đánh giá ảnh hưởng của hoạt động làng nghề đa hội, phường châu khê, thị xã từ sơn, tỉnh bắc ninh đến chất lượng nước - Pdf 30


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

NGUYỄN ĐỨC HIỂN
ĐÁNH GIÁ ẢNH HƯỞNG CỦA HOẠT ĐỘNG LÀNG NGHỀ
ĐA HỘI, PHƯỜNG CHÂU KHÊ, THỊ XÃ TỪ SƠN,
TỈNH BẮC NINH ĐẾN CHẤT LƯỢNG NƯỚC LUẬN VĂN THẠC SĨ

HÀ NỘI, 2015

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO


LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu, kết
quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ
công trình nào khác.
Các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc. Tác giả luận văn

Nguyễn Đức Hiển
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page iii

MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
i

LỜI CẢM ƠN
ii
MỤC LỤC
iii
DANH MỤC BẢNG
v
DANH MỤC HÌNH
vi
DANH MỤC TỬ VIẾT TẮT
vii
MỞ ĐẦU
1
1.

Tính cấp thiết của đề tài
1
2.

Mục đích và yêu cầu nghiên cứu của đề tài
2
2.1 Mục đích:

2.3.1. Phương pháp điều tra, thu thập số liệu thứ cấp
28
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page iv

2.3.2. Phương pháo điều tra bảng hỏi: 29
2.3.3. Phương pháp lấy mẫu, bảo quản và phân tích mẫu:
29
2.3.4. Phương pháp đối chứng chất lượng nước 34
2.3.5. Phương pháp xử lý số liệu 34
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
35
3.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội
35
3.1.1. Điều kiện tự nhiên
35
3.1.2 Tình hình phát triển kinh tế xã hội: 39
3.2. Hiện trạng hoạt động sản xuất tại làng nghề: 41
3.2.1. Quy mô làng nghề: 41
3.2.2. Quy trình công nghệ sản xuất làng nghề: 42
3.3. Đặc trưng chất thải tại làng nghề tái chế sắt thép Đa Hội
51
3.4. Hiện trạng quản lý môi trường tại làng nghề
55
3.5. Hiện trạng chất lượng môi trường nước tại làng nghề sắt thép Đa Hội 57
3.5.1. Hiện trạng chất lượng nước mặt: 57
3.5.2. Hiện trạng chất lượng nước thải
62
3.5.3. Hiện trạng chất lượng nước ngầm 65
3.6 Ảnh hưởng của sự ô nhiễm nước tới đời sống người dân

khu vực nghiên cứu 19
Bảng 2.1: Vị trí và ký hiệu các mẫu nước tại làng nghề sắt thép Đa Hội 30
Bảng 2.2. Thời gian các đợt lấy mẫu nước tại làng nghề Đa Hội 32
Bảng 2.3 : Danh mục các chỉ tiêu và phương pháp phân tích 33
Bảng 3.1: Thực trạng phát triển kinh tế làng nghề Đa Hội 40
Bảng 3.2: Số cơ sở sản xuất, sản lượng thép và giá trị đạt được của làng nghề Đa
Hội qua các năm 40
Bảng 3.3: Diến biến về cơ sở sản xuất và quy mô hiện tại của các cơ sở sản xuất
CCN làng nghề Đa Hội 42
Bảng 3.4: Nhu cầu sử dụng nguyên, nhiên liệu làng nghề Đa Hội năm 2014 43
Bảng 3.5: Tình hình sử dụng nguyên, nhiên liệu của các cơ sở sản xuất tại làng nghề
Đa Hội năm 2014 44
Bảng 3.6 Số lượng sản phẩm tại các cơ sở điều tra 45
Bảng 3.7: Các dạng chất thải từ hoạt động tái chế kim loại 52
Bảng 3.8: Lượng chất thải rắn sản xuất của các cơ sở sản xuất tại làng nghề Đa Hội
54
Bảng 3.9: Kết quả quan trắc chất lượng nước mặt tại vị trí NM-1 57
Bảng 3.10: Kết quả quan trắc tại vị trí NM-2 và NM-3 59
Bảng 3.11: Kết quả quan trắc tại vị trí NT1 và NT2 63
Bảng 3.12: Kết quả quan trắc tại vị trí NT3 và NT4 64
Bảng 3.13: Kết quả quan trắc chất lượng nước ngầm theo thời gian của làng nghề
Đa Hội 66
Bảng 3.14: Tỷ lệ bệnh tật của người dân phường Châu Khê 68
Bảng 3.15: Phân công chức năng, nhiệm vụ của các tổ chức, cá nhân trong 73
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page vi

