thời
điểm giao đất, cho thuê đất, thời điểm quyết định thu hồi đất, thời điểm tính
giá đất vào giá trị doanh nghiệp cổ phần hóa chưa sát với giá chuyển nhượng
quyền sử dụng đất thực tế trên thị trường trong điều kiện bình thường thì Ủy
ban nhân dân cấp tỉnh căn cứ vào giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất thực
tế trên thị trường để xác định lại giá đất cụ thể cho phù hợp.
* Bồi thường đất nông nghiệp
- Hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất nông nghiệp khi Nhà nước thu
hồi được bồi thường bằng đất có cùng mục đích sử dụng; nếu không có
đất để bồi thường thì được bồi thường bằng tiền tính theo giá đất cùng