TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA KINH TẾ - QUẢN TRỊ KINH DOANH
NGUYỄN THỊ DIỄM KIỀU PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG
VIỆC SỬ DỤNG THỨC ĂN ĐƯỜNG PHỐ
TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN NINH KIỀU
TP. CẦN THƠ
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Ngành Quản trị kinh doanh Thương mại
Mã số ngành: 52340101
Năm 2014
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA KINH TẾ - QUẢN TRỊ KINH DOANH
tiễn để có thể hoàn thành tốt đề tài luận văn tốt nghiệp: “Phân tích các yếu tố
ảnh hưởng đến việc sử dụng thức ăn đường phố trên địa bàn quận Ninh
Kiều, Thành phố Cần Thơ”
Em xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ và hướng dẫn nhiệt tình của quý
Thầy Cô khoa Kinh tế - Quản trị kinh doanh, đặc biệt em xin chân thành cảm
ơn sâu sắc đến Cô Nguyễn Tri Nam Khang, đã trực tiếp hướng dẫn em trong
suốt thời gian làm đề tài luận văn tốt nghiệp.
Tuy nhiên, do sự hạn hẹp về kiến thức và kinh nghiệm cho nên đề tài này
không tránh khỏi những sai sót và khuyết điểm. Em rất mong nhận được sự
đóng góp quý báu của quý Thầy Cô để đề tài này được hoàn chỉnh hơn.
Cuối cùng em xin chúc quý Thầy Cô dồi dào sức khỏe và luôn thành
công trong công việc của mình! Em xin chân thành cảm ơn!
Cần Thơ, ngày …. tháng … năm 2014
Người thực hiện NGUYỄN THỊ DIỄM KIỀU
ii
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam kết luận văn này được hoàn thành dựa trên các kết quả
nghiên cứu của tôi và các kết quả nghiên cứu này chưa được dùng cho bất cứ
luận văn cùng cấp nào khác.
Cần Thơ, ngày …. tháng … năm 2014
Người thực hiện NGUYỄN THỊ DIỄM KIỀU
iv
Trang
3.1.3 Cơ sở hạ tầng 22
3.1.4 Tình hình kinh tế 24
3.2 Tổng quan về thị trường thức ăn đường phố trên địa bàn TP. Cần Thơ 26
3.2.1 Giới thiệu các quán ăn lề đường trên địa bàn TP. Cần Thơ 26
3.2.2 Những mặt tích cực và tiêu cực trong kinh doanh thức ăn đường phố
trên địa bàn TP. Cần Thơ 27
CHƯƠNG 4: PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC SỬ
DỤNG THỨC ĂN ĐƯỜNG PHỐ TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ CẦN
THƠ 30
4.1 Mô tả chung về mẫu điều tra 30
4.1.1 Giới tính 30
4.1.2 Độ tuổi 30
4.1.3 Trình độ học vấn 31
4.1.4 Nghề nghiệp 32
4.1.5 Thu nhập 32
4.2 Thực trạng sử dụng thức ăn đường phố trên địa bàn TP. Cần Thơ 33
4.2.1 Mức độ sử dụng thức ăn đường phố của người dân 33
4.2.2 Thời gian sử dụng thức ăn đường phố của người dân 34
4.2.3 Đối tượng đi cùng khi sử dụng thức ăn đường phố của người dân 34
4.2.4 Số tiền chi tiêu trung bình khi sử dụng thức ăn đường phố của người
dân 35
4.2.5 Kênh thông tin về các quán ăn lề đường 36
4.2.6 Đánh giá chất lượng dịch vụ ăn uống tại các quán ăn lề đường của
người dân 36
4.3 Kiểm định mối quan hệ giữa các đặc điểm nhân khẩu học với mức độ hài
lòng khi sử dụng thức ăn đường phố 38
PHỤ LỤC 1 53
PHỤ LỤC 2 56
vi
DANH SÁCH BẢNG
Trang
Bảng 1.1 Tóm tắt các yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu sử dụng thức ăn đường
phố từ những nghiên cứu trước 5
Bảng 3.1 Các đơn vị hành chính của Thành phố Cần Thơ 22
Bảng 4.1 Mức độ sử dụng thức ăn đường phố của người dân 33
Bảng 4.2 Số tiền chi tiêu trung bình khi sử dụng thức ăn đường phố 35
Bảng 4.3 Kiểm định sự khác biệt giữa mức độ hài lòng khi sử dụng thức ăn
đường phố và giới tính 38
Bảng 4.4 Kiểm định sự khác biệt giữa mức độ hài lòng khi sử dụng thức ăn
đường phố và độ tuổi 38
Bảng 4.5 Kiểm định sự khác biệt giữa mức độ hài lòng khi sử dụng thức ăn
đường phố và trình độ học vấn 39
Bảng 4.6 Kiểm định sự khác biệt giữa mức độ hài lòng khi sử dụng thức ăn
đường phố và nghề nghiệp 39
Bảng 4.7 Kiểm định sự khác biệt giữa mức độ hài lòng khi sử dụng thức ăn
đường phố và thu nhập 40
Bảng 4.8 Bảng mô tả mức độ quan trọng của các yếu tố ảnh hưởng đến việc sử
dụng thức ăn đường phố của người dân Thành phố Cần Thơ 41
Bảng 4.9 Kiểm định độ tin cậy của thang đo 43
Bảng 4.10 Bảng ma trận tương quan giữa các biến 45
Bảng 4.11 Bảng ma trận hệ số nhân tố 46
vii
DANH SÁCH HÌNH
Trang
vỉa hè vừa thưởng thức những món ăn đường phố vừa nói chuyện rôm rả.