DANH MỤC HÌNH

Hình 1.1. Phân loại làng nghề Việt Nam theo ngành nghề sản xuất

Hình 3.12: Mô hình xử lý cho cơ sở có dây chuyền mạ
71
Hình 3.13: Mô hình xử lý nước thải sinh hoạt ra ao làng Đa Hội
71 Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page vii

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

BOD
5
Nhu cầu oxy sinh học trong 5 ngày
BVMT Bảo vệ môi trường
CCN Cụm công nghiệp
CNH - HĐH Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa
CHXHCN Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
NN & PTNT Nông nghiệp và phát triển nông thôn
COD Nhu cầu ôxy hóa học
GDP
KLN
Tổng thu nhập quốc dân
Kim loại nặng
KT - XH Kinh tế - xã hội
HTX Hợp tác xã
HTXL Hệ thống xử lý

Một trong những địa phương có làng nghề truyền thống lâu đời là tỉnh Bắc
Ninh với các làng nghề: Làng nghề tái chế sắt thép Đa Hội, Làng nghề đúc đồng
Đại Bái, làng nghề mây tre đan Xuân Lai và làng nghề sắt thép Châu Khê đang
phát triển mạnh mẽ trong nhưng năm gần đây, góp phần rất lớn cho nền kinh tế
chung của tỉnh Bắc Ninh. Bên cạnh những mặt tích cực, theo ban thanh tra của Bộ
tài nguyên và Môi trường thì làng nghề sắt thép Đa Hội (Châu Khê) được xếp vào
một trong 47 làng nghề đang bị ô nhiễm môi trường đặc biệt nghiêm trọng, phải
khẩn trương khắc phục ô nhiễm và cải thiện môi trường. Do đặc trưng của làng
nghề tái chế sắt thép, cùng với đó là cơ sở hạ tầng còn kém quy trình sản xuất còn
thủ công, chưa có hệ thống xử lý nước thải tập trung hay công nghệ xử lý còn lạc hậu,
chưa được đầu tư đúng mức Nên nước thải phát sinh từ làng nghề gây ảnh hưởng vô
cùng to lớn đến sức khỏe của con người và môi trường.
Từ các vấn đề thực tế trên, dưới sự hướng dẫn của PGS. TS Nguyễn Văn Dung, tôi
tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá ảnh hưởng của hoạt động làng nghề Đa Hội
phường Châu Khê, thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh đến chất lượng nước” Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 2

2. Mục đích và yêu cầu nghiên cứu của đề tài
2.1 Mục đích:
 Đánh giá ảnh hưởng của hoạt động phát triển làng nghề Đa Hội, phường Châu
Khê, huyện Từ Sơn – tỉnh Bắc Ninh đến chất lượng nước.
 Đề xuất biện pháp giảm thiểu ô nhiễm, bảo vệ và quản lý chất lượng nước của
làng nghề.
2.2 Yêu cầu:
 Khảo sát và phỏng vấn các chủ cơ sở sản xuất làng nghề.
 Tìm hiểu và thu thập thông tin về làng nghề.
 Lấy mẫu và phân tích mẫu nước đề tài nghiên cứu.

