nghiên cứu hoạt động trao đổi đất nông nghiệp giữa các hộ nông dân trong các làng nghề ở thị xã từ sơn, tỉnh bắc ninh - Pdf 30


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM



LÊ THỊ PHƯƠNG DUNG NGHIÊN CỨU HOẠT ĐỘNG TRAO ĐỔI ĐẤT NÔNG NGHIỆP
GIỮA CÁC HỘ NÔNG DÂN TRONG CÁC LÀNG NGHỀ
Ở THỊ XÃ TỪ SƠN, TỈNH BẮC NINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ
CHUYÊN NGÀNH: KINH TẾ NÔNG NGHIỆP

HÀ NỘI, NĂM 2015

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM




Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được
cám ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều được chỉ rõ nguồn gốc.
Hà Nội, ngày 12 tháng 5 năm 2015
Tác giả luận văn Lê Thị Phương Dung
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page iii

LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài, tôi đã nhận được sự giúp
đỡ, ý kiến đóng góp, chỉ bảo quý báu của các thầy giáo, cô giáo trong Bộ môn
Kinh tế Tài nguyên và Môi trường, Khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn, Học
viện Nông nghiệp Việt Nam.
Để có được kết quả nghiên cứu này, ngoài sự cố gắng và nỗ lực của bản
thân, tôi còn được nhận được sự hướng dẫn chu đáo, tận tình của PGS.TS
Nguyễn Mậu Dũng là người hướng dẫn trực tiếp tôi trong suốt thời gian nghiên
cứu đề tài và viết luận văn.
Tôi đã nhận được sự giúp đỡ của UBND Thị xã Từ Sơn, Chi cục Thống
kê, Phòng Tài nguyên và Môi trường, các phòng ban và cán bộ của các xã,
phường của Thị xã. Ngoài ra, tôi cũng được đồng nghiệp thuộc trường Cao đẳng
Thủy sản tạo điều kiện và giúp đỡ trong quá trình học tập, sự động viên từ gia
đình và người thân.
Với tấm lòng biết ơn, tôi xin chân thành cảm ơn mọi sự giúp đỡ quý báu đó!
Hà Nội, ngày 12 tháng 5 năm 2015
Tác giả luận văn

2.2 Cơ sở thực tiễn về hoạt động trao đổi đất nông nghiệp 21
2.2.1 Tình hình trao đổi đất nông nghiệp ở một số nước trên Thế giới 21
2.2.2 Tình hình trao đổi đất nông nghiệp ở Việt Nam 27
2.3 Bài học kinh nghiệm cho nghiên cứu hoạt động trao đổi đất nông nghiệp
giữa các hộ làng nghề thuộc Từ Sơn – Bắc Ninh 31
PHẦN III: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 33
3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 33
3.1.1 Điều kiện tự nhiên của Thị xã Từ Sơn 33 Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page v

3.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội của Thị xã Từ Sơn 35
3.2 Phương pháp nghiên cứu 45
3.2.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu 45
3.2.2 Phương pháp thu thập thông tin 45
3.2.3 Phương pháp tính toán và tổng hợp số liệu 48
3.2.4 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu 48
3.2.5 Các chỉ tiêu phân tích 49
PHẦN IV: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 52
4.1 Khái quát tình hình trao đổi đất nông nghiệp của các hộ nông dân trong
các làng nghề thị xã Từ Sơn 52
4.1.1 Khái quát về các làng nghề ở thị xã Từ Sơn 52
4.1.2 Khái quát tình hình sử dụng đất nông nghiệp trong các làng nghề thị xã Từ
Sơn 53
4.1.3 Khái quát tình hình trao đổi đất của các hộ nông dân trong các làng nghề
thị xã Từ Sơn 57
4.2. Đánh giá các hoạt động trao đổi đất nông nghiệp tại các làng nghề thuộc Từ Sơn 60
4.2.1 Hoạt động thuê – cho thuê đất nông nghiệp 60

5.2.2 Đối với cấp tỉnh 102
5.2.3 Đối với cấp thị xã 102
5.2.4 Đối với cấp xã, phường 103
5.2.5 Đối với hộ nông dân 103
TÀI LIỆU THAM KHẢO 104
PHỤ LỤC 106 Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page vii

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT CNH – HĐH : Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa
CCN : Cụm công nghiệp
GTSX : Giá trị sản xuất
ĐNN : Đất nông nghiệp
KCN : Khu công nghiệp
QSDĐ : Quyền sử dụng đất
UBND : Ủy ban nhân dân Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page viii