Chúng được bày bán la liệt trên các xe đẩy, các gánh hàng rong cũng như
những chiếc xe bán hàng di động hay trong những gian hàng dựng tạm bợ.
Tại nhiều nước trên thế giới, ẩm thực đường phố đã thu hút một lượng
lớn khách du lịch tới thưởng thức bởi sự đa dạng, phong phú về thực đơn đặc
biệt này cũng như sự ngon, bổ, rẻ, tiện lợi của chúng. Tại Việt Nam, thức ăn
đường đã trở thành nét văn hóa riêng của cộng đồng người Việt. Nó phản ánh
lối sống và sự phát triển xã hội ở Việt Nam. Việc sử dụng thức ăn đường phố
đã trở thành một thói quen không thể thiếu của nhiều người Việt Nam. “Theo
số liệu điều tra của Trung tâm Dinh dưỡng Thành phố Hồ Chí Minh, thì có tới
95,5% người dân ở Thành phố Hồ Chí Minh đang sử dụng thức ăn đường phố,
trong đó có 51% người dân dùng làm bữa ăn hàng ngày, 82% người dân dùng
làm bữa ăn sáng”
1
Qua đó có thể thấy được nhu cầu sử dụng thức ăn đường phố của người
dân là rất cần thiết. Để nắm rõ hơn vấn đề này, đề tài: “Phân tích các yếu tố
ảnh hưởng đến việc sử dụng thức ăn đường phố trên địa bàn quận Ninh
Kiều, Thành phố Cần Thơ” được thực hiện nhằm giúp các chủ kinh doanh
thực hiện chiến lược marketing cho các mặt hàng kinh doanh của mình tốt
hơn.
1
Theo Chu Thị Hồng Anh (2013)
2
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1.2.1 Mục tiêu chung
3
1.4.2 Thời gian
- Đề tài nghiên cứu được thực hiện trong khoảng thời gian từ ngày 01
tháng 01 năm 2014.
- Số liệu sơ cấp sử dụng trong đề tài nghiên cứu được thu thập từ tháng
03 năm 2014.
- Số liệu thứ cấp được sử dụng trong đề tài nghiên cứu từ năm 2009 đến
cuối năm 2013.
1.4.3 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là tất cả người dân đang sinh sống và có
sử dụng thức ăn đường phố trên địa bàn quận Ninh Kiều, Thành phố Cần Thơ.
1.5 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU
Trần Phạm Đỗ Hiền, Lê Quang Viết (2012), “Giải pháp nâng cao
chất lượng dịch vụ thức ăn đường phố tại thành phố Cần Thơ”, Đại học Cần
Thơ. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là phân tích thực trạng kinh doanh và
đánh giá mức độ hài lòng của người tiêu dùng về dịch vụ thức ăn đường phố,
từ đó đề ra giải pháp nâng cao chất lượng dịch vụ thức ăn đường phố tại
Thành phố Cần Thơ. Tác giả sử dụng phương pháp thống kê mô tả để khái
quát và phân tích thực trạng kinh doanh thức ăn đường phố tại Thành phố Cần
Thơ. Bên cạnh đó, tác giả sử dụng mô hình hồi quy để đánh giá chất lượng
dịch vụ thức ăn đường phố tại Thành phố Cần Thơ. Kết quả nghiên cứu mức
độ hài lòng đối với dịch vụ thức ăn đường phố tại Thành phố Cần Thơ đã cho
thấy, loại hình dịch vụ này đang có được sự hài lòng tích cực từ phía khách
hàng. Kinh doanh thức ăn đường phố tại Thành phố Cần Thơ đang có sự ổn
định và có nguồn khách hàng dồi dào, trung thành mà ít có loại hình kinh
doanh dịch vụ thức ăn nào đạt được.