là một cộng đồng dân cư, một cộng đồng sản xuất nghề TTCN và nông nghiệp ở
nông thôn”. Theo quan niệm này, làng nghề được hiểu khá đơn giản, xúc tích và
ngắn gọn gồm 3 yếu tố: Là một cộng đồng dân cư, nghề sản xuất TTCN và nông
nghiệp ở nông thôn.
Quan niệm thứ hai: Một số nhà nghiên cứu đưa ra khái niệm làng nghề kèm
theo tiêu chí cụ thể về lao động và thu nhập. Theo đó “Làng nghề là những làng đã
từng có 50 hộ hoặc từ 1/3 tổng số hộ hay lao động của địa phương trở lên làm nghề
chiếm phần chủ yếu trong tổng thu nhập của họ trong năm” (Đỗ Quang Dũng, 2006).
Hoặc trong dự thảo Nghị định của Chính phủ về một số chính sách khuyến khích phát
triển ngành nghề nông thôn được Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn đệ trình
tháng 5 năm 2007 quy định “Làng nghề là thôn ấp, bản có trên 35% số hộ hoặc lao
động tham gia hoạt động ngành nghề nông thôn và thu nhập từ ngành nghề nông
thôn chiếm trên 50% tổng thu nhập của làng”.Các định nghĩa này đã khắc phục
nhược điểm của quan niệm thứ nhất, quan tâm đến tỷ lệ người làm nghề và thu nhập
từ ngành nghề, nhưng lại cố định tiêu chí xác định làng nghề.
Quan niệm thứ ba: Theo Dương Bá Phương (2001), thì “Làng nghề là làng ở
nông thôn có một (hoặc một số) nghề thủ công tách hẳn khỏi nông nghiệp và kinh
doanh độc lập”. Quan niệm này nêu lên được 2 yếu tố cơ bản cấu thành của làng
nghề là làng và nghề, nêu lên được vấn đề nghề trong làng tách ra khỏi nông nghiệp và
kinh doanh độc lập nên phù hợp với điều kiện mới hơn.
Quan niệm thứ tư: Theo Đặng Kim Chi (2005), có thể hiểu làng nghề “là làng nông
thôn Việt Nam có ngành nghề tiểu thủ công nghiệp, phi nông nghiệp chiếm ưu thế về số
lao động và thu nhập so với nghề nông”.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 4

Có rất nhiều ý kiến và quan điểm khác nhau khi đề cập đến tiêu chí để một làng ở
nông thôn được coi là một làng nghề. Nhưng nhìn chung, các ý kiến thống nhất ở một số
tiêu chí sau:
Giá trị sản xuất và thu nhập từ phi nông nghiệp ở làng nghề đạt trên 50% so với

+ Nghề khác (mộc gia dụng, cơ khí nhỏ, đóng thuyền, quạt giấy, đan vó, lưới ).
Thủ công mỹ
nghệ
39%
Chế biến
lương thực,
thực phẩm,
chăn nuôi, giết
mổ
20%
Tái chế phế
liếu
4%
Dệt nhuộm,
ươm tơ, thuộc
da
17%
Các nghề khác
15%
Vật liệu xây
dựng, khai
thác đá
5%

Hình 1.1. Phân loại làng nghề Việt Nam theo ngành nghề sản xuất
Nguồn: Tổng cục Môi trường, 2008
Ngoài ra còn có thể phân loại theo quy mô sản xuất (lớn, nhỏ, trung bình),
phân loại theo nguồn thải và mức độ ô nhiễm, theo lịch sử phát triển, theo mức độ
sử dụng nguyên liệu, theo thị trường tiêu thụ sản phẩm hoặc theo tiềm năng tồn tại
và phát triển

động. Năm 1992 đã có 2.640 lượt người của 62 nước trong đó có Trung Quốc,
Malayxia, Anh, Pháp tới thăm làng nghề truyền thống của Nhật. Nổi lên là nghề rèn
là nghề thủ công cổ truyền phát triển ở nhiều làng nghề và thị trấn của Nhật. Thị
Trấn Takeo tỉnh GiFu là một trong những địa phương có nhiều nghề cổ truyền từ
700 – 800 năm, đến nay vẫn tiếp tục hoạt động, hiện nay cả thị trấn có khoảng 200
hộ gia đình với 1000 lao động là thợ thủ công chuyên nghiệp, hằng năm sản xuất ra
9 – 10 triệu nông cụ các loại, với chất lượng cao, mẫu mã đẹp. Điều đáng chú ý là
công nghệ chế tạo công cụ của Nhật từ thủ công dần dần được hiện đại hóa với các
máy gia công tiến bộ và kỹ thuật tiến tiến
Sau Chiến tranh kết thúc Chính phủ Hàn Quốc đã chú trọng đến công nghiệp
nông thôn, trong đó có ngành nghề thủ công và làng nghề truyền thống. Đây là một
chiến lược quan trọng để phát triển nông thôn. Các mặt hàng được tập trung sản
xuất là: Hàng thủ công mỹ nghệ, hàng truyền thống công nghiệp phục vụ du lịch và
xuất khẩu, đồng thời tập trung chế biến lương thực, thực phẩm theo công nghệ cổ
truyền. Chương trình này tập trung vào các nghề sử dụng lao động thủ công, công
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 7