DANH MỤC BẢNG
Số bảng Tên bảng Trang

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page ix

4.18 Tình hình dân số trên địa bàn nghiên cứu 93
DANH MỤC HÌNH
Số hình Tên hình Trang3.1 Bản đồ hành chính Thị xã Từ Sơn 35
3.2 Cơ cấu kinh tế giai đoạn đoạn 2011 – 2013 44
4.1 Tỷ lệ giao dịch (mượn – cho mượn) phân theo thời gian trao đổi 71
4.2 Sự thay đổi diện tích đất trồng cây trước và sau khi trao đổi đất 84 Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 1

PHẦN I
ĐẶT VẤN ĐỀ

1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Cũng giống như nhiều nơi trên thế giới, đất đai và các hoạt động liên quan
đến đất đai luôn là vấn đề cơ bản trong lịch sử cũng như sự phát triển của Việt
Nam. Cung cách sở hữu đất đai, sự thừa kế đất đai qua các thế hệ luôn có những
ảnh hưởng sâu sắc đến kinh tế, xã hội và chính trị của mỗi quốc gia. Sự phát triển
nông nghiệp Việt Nam trong suốt thời kỳ dài phụ thuộc vào sự sử dụng có hiệu
quả hay không nguồn lực đất đai và những chính sách có liên quan đến đất đai,
thị trường đất đai, các đầu vào và nguồn lực tương ứng (Marsh S.P và cs., 2007)
Đã có nhiều chính sách được Nhà nước đưa ra liên quan đến đất đai.

mức sống cho cư dân nông thôn; Tăng cường quản lý tài nguyên thiên nhiên
giảm phát thải khí nhà kính và các tác động tiêu cực khác đối với môi trường,
nâng tỷ lệ che phủ rừng toàn quốc. Nhiều bàn luận và chính sách được các nhà
khoa học đưa ra. Trong đó chính sách đất đai được quan tâm hơn cả. Một trong
nội dung của chính sách đất đai là : Đẩy mạnh quá trình tập trung đất nông
nghiệp thông qua dồn điền, đổi thửa.
Thị xã Từ Sơn – tỉnh Bắc Ninh là vùng đất giàu văn hóa với nhiều làng
nghề truyền thống còn phát triển thịnh vượng đến bây giờ. Ở Đồng Kỵ, Phù Khê,
Hương Mạc có nghề làm đồ gỗ, mỹ nghệ; ở Châu Khê, Đình Bảng, Đa Hội có
nghề gia công sắt thép; nghề dệt ở Tương Giang, Tân Hồng; nghề xây dựng ở
Đồng Nguyên, Tương Giang. Sự phát triển của các làng nghề đã thu hút hàng vạn
lao động ở địa phương góp phần đáng kể trong công tác giải quyếtviệc làm, nâng
cao thu nhập cho người nông dân. Do có nguồn thu nhập đáng kể từ hoạt động
ngành nghề nên nhiều hộ gia đình không còn mặn mà với sản xuất nông nghiệp.
Nhiều hộ làm nghề đã cho các hộ khác thuê hay mượn hay đổi ruộng của mình.
Có thể nói hoạt động trao đổi đất nông nghiệp đã và đang diễn ra trong các làng
nghề ở Từ Sơn với nhiều hình thức khác nhau. Khác với các địa phương khác ở
nước ta, thị xã Từ Sơn không có chủ trương dồn điền đổi thửa. Tuy nhiên, thông
qua hoạt động trao đổi đất giữa các hộ nông dân, đất nông nghiệp có thể được
chuyển từ các hộ chuyên nghề hoặc kiêm nghề về những hộ gia đình thuần nông.
Nhưng đây là vấn đề chưa được quan tâm nghiên cứu trong thời gian qua. Tình
hình trao đổi đất nông nghiệp ở các làng nghề Từ Sơn đang diễn ra như thế nào, Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 3

những hình thức trao đổi đất chủ yếu hiện nay ra sao; giá cả và phương thức trao
dổi đất giữa các hộ như thế nào? Trao đổi đất giữa các hộ có giúp cho nâng cao
hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trong các làng nghề hay không? Trao đổi đất