Lê Nguyễn Tố Quyên, Huỳnh Nhựt Phương (2013), “Phân tích nhu
Cần Thơ, và sử dụng phương pháp phân tích nhân tố, hồi quy tuyến tính để
đánh giá mức độ hài lòng của khách hàng đối với dịch vụ này. Nghiên cứu cho
thấy, khách hàng chỉ hài lòng ở mức độ trung bình đối với dịch vụ ăn uống
trong hệ thống nhà hàng. Trong đó các yếu tố đưa vào mô hình đều có tác
động thuận chiều đến sự hài lòng của khách hàng. Nhân tố mức độ tin cậy có
tác động mạnh nhất và nhân tố mức độ đồng cảm có tác động thấp nhất đến sự
hài lòng.
Nguyễn Đình Uông và các tác giả (2009), “Ý tưởng nhà ăn cho sinh
viên”, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh. Mục tiêu nghiên cứu của đề
tài là tìm hiểu thực trạng và những yếu tố tác động tới việc lựa chọn địa điểm
ăn uống của sinh viên, thu thập những thông tin về nhu cầu và nhận xét của
sinh viên về ý tưởng nhà ăn cho sinh viên, từ đó xây dựng và hoàn thiện ý
tưởng. Tác giả sử dụng phương pháp thống kê mô tả để khái quát thực trạng
các quán ăn theo ý kiến của sinh viên và xác định các yếu tố ảnh hưởng đến
việc lựa chọn quán ăn của sinh viên. Sử dụng hàm hồi qui đơn bội để xem xét
mối quan hệ giữa thu nhập và việc chi tiêu cho ăn uống của sinh viên. Qua
nghiên cứu cho thấy, chất lượng bữa ăn là yếu tố quan trọng nhất và thực trạng
hiện nay là các quán ăn vẫn chưa thể đáp ứng được vấn đề an toàn vệ sinh
thực phẩm cho sinh viên. Việc thành lập nhà ăn cho sinh viên là cần thiết, và ý
tưởng của đề tài là khả thi và có thể mang lại lợi nhuận.
5
Kết luận:
Qua việc lược khảo các nghiên cứu, các bài báo khoa học và các tham
luận trong Hội thảo khoa học: “Đề xuất một số giải pháp bán hàng rong tại
quận Ninh Kiều, Thành phố Cần Thơ”, tác giả đã rút ra được việc phân tích
nhu cầu sử dụng thức ăn đường phố của người dân trên địa bàn Thành phố
Cần Thơ là cần thiết. Dưới đây là một số yếu tố ảnh hưởng đến việc sử dụng
thức ăn đường phố mà tác giả đã học tập được từ những nghiên cứu trước.
Có dịch vụ giữ xe thuận
tiện
Phân tích nhu cầu của
người dân Thành phố Cần
Thơ về việc tập trung các
quán ăn lề đường thành
khu phố ăn uống (Lê
Nguyễn Tố Quyên – 2013)
Giá cả Giá cả phải chăng
Phong cách phục vụ
Nhân viên phục vụ nhiệt
tình
Vệ sinh an toàn
thực phẩm
Đảm bảo được vệ sinh an
toàn thực phẩm
Có dịch vụ để xe
Vẫn còn tình trạng lấn
chiếm lòng lề đường.