nghệ đơn giản và nguồn nguyên liệu sẵn có ở địa phương, sản xuất quy mô nhỏ với
khoảng 10 hộ gia đình liên kết với nhau thành tổ hợp tác được ngân hàng cung cấp
vốn tín dụng với lãi xuất thấp để mua nguyên liệu sản xuất và cả tiêu thụ sản phẩm.
Phát triển ngành nghề thủ công truyền thống cũng được triển khai rộng khắp từ
những năm 1970 đến 1980, đã xuất hiện 908 xưởng thủ công dân tộc chiếm 2,9%
các xí nghiệp vừa và nhỏ, thu hút 23.000 lao động, hoạt động theo hình thức sản
xuất tại gia là chính. Đây là loại hoạt hình nông thôn với 79,4% dựa vào các hộ gia
đình riêng biệt, sử dụng nguyên vật liệu địa phương và bí quyết truyền thống. Để
phát triển công nghiệp thủ công truyền thống Chính phủ đã thành lập 95 hãng
thương mại về những mặt hàng này (Đặng Ngọc Vinh, 2009).
Tuy nhiên bên cạnh những mặt tích cực, phát triển làng nghề còn tồn tại những
mặt tiêu cực, đặc biệt là làng nghề làm ô nhiễm môi trường đất, nước, không khí, …

giai đoạn khác nhau, gắn với những cung bậc thăng trầm của lịch sử. Đặc biệt, từ khi
đổi mới nền kinh tế 1986 đến nay, dưới tác động to lớn của sự biến đổi nền kinh tế
trong nước cũng như trên toàn thế giới nhờ sự phát triển của khoa học kỹ thuật: Các
cuộc cách mạng công nghiệp và cách mạng xanh trong nông nghiệp… giúp cho quá
trình phát triển của các làng nghề thay đổi to lớn, mang lại nhiều thành công nhưng
cũng để lại rất nhiều vấn đề cần giải quyết: kinh tế, xã hội…đặc biệt là vấn đề môi
trường bị ảnh hưởng quá nghiêm trọng trong nhưng năm trở lại đây.
Trải qua nhiều thăng trầm theo chiều dại của lịch sử, các làng nghề tái chế kim
loại cũng như các làng nghề khác có lúc hưng thịnh, nhưng cũng có lúc suy thoái tưởng
trừng như khó khôi phục do bị ảnh hưởng bởi chiến tranh, bởi chế độ cai trị của thực
dân xâm lược: Thực dân Pháp và Đế quốc Mỹ.
Cho đến năm 2005, cả nước có 2.017 làng nghề dải khắp cả 3 miền Bắc, Trung,
Nam, trong đó tập trung phần lớn ở vùng đồng bằng sông Hồng. Làng nghề tái chế kim
loại chiếm số lượng ít, chỉ vào khoảng 80 -120 làng nghề. Các làng nghề trong cả nước
thu hút hơn 10 triệu lao động, nâng cao thu nhập cho người dân, cải thiện đáng kể đời
sống cho một bộ phận dân cư khu vực nông thôn. Hiện nay, Nhà nước có nhiều chính
sách nhằm khuyến khích làng nghề phát triển, đặc biệt từ khi Hiệp hội làng nghề Việt
Nam được thành lập (2005), đã có nhiều chương trình, chính sách nhằm bảo tồn, thúc
đẩy sự phát triển làng nghề (Dương Đình Giám, 2012).
Tuy nhiên, nhiều làng nghề nói chung và làng nghề tái chế kim loại nói riêng có
nguy cơ lâm vào tình trạng suy thoái do nhiều nguyên nhân khác nhau (do bế tắc về thị
trường, do bị cạnh tranh, do thiếu vốn để cải tiến sản xuất, gây ô nhiễm môi trường…).
Để giải quyết những khó khăn này, cần có cái nhìn tổng quan về làng nghề và gắn với
thực trạng kinh tế xã hội trong nước và thế giới.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 9 Hình 1.2: Hiện trạng phân bố làng nghề nước ta
(Tổng cục môi trường, 2008)

tế (Dương Đình Giám, 2012).
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 11

1.2.2.2. Khái quát về làng nghề tái chế kim loại
* Tái chế kim loại: Là hoạt động phân loại các loại kim loại như sắt, đồng,
thép, nhôm…từ dòng thải và sử dụng chúng như nguyên liệu đầu vào để sản xuất ra
các sản phẩm, chất lượng các sản phẩm này có thể kém hơn chất lượng sản phẩm
ban đầu.
* Về quy mô: Các làng nghề tái chế kim loại phần lớn đều có quy mô vừa và
nhỏ (chiếm 72% tổng số cơ sở sản xuất), nằm xen kẽ với khu dân cư, hình thành
chủ yếu trên cơ sở gia đình, kinh nghiệm được truyền từ thế hệ này sang thế hệ
khác. Số lượng công nhân không nhiều, khoảng 6 người/hộ sản xuất và thường có
nguồn thu nhập ổn định, góp phần thúc đẩy kinh tế hộ gia đình.
* Về phân bố các làng nghề: Đa số các làng nghề này nằm ở phía Bắc, công
nghệ sản xuất đang từng bước được cơ khí hóa. Một số tỉnh thành phố tập trung với
số lượng lớn các làng nghề tái chế kim loại: Nghệ An, Thanh Hóa, Hà Nội, Nam
Định, Bắc Ninh… Làng nghề đúc nhôm Vân Chàng - Nam Định, làng nghề đúc
đồng Phước Kiều - Quang Nam, làng nghề đúc đồng Ngũ Xã - Hà Nội, làng nghề
đúc nhôm Mẫn Xá - Bắc Ninh, làng nghề đúc đồng Đại Bái – Bắc Ninh, làng nghề
tái chế kim loại Đa Hội - Bắc Ninh…(Nguyễn Thị Cẩm Vân, 2013).
* Quy trình tái chế kim loại:

Quy trình này là quy trình chung mà tất cả các làng nghề tái chế kim loại hiện
nay ở Việt Nam đang áp dụng.

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 12

* Tác động tích cực:


1.2.2.3. Các vấn đề trong môi trường làng nghề tái chế kim loại:
Vấn đề ô nhiễm tại làng nghề tái chế kim loại hiện nay đang là một trong những
vấn đề nóng của xã hội. Các làng nghề hầu hết chưa đi vào quy hoạch cụm công
nghiệp làng nghề, mà vẫn chủ yếu sản xuất kinh doanh tại hộ gia đình. Công nghệ
sản xuất còn lạc hậu, các biện pháp bảo vệ môi trường và sức khỏe cho người lao
động và những người xung quanh còn rất hạn chế.
• Ô nhiễm nước thải:
- Nước làm mát các thiết bị máy móc.
- Nước làm nguội sản phẩm trong quá trình đúc.
- Vệ sinh thiết bị, mặt bằng nhà xưởng.
Nước sẽ cuốn theo các tạp chất bẩn còn trong máy móc như các hóa chất, muối
acid, muối kim loại, cyanua, các kim loại nặng như thủy ngân, kẽm, sắt, crom,
niken…dầu mỡ công nghiệp, chất rắn lơ lửng trực tiếp chảy ra cống xả rồi xả ra các
ao, hồ, sông, cánh đồng…của làng nghề mà không qua bất kỳ hệ thống xử lý nào.
• Ô nhiễm môi trường không khí:
- Quá trình vận chuyển nguyên liệu tới làng nghề: Bụi phát sinh từ khói thải của
xe chuyên chở. Ngoài ra còn một phần bụi bám trên bề mặt kim loại do chứa các tạp
chất đá…cũng phát tán vào môi trường không khí.
- Gia công sơ bộ, tẩy gỉ: Phát sinh một lượng lớn bụi, bụi chứa kim loại nặng và
bụi của vật liệu độc hại
- Quá trình nấu: Người ta thường sử dụng than, củi, dầu FO,DO gây ô nhiễm
CO
2
, SO
2
, NO
x
, chất hữu cơ bay hơi (hơi axit, kiềm, oxit kim loại PbO, ZnO,
Al

tiếp ra môi trường. Công nhân làm việc trong các lò nấu chì không hề được trang bị
đồ bảo hộ lao động. Đi làm về, áo quần của họ dính đầy bụi chì và hóa chất, vô tình
trở thành nguồn nhiễm độc cho chính bản thân và những người trong gia đình.
Nhiều năm nay, Đông Mai được xem là 1 trong 4 làng nghề gây ô nhiễm môi
trường trầm trọng nhất tỉnh Hưng Yên. Có thời điểm, hơn 50% người dân của thôn
bị bệnh đường ruột, đau dạ dày; 30% mắc bệnh đường hô hấp, đau mắt; 100%
người trực tiếp nấu chì bị nhiễm độc. Cách đây 10 năm, thôn đã có hơn 40 người bị
teo cơ, bại não, bại liệt, mù bẩm sinh do ảnh hưởng của bụi và khói chì. Theo Quyết
định 64/2003/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, đến hết năm 2007, Đông Mai
phải hoàn tất việc xử lý ô nhiễm môi trường, di dời các hộ, cơ sở sản xuất ra khỏi
khu dân cư. Đến năm 2011, tỉnh Hưng Yên đã phê duyệt dự án xây dựng cụm công
nghiệp Đông Mai rộng 21 ha, cách khu dân cư trên 1 km để tập trung các cơ sở tái
chế kim loại độc hại. Tuy nhiên, hiện rất nhiều cơ sở tái chế chì trong khu dân cư
vẫn chưa chịu di dời. Báo cáo mới nhất của Viện Sức khỏe nghề nghiệp và Môi
trường cho thấy kết quả đáng báo động: Có đến 97% trong tổng số 500 trẻ tại thôn
Đông Mai được làm xét nghiệm nhanh có kết quả phơi nhiễm chì. Hầu hết các trẻ
này đều có hàm lượng chì trong máu vượt ngưỡng 3-7 lần. Trẻ em vì nhiễm chì
nặng nên bị còi cọc, chậm phát triển trí não…và ngày càng nhiều người chết vì căn
bệnh ung thư (Văn Duẩn, Ngọ Dung, 2014).
Xã Đại Đồng nằm ở phía Đông Bắc của huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên có Thôn
Lộng Thượng trong xã có nghề đúc đồng truyền thống, và thôn Xuân Phao và Văn ổ có
nghề tái chế kẽm. Sự tích luỹ kim loại nặng trong đất nông nghiệp và nước ngầm của
xã Đại Đồng, huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên là điều tất yếu sảy ra (Hồ Thị Lam Trà,
2006).
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 15

Bảng 1.1: Hàm lượng một số kim loại nặng trong đất nông nghiệp
Xã Đại Đồng - Huyện Văn Lâm – Tỉnh Hưng Yên
Đơn vị tính: mg/kg đất

lượng Pb cao hơn tiêu chuẩn Việt Nam. Cá biệt có 2 mẫu chịu ảnh hưởng của làng
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 16

nghề đúc đồng có hàm lượng Pb trên 200 mg/kg và 1 mẫu chịu ảnh hưởng của làng
nghề tái chế kẽm có hàm lượng Pb trên 300 mg/kg.
Điều tra về tình hình sản xuất của làng nghề đúc đồng tác giả Hồ Thị Lam Trà
thấy có hơn 70% các hộ trong làng làm nghề đúc đồng. Quy trình sản xuất của các
hộ mang tính thủ công, các mảnh vụn của đồng, nước rửa, khuôn đúc đồng được
thải trực tiếp vào môi trường. Trong làng không có hộ nào xử lý rác thải, nước thải.
Nước thải được đổ và dẫn trực tiếp ra các mương thoát nước rồi chảy ra các cánh
đồng lúa lân cận. Kết quả phân tích Cd, Cu, Pb và Zn được thể hiện ở phần kết quả
nghiên cứu chứng minh được rằng: quá trình sản xuất này đã gây ra sự tích đọng
một hàm lượng lớn về Cd, Cu, Pb và Zn. Sự ô nhiễm Cu, Pb và Zn ở mức độ khá
cao.
Hiện tại ở hai làng nghề tái chế kẽm (Văn ổ và Xuân Phao) không còn nhiều hộ dân
làm nghề này do gần đây nguồn nguyên liệu bị khan hiếm, tuy nhiên do trước kia,
trong thời gian dài, quá trình sản xuất là thủ công và không có ý thức trong việc thu
gom phế liệu nên đất nông nghiệp chịu ảnh hưởng của làng nghề này đã bị tích luỹ
một lượng đáng kể Cd, Cu, Pb và Zn.
Qua quá trình nghiên cứu của tác giả Hồ Thị Lam Trà nhận thấy rằng sự ảnh
hưởng của các làng nghề khác nhau là khác nhau, tùy thuộc vào ngành nghề sản
xuất, thời gian và quy mô hoạt động của làng nghề mà ảnh hưởng đến chất lượng
môi trường theo các mức độ khác nhau. Nhìn chung hầu như tất cả các làng nghề
đều ảnh hưởng rất lớn tới chất lượng môi trường. Sau đây là bảng số liệu kết quả
hàm lượng một số kim loại nặng mà tác giả Hồ Thị Lam Trà nghiên cứu tại Đại
Đồng – Văn Lâm –
Hưng Yên.

Trích đoạn Phương phỏp xử lý số liệu
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status