Đối tượng nghiên cứu gián tiếp là các chính sách, cơ chế có liên quan đến
các hoạt động trao đổi đất nông nghiệp trên địa bàn nghiên cứu.
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nội dung: Tập trung chủ yếu vào nghiên cứu sự tham gia của các
hộ nông dân ở các làng nghề thị xã Từ Sơn vào các hoạt động trao đổi đất nông
nghiệp, hình thức trao đổi, giá cả, phương thức thanh toán, thời gian trao đổi.
Phạm vi thời gian:
- Thời gian thực hiện đề tài dự kiến từ tháng 3/2014 đến tháng 4/2015.
- Thời gian thu thập số liệu: Số liệu được dùng cho nghiên cứu được lấy từ
năm 2010 đến nay.
Phạm vi không gian: Đề tài được thực hiện tại Thị xã Từ Sơn tỉnh Bắc Ninh.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 5

PHẦN II
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

2.1 Cơ sở lý luận về hoạt động trao đổi đất nông nghiệp giữa các hộ nông
dân trong làng nghề
2.1.1. Khái niệm, vai trò, nguyên tắc quản lý và sử dụng đất nông nghiệp
2.1.1.1. Khái niệm
Theo Điều 13 Luật Đất đai (2003), tổng diện tích đất tự nhiên được chia
thành 3 nhóm lớn là: nhóm đất nông nghiệp, nhóm đất phi nông nghiệp, nhóm
đất chưa sử dụng. Trong đó đất nông nghiệp theo phân loại của Luật đất đai năm
2003 bao gồm: (1) Đất trồng cây hàng năm gồm đất trồng lúa, đất đồng cỏ dùng
vào chăn nuôi, đất trồng cây hàng năm khác; (2) Đất trồng cây lâu năm; (3) Đất

Đất đai là tư liệu sản xuất chủ yếu, đặc biệt và không thể thay thế. Đất đai
là điều kiện vật chất chung nhất đối với mọi ngành sản xuất và hoạt động của con
người, vừa là đối tượng lao động (cho môi trường để tác động) vừa là phương
tiện lao động (mặt bằng cho sản xuất, dùng để gieo trồng, nuôi gia súc… (Nguyễn
Hữu Ngữ, 2010).
Trong bối cảnh khan hiếm đất đai ở Đông Á và Đông Nam Á, đất càng trở
nên có vai trò quyết định đối với sinh kế nông dân. Tài sản của nông dân quyết định
các hoạt động tạo ra sinh kế. Vốn tự nhiên có vai trò rất quan trọng trong việc chọn
lựa các chiến lược sinh kế, trong đó đất đai là nguồn lực tự nhiên quan trọng nhất,
đặc biệt đối với người nghèo, vốn phụ thuộc rất nhiều vào nguồn lực này. Đối với
hầu hết người nghèo ở nông thôn, đất đai là phương tiện chủ yếu tạo ra sinh kế, tự
cung tự cấp, thu nhập và là nguồn tạo ra việc làm cho lao động gia đình, là nguồn
tạo ra của cải và chuyển của cải này cho thế hệ sau. Đất đai là nguồn lực quan trọng
bên cạnh các tài sản sinh kế khác như lao động, vốn con người, là tài sản bảo đảm
tạo ra thu nhập và là tài sản thế chấp chủ yếu để tiếp cận tín dụng.
Ở các nước đang phát triển, đất đai đóng vai trò trung tâm trong sinh kế
nông thôn, vì đóng góp phần quan trọng trong danh mục tài sản của hộ gia đình
nông thôn ( Trần Tiến Khai, 2011).
2.1.1.3. Nguyên tắc quản lý và sử dụng đất nông nghiệp.
a. Đất đai phải có chủ thể quản lý , sử dụng hiệu quả và bền vững Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 7

Nguyên tắc này đòi hỏi mọi tài nguyên đất phải có chủ thể quản lý rõ
ràng. Xác định rõ chủ thể quản lý, đất đai sẽ được sử dụng hiệu quả và bền vững.
Việc xác định chủ thể quản lý đất đai là vô cùng quan trọng trong việc khuyến
khích nông dân đầu tư trên mảnh đất của mình (Đỗ Kim Chung, 2009).
b. Đất đai phải được sử dụng đầy đủ và hợp lý

chủ thể quản lý và sử dụng khác, tuy nhiên những nguyên tắc quản lý và sử dụng
đất nông nghiệp vẫn không thay đổi. Thực tế nước ta đã cho thấy, khi phong trào
hợp tác hóa đẩy mạnh, người nông dân lo chăm chút sức lực cho mảnh đất 5%
(đất dành cho các hộ sản xuất thức ăn chăn nuôi), vì miếng ruộng này đảm bảo
60 – 65% thu nhập cho đời sống gia đình trong khi phần lớn ruộng đất công bị bỏ
trễ, sử dụng kém hiệu quả (Đặng Kim Sơn, 2006). Ngày nay, khi hoạt động trao
đổi đất nông nghiệp giữa các hộ nông dân diễn ra mạnh mẽ, các hoạt động như
mua và đi thuê đòi hỏi người nông dân phải bỏ ra số tiền không nhỏ thì việc xác
định rõ chủ thể quản lý, sử dụng đất sẽ tạo động lực giúp người nông dân đầu tư,
mở rộng hoặc chuyển đổi sản xuất. Ngoài ra, đất đai sau khi được trao đổi không
chỉ cần được sử dụng hết mà còn phải được sử dụng phù hợp với trình độ quản
lý, sử dụng của chủ thể mới, phù hợp với đặc điểm kinh tế - kỹ thuật của loại đất,
phù hợp với nhu cầu thị trường. Đất nông nghiệp sau khi thuộc về hộ nông dân
khác phải đảm bảo được năng suất, đem lại lợi ích lâu dài cho người sử dụng…
2.1.2.Cơ sở lý luận về hoạt động trao đổi đất nông nghiệp
2.1.2.1.Khái niệm hoạt động trao đổi đất nông nghiệp
Trao đổi là hành động có được thứ mà mình muốn từ một người khác bằng
cách trao lại cho họ một thứ gì đó. Khái niệm trao đổi trong kinh tế xuất hiện
nhiều nhất trong Marketing và là khái niệm cơ bản, quan trọng nhất của
Marketing. Trao đổi là tiến trình đạt được một sản phẩm từ một người nào đó
thông qua việc đưa ra một vật gì đó nhằm trao đổi. Để khả năng trao đổi tồn tại,
năm điều kiện cơ bản phải được thỏa mãn: (1) Có ít nhất 2 bên thành phần tham
gia; (2) Mỗi bên phải có một thứ gì đó có giá trị đối với bên kia; (3) Mỗi bên đều
có khả năng trao đổi và truyền tải; (4) Mỗi bên được tự do trong việc chấp thuận
hay từ chối sự trao đổi; (5) Mỗi bên tin tưởng rằng có sự hợp lý và mong muốn
khi thương lượng với bên kia. Khi hai bên đồng ý thỏa thuận trao đổi và nếu như
họ có thể thương thuyết với nhau - cố đạt được những điều kiện thích hợp thỏa Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

Thông thường hoạt động đổi ruộng diễn ra khi xuất hiện hộ nông dân muốn dồn Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 10

ghép nhiều thửa ruộng nhỏ thành một hay một vài số thửa ruộng lớn hơn. Đổi
ruộng cũng có thể liên quan đến quy hoạch và thiết kế lại ô thửa, giao thông và
thủy lợi nội đồng. Hộ nông dân tham gia vào đổi ruộng không mất đi về ruộng
đất mà giá trị ruộng đất vẫn giữ nguyên, chỉ có sự thay đổi về diện tích, vị trí, số
thửa. Nguyên tắc cơ bản của đổi ruộng là nguyên tắc bằng giá, nghĩa là các diện
tích đổi với nhau phải cùng cấp độ hay cùng một giá trị (Đỗ Kim Chung, 2000).
2.1.2.3. Thời gian trao đổi
Thời gian trao đổi được thỏa thuận giữa hai bên tham gia. Trong đó hoạt
động thuê – cho thuê, mượn – cho mượn ruộng đất có thể diễn ra trong một vụ,
một năm hoặc vài ba năm. Riêng với hoạt động mua – bán ruộng đất, đổi ruộng,
thời gian trao đổi dài hơn các hoạt động kia nhưng bị giới hạn bởi thời gian giao
đất cho hộ gia đình được quy định bởi Luật đất đai. Thời hạn giao đất trồng cây
hàng năm, đất nuôi trồng thủy sản, đất làm muối là hai mươi năm, thời hạn giao
đất trồng cây lâu năm, đất rừng sản xuất là năm mươi năm (Luật đất đai, 2003).
Như vậy nếu hộ gia đình chuyển nhượng quyền sử dụng đất nông nghiệp cho hộ
gia đình khác, thì tùy vào mục đích sử dụng mà thời gian trao đổi tối đa là hai
mươi năm hoặc năm mươi năm.
2.1.2.4. Phương thức thanh toán
Phương thức thanh toán trong các hoạt động trao đổi đất nông nghiệp
thường là tiền mặt hoặc hiện vật. Thanh toán bằng tiền mặt là phổ biến trong hoạt
động mua – bán, thuê – cho thuê ruộng đất. Do trong hoạt động mua – bán ruộng
đất, giá trị trao đổi là khá cao, ngoài ra còn liên quan đến các vấn đề pháp lý nên
hộ nông dân ưa chuộng tiền mặt hơn và thường thanh toán ngay đầu vụ. Đối với
hoạt động thuê – cho thuê, thời hạn trao đổi xác định trong khoảng vài năm, diện

tâm đầu tư vào ruộng đất. Hình thức hợp đồng trong hoạt động thuê – cho thuê
đất nông nghiệp khá đa dạng. Tùy thuộc vào mối quan hệ giữa hai bên trao đổi,
nếu như mối quan hệ đó là anh em thì hợp đồng có thể chỉ là giao kèo bằng
miệng hoặc văn bản viết tay, nếu mối quan hệ là người ngoài thì hợp đồng
thường được công chứng bởi nhà nước. Đối với hình thức đổi ruộng, nếu việc đổi
ruộng do địa phương đứng ra tổ chức, người dân bàn bạc thảo luận, thường liên
quan đến quy hoạch hệ thống giao thông nội đồng, thủy lợi thì văn bản do chính
quyền địa phương làm; nếu việc đổi ruộng do hộ gia đình thực hiện với nhau thì
văn bản hợp đồng có thể viết tay hoặc hợp đồng có công chứng của nhà nước. Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 12

2.1.2.6. Tác dụng của hoạt động trao đổi đất nông nghiệp đối với sản xuất nông nghiệp
a. Tăng cường sự tập trung và tích tụ ruộng đất trong nông thôn
Đất đai manh mún là một trong những vấn đề lớn của các nước đang phát
triển trên toàn thế giới, sự gia tăng dân số nông thôn một cách nhanh chóng đi
kèm với chính sách thừa kế hiện tại làm đất đai ngày càng bị chia nhỏ. Việt Nam
hiện là một trong những nước có mức độ manh mún đất đai rất cao theo tiêu
chuẩn của thế giới, số liệu thống kê năm 2004 cho thấy nước ta có khoảng 75 -
100 triệu mảnh đất, trung bình một hộ sở hữu 5 mảnh khác nhau và khoảng 10%
số mảnh đất có diện tích nhỏ hơn 100m
2
. Diện tích đất canh tác trung bình của
một hộ khác nhau giữa các vùng, tuy nhiên hầu hết các hộ nông thôn Việt Nam
có diện tích đất ít hơn 1 héc ta, một số tỉnh như Hà Tây cũ diện tích đất nông
nghiệp trung bình của một hộ chỉ là 2400m2. Đất đai manh mún có tác động rất
xấu lên năng suất và tăng trưởng nông nghiệp, nó cản trở việc áp dụng các
phương tiện cơ giới như máy cày hay máy gặt, đồng thời làm giảm khả năng phát

tài nguyên đất trong nông nghiệp. Khi nông dân trả tiền cho việc sử dụng đất, anh
ta phải sử dụng đất có hiệu quả hơn và sẵn sàng không sử dụng nó, nhượng cho
người khác khi anh ta làm ăn kém hiệu quả. Chỉ khi nào có cơ chế cạnh tranh,
các thửa ruộng mới được những người nông dân thích hợp canh tác dưới phương
thức sử dụng có lợi nhất (Đỗ Kim Chung, 2000). Như vậy cơ chế thị trường về đất
đai sẽ tạo ra và thúc đẩy quá trình chuyên môn hóa theo hộ, thúc đẩy phân công
lao động và đa dạng hóa kinh tế nông thôn. Nếu như việc trao đổi đất được được
thực hiện đúng với quy luật thị trường, hay nói cách khác là lấy giá thị trường
hơn là cơ sở để tính đổi hơn là thuần túy dựa vào chỉ tiêu nông hóa, thổ nhưỡng
thì thị trường đất nông nghiệp sẽ phát triển mạnh.
c. Thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp
CNH – HĐH nông nghiệp là quá trình chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp
theo hướng sản xuất hàng hóa quy mô lớn (Đỗ Kim Chung, 2009). Các hoạt động
như: thuê và cho thuê, mua – bán, đổi ruộng, ….giúp quá trình tích tụ đất nông
nghiệp diễn ra nhanh hơn và quy mô sản xuất lớn hơn. Từ đó tạo điều kiện đưa
thiết bị kỹ thuật và công nghệ hiện đại vào các khâu sản xuất nông nghiệp, thực
hiện cơ khí hóa, điện khí hóa, thủy lợi hóa, ứng dụng khoa học kỹ thuật, nhất là
công nghệ sinh học nhằm nâng cao chất lượng, năng suất, giảm bớt giá thành,
nâng sức cạnh tranh của sản phẩm nông nghiệp. Ngoài ra, các hoạt động trao đổi Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 14

đất nông nghiệp giúp tập trung ruộng đất, cho phép chính quyền địa phương dễ
dàng cải tạo hệ thống hạ tầng phục vụ nông nghiệp mà trước đây chưa làm được
do những mảnh ruộng quá bé và bố trí không thuận lợi.
d. Những tác dụng khác của hoạt động trao đổi đất nông nghiệp giữa các
hộ nông dân
Ngoài những tác dụng tích cực ở trên, hoạt động trao đổi đất có thể góp


2.1.3. Các yếu tố ảnh hưởng tới hoạt động trao đổi đất nông nghiệp
2.1.3.1. Các chính sách liên quan đến quyền sở hữu và sử dụng đất nông nghiệp.
Việt Nam bắt đầu con đường cải cách kinh tế của mình bằng việc ban
hành chính sách đổi mới vào năm 1986. Mục tiêu của chính sách đổi mới là
chuyển nền kinh tế Việt Nam từ mô hình kế hoạch hóa, tập trung sang nền kinh
tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Trong lĩnh vực nông nghiệp, nghị
quyết 10 của Bộ chính trị năm 1988 là bước ngoặt cơ bản. Nội dung chính của
chính sách này là công nhận hộ nông dân là một đơn vị kinh tế tự chủ, tự do hóa
thị trường đầu vào và đầu ra của sản xuất cũng như các tư liệu sản xuất khác
(ngoại trừ đất đai) và giao đất sử dụng ổn định, lâu dài cho người dân. Chính
sách này dẫn đến xóa bỏ hợp tác hóa trong nông nghiệp. Cũng theo chính sách
này, nông dân được giao đất nông nghiệp trong 15 năm và ký hợp đồng sử dụng
các đầu vào, sử dụng lao động và sản phẩm mà họ sản xuất ra. Các chỉ tiêu trong
hợp đồng được ổn định trong 5 năm. Hơn nữa hầu hết các tư liệu sản xuất (máy
móc, trâu bò và các công cụ khác) được coi là sở hữu tư nhân. Tuy nhiên, thời
gian giao đất còn quá ngắn và một số quyền sử dụng đất chưa được luật pháp
hóa. Điều này dẫn đến nông dân có thể ít có động cơ đầu tư dài hạn trên đất
(Marsh S.P và cs.,2007).
Luật đất đai (1993) ra đời đã giải quyết được những vấn đề trên. Theo luật
này nông dân được giao đất ổn định và lâu dài. Họ được giao 5 quyền sử dụng
đất bao gồm: quyền chuyển nhượng, trao đổi, cho thuê, thừa kế và thế chấp. Luật
đất đai cũng khẳng định đất giao cho hộ nông dân được pháp luật công nhận với
thời hạn quyền sử dụng đất cây hàng năm và nuôi trồng thủy sản là 20 năm, đất
cây lâu năm là 50 năm. Mức hạn điền cũng được đặt ra cho từng vùng khoảng từ
2 – 3 ha đối với đất cây hàng năm và 10 ha với đất cây lâu năm vùng đồng bằng
và 30 ha đối với vùng miền núi (Luật đất đai, 1993). Luật sửa đổi năm 1998 đã
thêm 2 quyền nữa là người sử dụng đất nông nghiệp có quyền cho thuê lại và góp
vốn kinh doanh. Vào năm 1998, chính phủ đã đề ra chính sách khuyến khích
nông dân đổi ruộng cho nhau để tạo thành những mảnh ruộng có diện tích lớn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status