6
Tên đề tài nghiên cứu Yếu tố Kết quả
Giải pháp nâng cao chất
lượng dịch vụ thức ăn
đường phố tại Thành phố
Cần Thơ (Trần Phạm Đỗ
của đáp viên
Qua bảng trên ta thấy các yếu tố như giá cả, vấn đề vệ sinh an toàn thực
phẩm, phong cách phục vụ, dịch vụ để xe… ảnh hưởng rất lớn đến nhu cầu sử
dụng thức ăn của người dân. Mặt khác ăn uống thuộc về sản phẩm dịch vụ, do
đó muốn xác định rõ nhu cầu của người dân khi sử dụng dịch vụ ăn uống tại
các quán ăn lề đường thì ta phải biết được đâu là những yếu tố thể hiện chất
lượng dịch vụ của quán mà có tác động trực tiếp đến nhu cầu ăn uống tại các
quán ăn lề đường của người dân vì hai yếu tố này cùng tác động qua lại và hỗ
trợ cho nhau. Một số yếu tố để đo lường chất lượng dịch vụ tại các quán ăn lề
đường được thể hiện thông qua: phương tiện hữu hình (chất lượng dinh dưỡng
của thức ăn, mức độ nổi tiếng của quán ăn, vị trí quán ăn có dễ tìm hay không,
các quán ăn có thường xuyên có món mới hay không, có sự quảng bá về thức
ăn hay không…), năng lực phục vụ và mức độ đáp ứng cũng như sự cảm
thông và giá cả…
7
CHƯƠNG 2
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN
2.1.1 Những vấn đề cơ bản về thức ăn đường phố
2.1.1.1 Khái niệm và phân loại các quán ăn lề đường
a) Khái niệm
Theo Wikipedia, thức ăn đường phố hay thức ăn vỉa hè, thức ăn lề đường
là các loại thức ăn, đồ uống đã chế biến sẵn hay sẵn sàng chế biến và phục vụ
tại chỗ theo yêu cầu của khách hàng, được bày bán trên vỉa hè, lề đường ở các
đường phố, khu phố đông người hoặc những nơi công cộng khác, chẳng hạn
như siêu thị, công viên, khu du lịch, điểm giải trí, khu phố ăn uống ngoài trời
Thông thường thức ăn đường phố được bày bán trên các tiệm ăn di động, quán
- Những người sở hữu một quán nhỏ, cửa hàng và bán sản phẩm của họ
trên vỉa hè
Phân loại theo thời gian bán hàng:
- Thức ăn đường phố bán cả ngày: Bánh, kẹo, nước giải khát
- Thức ăn đường phố bán hàng vào thời điểm nhất định trong ngày: phở,
miến, tiết canh, cháo, ốc luộc
2.1.1.2 Đặc trưng cơ bản của các quán ăn lề đường
Đặc điểm cơ bản để các quán ăn được gọi là quán ăn lề đường vì nó được
định vị trên các vỉa hè, lề đường. Các quán ăn lề đường, các quán hàng rong
không phải đăng kí giấy phép kinh doanh nhưng vẫn phải chấp hành các quy
định về việc quản lý hoạt động kinh doanh khách sạn, nhà trọ, nhà hàng, cửa
hàng ăn uống trên địa bàn thành phố.
Hầu hết các quán ăn lề đường thường phục vụ các món ăn tại chỗ và là
thức ăn nhanh. Thức ăn đường phố thường có chi phí ít hơn một bữa ăn trong
nhà hàng và nhanh chóng, tiện lợi, giá cả phải chăng nên sức cạnh tranh cao và
được tiêu thụ với số lượng lớn. Theo Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp
Liên Hiệp Quốc (FAO) thì khoảng 2,5 tỷ người ăn thức ăn đường phố mỗi
ngày
2
. Thức ăn đường phố có mối liên hệ mật thiết với Take-out, đồ ăn vặt
(hàng rong, quà vặt), đồ ăn nhẹ (snack), thức ăn nhanh, nó được phân biệt bởi
hương vị địa phương và được mua trên đường phố, mà không cần nhập bất kỳ
trụ sở hay công trình xây dựng gì.
Từ lâu, thức ăn đường phố là một nhu cầu của người dân đô thị, việc
phát triển các loại hình thức ăn đường phố là một nhu cầu tất yếu của xã hội,
đem lại nhiều thuận tiện cho người tiêu dùng. Việc tận dụng vỉa hè làm không
gian phục vụ ẩm thực ngày nay đã quá quen thuộc với các thành phố lớn, đặc
2
Theo Fao, “School kids ang street food”, 2007
Theo Hiệp hội Marketing Hoa Kỳ, hành vi khách hàng chính là sự tác
động qua lại giữa các yếu tố kích thích của môi trường với nhận thức và hành
vi của con người mà qua sự tương tác đó, con người thay đổi cuộc sống của
họ. Hay nói cách khác, hành vi khách hàng bao gồm những suy nghĩ và cảm
nhận mà con người có được và những hành động mà họ thực hiện trong quá
trình tiêu dùng. Những yếu tố như ý kiến từ những người tiêu dùng khác,
quảng cáo, thông tin về giá cả, bao bì, bề ngoài sản phẩm… đều có thể tác
động đến cảm nhận, suy nghĩ và hành vi của khách hàng.
10
Theo Kotler & Levy, hành vi khách hàng là những hành vi cụ thể của
một cá nhân khi thực hiện các quyết định mua sắm, sử dụng và vứt bỏ sản
phẩm hay dịch vụ.
Như vậy, qua hai định nghĩa trên, chúng ta có thể xác định hành vi khách
hàng là:
- Những suy nghĩ và cảm nhận của con người trong quá trình mua sắm
và tiêu dùng.
- Hành vi khách hàng là năng động và tương tác vì nó chịu tác động bởi
những yếu tố từ môi trường bên ngoài và có sự tác động trở lại đối với môi
trường ấy.
- Hành vi khách hàng bao gồm các hoạt động: mua sắm, sử dụng và xử
lý sản phẩm dịch vụ.
2.1.2.2 Tầm quan trọng của việc nghiên cứu hành vi của người tiêu
dùng
Nghiên cứu hành vi người tiêu dùng là một ngành nghiên cứu ứng dụng.
Trên cơ sở kiến thức nghiên cứu về hành vi người tiêu dùng, doanh nghiệp có
thể hoạch định chiến lược, lập kế hoạch kinh doanh trong từng thời kỳ nhất
định.
Như vậy, nghiên cứu hành vi người tiêu dùng giúp cho doannh nghiệp:
- Nâng cao tính cạnh tranh
- Triển khai sản phẩm mới
- Người mua thông qua quyết định mua sắm như thế nào?
Nguồn: Philip Kotler (2003), Quản trị Marketing, NXB Thống Kê
Hình 2.1 Mô hình hành vi của người tiêu dùng
2.1.2.6 Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi tiêu dùng
Các yếu tố văn hóa
- Nền văn hóa: Là yếu tố quyết định cơ bản nhất những mong muốn và
hành vi của một người. Một đứa trẻ khi lớn lên sẽ tích luỹ được một số những
Các tác
nhân
Marketing
Các tác
nhân
khác
Đặc
điểm của
người
mua
Quá trình quyết
định của người
mua
Quyết định của
người mua
tạo nên những đặc điểm đặc thù hơn và mức độ hòa nhập với xã hội cho
những thành viên của nó. Các nhánh văn hóa tạo nên những khúc thị trường
quan trọng, hành vi mua sắm của một cá nhân sẽ chịu ảnh hưởng của những
đặc điểm nhánh văn hóa của cá nhân đó.
- Tầng lớp xã hội: Hầu như tất cả các xã hội loài người đều thể hiện rõ sự
phân tầng xã hội, một hệ thống đẳng cấp theo đó những thành viên thuộc các
đẳng cấp khác nhau được nuôi nấng và dạy dỗ để đảm nhiệm những vai trò
nhất định. Các tầng lớp xã hội là những bộ phận tương đối đồng nhất và bền
vững trong xã hội, được xếp theo thứ bậc và gồm những thành viên có chung
những giá trị, mối quan tâm và hành vi.
Các yếu tố xã hội
- Nhóm tham khảo: Nhóm tham khảo của một người bao gồm những
nhóm có ảnh hưởng trực tiếp (mặt đối mặt) hay gián tiếp đến thái độ hay hành
vi của người đó. Những nhóm có ảnh hưởng trực tiếp đến một người gọi là
những nhóm thành viên. Đó là những nhóm mà người đó tham gia và có tác
động qua lại. Có những nhóm là nhóm sơ cấp, như gia đình, bạn bè, hàng xóm
láng giềng, và đồng nghiệp, mà người đó có quan hệ giao tiếp thường xuyên.
Các nhóm sơ cấp thường là có tính chất chính thức hơn và ít đòi hỏi phải có
quan hệ giao tiếp thường xuyên hơn.
- Gia đình:
Các thành viên trong gia đình là nhóm tham khảo quan trọng có ảnh
hưởng lớn nhất. Ta có thể phân biệt hai gia đình trong đời sống người mua.
Gia đình định hướng gồm bố mẹ của người đó. Do từ bố mẹ mà một người có
được một định hướng đối với tôn giáo, chính trị, kinh tế và một ý thức về tham
vọng cá nhân, lòng tự trọng và tình yêu. Ngay cả khi người mua không còn
quan hệ nhiều với bố mẹ, thì ảnh hưởng của bố mẹ đối với hành vi của người
mua vẫn có thể rất lớn.
Một ảnh hưởng trực tiếp hơn đến hành vi mua sắm hàng ngày là gia đình
riêng của người đó. Gia đình là một tổ chức mua hàng tiêu dùng quan trọng
nhất trong xã hội và nó đã được nghiên cứu rất nhiều năm. Những người làm
như một chiêu thức phân khúc thị trường
- Nhân cách và ý niệm về bản thân: Mỗi người đều có một nhân cách
khác biệt có ảnh hưởng đến hành vi của người đó. Ở đây nhân cách có nghĩa là
những đặc điểm tâm lý khác biệt của một người dẫn đến những phản ứng
tương đối nhất quán và lâu bền với môi trường của mình. Nhân cách thường
được mô tả bằng những nét như sự tự tin, tính độc lập, lòng tôn trọng, tính
chan hòa, tính kín đáo và tính dễ thích nghi. Nhân cách có thể là một biến hữu
ích trong việc phân tích hành vi của người tiêu dùng, vì rằng có thể phân loại
các kiểu nhân cách và có mối tương quan chặt chẽ giữa các kiểu nhân cách
nhất định với các lựa chọn sản phẩm và nhãn hiệu.
14
Các yếu tố tâm lý
- Động cơ: Tại bất kỳ một thời điểm nhất định nào con người cũng có
nhiều nhu cầu. Một số nhu cầu có nguồn gốc sinh học. Một số nhu cầu khác có
nguồn gốc tâm lý. Một nhu cầu sẽ trở thành động cơ khi nó tăng lên đến một
mức độ đủ mạnh. Một động cơ (hay một sự thôi thúc) là một nhu cầu đã có đủ
sức mạnh để thôi thúc người ta hành động. Việc thỏa mãn nhu cầu sẽ làm
giảm bớt cảm giác căng thẳng.
Tại những thời điểm khác nhau, người ta lại bị thôi thúc bởi những nhu
cầu khác nhau. Con người sẽ cố gắng thỏa mãn trước hết là những nhu cầu
quan trọng nhất. Khi người ta đã thoả mãn được một nhu cầu quan trọng nào
đó thì nó sẽ không còn là động cơ hiện thời nữa, và người ta lại cố gắng thỏa
mãn nhu cầu quan trọng nhất tiếp theo.
- Nhận thức: Một người có động cơ luôn sẵn sàng hành động. Vấn đề
người có động cơ đó sẽ hành động như thế nào trong thực tế còn chịu ảnh
hưởng từ sự nhận thức của người đó về tình huống lúc đó.
Nhận thức được định nghĩa là “một quá trình thông qua đó cá thể tuyển
chọn, tổ chức và giải thích thông tin tạo ra một bức tranh có ý nghĩa về thế
giới xung quanh”. Nhận thức không chỉ phụ thuộc vào những tác nhân vật lý,
mà còn phụ thuộc vào cả mối quan hệ của các tác nhân đó với môi trường
Nguồn: Ths. Nguyễn Quốc Nghi Và Ths. Lê Quang Viết (2010), Tài liệu hướng dẫn
học tập Hành Vi khách hàng, Khoa Kinh tế - Quản trị kinh doanh, Trường Đại học Cần Thơ
Hình 2.2 Mô hình quá trình quyết định của người mua
Nhận thức nhu cầu
Nhận thức nhu cầu diễn ra khi người tiêu dùng cảm thấy có sự khác biệt
giữa hiện trạng và mong muốn, mà sự khác biệt này đủ để gợi nên và kích hoạt
quá trình quyết định mua sắm của họ.
Tìm kiếm thông tin
Khi nhận ra nhu cầu, người tiêu dùng sẽ thực hiện việc tìm kiếm thông
tin. Thông thường ban đầu người tiêu dùng sẽ sử dụng những thông tin liên
quan từ trí nhớ (kinh nghiệm hoặc hiểu biết trước đây) - thông tin này được
gọi là thông tin bên trong. Nếu không có được những thông tin bên trong thì
người tiêu dùng sẽ tìm kiếm những thông tin bên ngoài (nguồn thông tin cá
nhân, thương mại, công cộng…) để giải quyết vấn đề. Nhận thức
nhu cầu
Tìm kiếm
thông tin
Đánh giá
lựa chọn
Quyết
định mua
Cân nhắc sau
5. Thức ăn hợp vệ sinh
6. Quán ăn hợp vệ sinh
7. Mức độ nổi tiếng của quán ăn
8. Quán ăn có vị trí dễ tìm
9. Có chỗ để xe, giữ xe
- Năng lực phục vụ và mức độ đáp ứng: