1
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI & NV
BỘ MÔN NGỮ VĂN
LÊ THỊ PHÍ
MSSV: 6106421 HIỆN THỰC XÃ HỘI LIÊN XÔ
TRONG TÁC PHẨM “NGHỆ NHÂN VÀ MARGARITA”
CỦA MIKHAIL AFANASIEVICH BULGACOV
Luận văn tốt nghiệp Đại học
Ngành Ngữ Văn Cán bộ hướng dẫn: ThS.GV. TRẦN VĂN THỊNH
2.2. Hiện thực về con người đại diện cho cái ác
2.2.1. Con người bị chi phối bởi sức mạnh của đồng tiền
2.2.2. Sự tha hóa quan chức trong xã hội Liên Xô
2.2.3. Con người mưu toan điều khiển người khác
2.2.4. Con người nô lệ của quyền lực
Chương 3. HIỆN THỰC VỀ NHỮNG VẤN ĐỀ TIÊU BIỂU TRONG XÃ HỘI
LIÊN XÔ NHỮNG NĂM 30 TRONG TÁC PHẨM “NGHỆ NHÂN VÀ
MARGARITA” CỦA MIKHAIL AFANASIEVICH BULGACOV
3.1. Vấn đề số phận và phần thưởng của nhà văn
3.2. Vấn đề duy lí của con người
3
3.3. Vấn đề tự do và trách nhiệm
3.4. Vấn đề về “Bản thảo không cháy”
3.5. Vấn đề tự do và trách nhiệm của “Người quản lí nghệ thuật”
C. PHẦN KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
MỤC LỤC
nguyên giá trị. Là một tác phẩm ít nhiều mang tính chất tự sự, nội dung tác phẩm
phản ánh bi kịch của chính cuộc đời tác giả đồng thời cũng là bi kịch của người nghệ
sĩ đương đại.
Tiếp cận tác phẩm Nghệ Nhân và Margarita của M.Bulgacov, chúng tôi nhận
thấy nhiều vấn đề mới lạ và hấp dẫn. Tác phẩm đã khẳng định được tài năng của
M.Bulgacov sau nhiều thăng trầm và gian khổ. Với những lý do trên, chúng tôi quyết
định chọn đề tài “Hiện thực xã hội Liên Xô trong tác phẩm Nghệ Nhân và Margarita
của M.Bulgacov” làm vấn đề khảo sát và nghiên cứu.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
M.Bulgacov là một trong những nhà văn lớn nhất và kì bí nhất của nước Nga
chính vì thế mối quan tâm đối với sự nghiệp sáng tác của M.Bulgacov mỗi ngày tăng
lên. Hầu hết tác phẩm của ông được in, tái bản, dịch, dựng phim,…không chỉ bó hẹp
trong phạm vi nước Nga mà ngày càng mở rộng trên thế giới.
5
Từ năm 1962 bắt đầu có sự “Lớn tiếng” của M.Bulgacov. Trong vòng chừng
dài năm, với một số (chưa phải là tất cả) tác phẩm được công bố, M.Bulgacov đã trở
thành “Hiện tượng” trong độc giả Xô Viết và vượt biên giới ra nước ngoài. Tuy
nhiên, giới phê bình chính thống, các giáo sư vẫn chưa đánh giá cao ông. Phải đến
thời “Cải tổ” cuối thập kỷ 80 M.Bulgacov mới thực sự hiện diện hết tầm cỡ của
mình. Tất cả những gì ông viết ra điều được in đi in lại, nhiều tác phẩm được dịch ra
nước ngoài, đưa lên sân khấu [6; tr.11].
Với Pandjikidze, một nhà văn nổi tiếng người Gruzia, nói M.Bulgacov “Đã
là người đương thời của cha ông chúng ta, đang là người đương thời với chúng ta và
sẽ là người đương thời với con cháu chúng ta”. Nhà văn Nga Leonid Lens khẳng
định: “Nhà văn đang sống và sẽ sống chừng nào còn tồn tại văn học Nga”. Còn
những người dự định xây “Điện panteon thế kỷ XX” ở Mĩ thì chọn đưa và tôn vinh ở
đó tác giả “Nghệ Nhân và Maragita” là một trong hai nhà văn Nga đã làm rạng danh
thời đại và đất nước mình [6; tr.26-27].
Trong Từ điển văn học bộ mới (2003), khi đề cập phong cách sáng tác trong
tác phẩm Nghệ Nhân và Margarita của M.Bulgacov, tác giả Đỗ Lai Thúy nhận định:
những giá trị to lớn và sức ảnh hưởng rộng rãi của tác phẩm thông qua bài nghiên
cứu.
Ở Việt Nam, việc tiếp nhận M.Bulgacov và những tác phẩm của ông vẫn còn
rất mới mẻ. Hầu như chưa có tác giả nào đi sâu nghiên cứu đầy đủ về M.Bulgacov và
những tác phẩm mang tầm tư tưởng lớn của ông. Nghệ Nhân và Margarita lần đầu
tiên xuất hiện ở Việt Nam qua tuyển tập văn xuôi của M.Bulgacov do Đoàn Tử
Huyến dịch. Trong công trình nghiên cứu này tác giả nhận định tài năng của nhà văn
qua quyển tiểu thuyết Nghệ Nhân và Margarita “Nhắc đến M.Bulgacov tôi nhớ lại
hai câu nói: Habent sua fata libeli (Các cuốn sách có số phận riêng của mình) và
(Các bản thảo không cháy), một của người xưa, một của chính M.Bulgacov. Hai câu
điều vận dụng đúng cuộc đời văn chương của ông, mà không chỉ riêng ông- mà tất cả
những nhà văn nghệ sĩ và tác phẩm đích thực lớn từ cổ chí kim” [6; tr.5]. Chúng ta có
thể hiểu được số phận của nhiều nhà văn được phản qua quyển tiểu thuyết.
Tác giả Đoàn Tử Huyến còn đi vào nghiên cứu nội dung tác phẩm Nghệ
Nhân và Margarita của M.Bulgacov. Trong bài nghiên cứu có đưa ra một số nhận
định nhằm khẳng định giá trị và sức ảnh hưởng của tác phẩm Nghệ Nhân và
Margarita “Có một câu được nói ra bởi miệng của Quỷ Satan nhưng đã trở thành
châm ngôn về số phận của Bulgacov cũng như số phận của nghệ thuật. Cuốn tiểu
thuyết của Nghệ Nhân bị đốt hủy, bản thân anh bị săn đuổi, bị khốn khổ, nhưng nghệ
7
thuật chân chính một khi đã được sáng tạo ra, sẽ tồn tại bất chấp tất cả, như cuộc
sống biến thành chính bản thân cuộc sống. Cũng vì vậy các hình tượng hư cấu văn
học thế giới đi vào tác phẩm Bulgacov cùng với các hiện tượng của cuộc đời thực”
[6; tr.20]. Tác giả Đoàn Tử Huyến nhấn mạnh vào bi kịch của Nghệ Nhân và
Bulgacov, cho chúng ta thấy những điểm tương đồng và khác biệt về họ “Bi kịch của
Nghệ Nhân là ở chổ anh không được người đương thời hiểu và đánh giá đúng. Nó
cũng là bi kịch đời riêng Bulgacov và nhiều thiên tài khác. Nhưng ở đây có điểm khác
biệt giữa cuộc đời Nghệ Nhân và đời thực của nhà văn: Bulgacov đã đấu tranh quyết
cho số phận của mình, còn Nghệ Nhân thì không. Có lẽ điểm khác biệt này thể hiện
lập trường của Bulgacov trong nghệ thuật” [6; tr.21].
của đề tài như sau:
Về đối tượng nghiên cứu: Chúng tôi xác định tác phẩm Nghệ Nhân và
Margarita của M.Bulgacov là tác phẩm chính trong nghiên cứu. Văn bản được chúng
tôi sử dụng là tác phẩm Nghệ Nhân và Margarita trong Bulgacov tuyển tập văn xuôi
do Nhà xuất bản văn học xuất bản năm 1988, Đoàn Tử Huyến dịch và giới thiệu.
Về phạm vi nghiên cứu: Chúng tôi tập trung vào vấn đề hiện thực xã hội
Liên Xô trong tiểu thuyết Nghệ Nhân và Margarita của M.Bulgacov. Điều đó có
nghĩa là chúng tôi chỉ tiếp cận một phần thuộc phương diện nội dung tác phẩm,
phương diện đó nghiên về giá trị hiện thực của tác phẩm hơn là các giá trị khác.
5. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu đề tài “Hiện thực xã hội Liên Xô trong tác phẩm
Nghệ Nhân và Margarita của M.Bulgacov”. Chúng tôi sử dụng một số phương pháp
nghiên cứu sau:
Phương pháp lịch sử - xã hội: Vận dụng phương pháp này, chúng tôi đặt tác
phẩm vào hệ thống lịch sử xã hội nước Nga khi tiếp cận, nhìn nhận và đánh giá. Từ
hướng tiếp cận đó, chúng tôi khảo sát tiểu thuyết Nghệ Nhân và Margarita để thấy rõ
được xã hội Liên Xô có những vấn đề gì đặt ra trong tiểu thuyết Nghệ Nhân và
Margarita. Phương pháp phân tích tổng hợp: chúng tôi dựa vào những lí lẽ và dẫn
chứng để tiến hành phân tích hiện thực xã hội Liên Xô. Sau đó dùng phương pháp
tổng hợp để rút ra nội dung về hiện thực về con người, hiện thực về xã hội.
9
B. PHẦN NỘI DUNG
Chương 1. MỘT SỐ VẦN ĐỀ LÍ LUẬN, THỜI ĐẠI, TÁC GIẢ
VÀ TÁC PHẨM
1.1. Vấn đề lí luận
Văn học hiện thực, văn học có khả năng hiểu biết và khám phá được bản
chất hoặc một vài khía cạnh bản chất của hiện thực. Lênin khẳng định không có con
người không biết, chỉ có con người chưa biết mà thôi. Marx cho rằng tư duy của con
người có thể đạt đến chân lí của đối tượng. Nói đến giá trị và tác dụng của nhận thức
là nói đến “Đạt đến chân lí của đối tượng”, chứ không phải dừng lại ở thuộc tính
hùng mới.
Hoàn cảnh điển hình của chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa là “Mô tả
cuộc sống trong quá trình phát triển cách mạng của nó”. Có nghĩa là mô tả cuộc
sống trong quá trình tương quan cái mới chiến thắng hoặc khả năng và triển vọng
chiến thắng cái cũ. Ngoài ra thì chất lãng mạng ở phương pháp sáng tác hiện thực xã
hội chủ nghĩa là xu thế tất yếu của hiện thực, nó hướng về cuộc sống chưa đến, nhưng
nhất định sẽ đến, hoặc có thể sẽ đến. Nó khác hẳn về chất ngay cả với chủ nghĩa lãng
mạn tích cực, tuy cũng biểu hiện những ước mơ tốt đẹp nhưng không bao giờ đến. Do
nó được mô tả trong quá trình phát triển cách mạng, cho nên tính cách cũng được mô
tả trong quá trình phát triển cách mạng.
1.2. Khái quát lịch sử Xô Viết những năm 1930 của thế kỷ XX
Tháng 6 năm 1930, đại hội lần thứ XVI đảng cộng sản Liên Xô họp. Đại hội
được ghi vào những vinh quang của những chiếc sĩ Bônsêvich Xô Viết là “Đại hội
mở cuộc tiến công của xã hội chủ nghĩa trên toàn mặt trận, đại hội thủ tiêu bọn culac
với tính cách là một giai cấp và thực hiện tập thể hóa toàn bộ” [4; tr.3] (Xtalin ). Sau
những năm đấu tranh và xây dựng dũng cảm vượt qua bao trở ngại, gian khổ, nhân
dân Xô Viết anh hùng đã khẳng định chân lý chói sáng của thời đại mới: chủ nghĩa xã
hội mới nhất định thắng lợi. Thắng lợi trên toàn mặt trận, ở thành thị cũng như ở
nông thôn.
Kế hoạch năm năm lần thứ I đã vượt trước thời gian, trở thành “Kế hoạch 4
năm”. Năm 1934 đại hội lần thứ XVII của đảng họp trong không khí tưng bừng của
thắng lợi, phấn khởi khẳng định: cơ sở kinh tế xã hội chủ nghĩa đã được xây dựng. Kế
hoạch 4 năm lần thứ ba được thông qua đại hội đại biểu của đảng lần thứ XVIII
(1939) trên cơ sở thắng lợi đã đề xuất nhiệm vụ lịch sử vĩ đại – từ xã hội chủ nghĩa
tiến dần từng bước lên xã hội cộng sản xã hội chủ nghĩa. Năm 1936, khi hiến pháp
Liên Xô được công bố, xã hội Xô Viết thực sự đã trở thành cộng đồng thống nhất của
11
những người lao động, công nhân, nông dân và trí thức Xô Viết với tư cách là những
người chủ tập thể của đất nước Xô Viết xã hội chủ nghĩa.
Những biến đổi trọng đại trong thời kỳ “Những kế hoạch 5 năm đầu tiên” đã
các công trường, nhà máy hầm mỏ, đi về các nông trang xã hội chủ nghĩa. Cũng
chính điều đó làm cho văn học nghệ thuật thực sự được quan tâm. Chăm lo, nhiệt tình
của toàn dân Xô Viết.
Trong không khí tưng bừng của cả nước hoàn thành thắng lợi kế hoạch 5 năm
lần nhất trong 4 năm, ngày 17 tháng 8 năm 1934. Đại hội là một sự kiện quan trọng
nổi bật trong sinh hoạt tinh thần của nhân dân Xô Viết trong thời kỳ “Những kế
hoạch 5 năm đầu tiên”. Đại hội cũng là sự kiện có ý nghĩa thiết thân đối với những
nhà văn chân chính, tiến bộ trên mọi lục đại. Nhà văn Gorki trình bày trước đại hội, là
một cống hiến to lớn của các nhà văn lão thành vào việc xây dựng cơ sở lý luận của
chủ nghĩa Mác - Lênin. Qua lập luận sinh động sắc bén của Gorki, văn học Xô Viết
hiện thực xã hội chủ nghĩa nổi bậc lên là nền văn học kế thừa và phát triển những gì
tốt đẹp nhất mà văn học tiến bộ của nhân loại đã đạt được trong trường kì lịch sử
hàng ngàn năm.
Một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của việc xây dựng cương
lĩnh tư tưởng và thẫm mỹ chung của toàn đội ngũ các nhà văn Xô Viết, là xác định
một cách chính xác, khoa học phương pháp sáng tác của nền văn học mới. Những tác
phẩm nghệ thuật với những hình tượng sinh động, đáp ứng được yêu cầu tư tưởng -
thẫm mỹ đông đảo độc giả Xô Viết, kịp thời giải quyết được những vần đề mới thực
tiễn của tiến trình văn học, rõ ràng chính là những tác phẩm như: Trường đại học của
tôi, sự nghiệp gia đình Artômônôp của Gorki, chiến bại của Phađêep,…. Không phải
là thứ thơ cầu kỳ “Siêu trí tuệ”, “Máu xiếc” bằng ngôn từ của những cây bút “Kiến
thức” vị lai thể hiện được tính cách tân của thơ ca Xô Viết, mà chính thơ ca hiện thực
thấm sâu chất trữ tình cách mạng.
Chính chủ nghĩa hiện thực, chứ không phải phương pháp sáng tác nào khác,
đã giành được vị trí hàng đầu trong cuộc thi đua, “Đọ sức” giữa các trường phái, các
nhóm nhà văn trong gần hai chục năm qua. Chính phương pháp sáng tác hiện thực
mới tỏ ra có đầy đủ khả năng để phản ánh và nhận thức thực tại mới, có hiệu lực
mạnh mẽ trong sự nghiệp “Sáng tác thực tại” giáo dục xây dựng con người mới với ý
thức tâm lý mới. Hoàn toàn ngược lại với nỗi hoài nghi, thậm chí dễ hiểu là lỗi thời,
tàn kiệt sinh lực của một số nhà lý luận, nghệ sỹ. Thực tại xã hội chủ nghĩa hiện thực
đại nhất và con đường đau khổ của A.Tônxtôi.
Tiểu thuyết Xô Viết những năm 1930 là bức tranh nghệ thuật ngôn từ sinh
động phản ánh sự biến đổi và trưởng thành nhiều mặt của con người Xô Viết trong
những năm chủ nghĩa xã hội đang giành được những thắng lợi quyết định trong toàn
bộ cuộc sống Xô Viết. Cơ sở của sự biến đổi và trưởng thành đó là sự tham gia của
14
con người vào thực tiễn đấu tranh cách mạng, vào công cuộc lao động xây dựng xã
hội chủ nghĩa, vào đội ngũ của tập thể.
Hơn mười năm qua, trong thời kỳ “Những kế hoạch 5 năm đầu tiên”, cùng
với sự phát triển rực rỡ của chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa, vũ khí nghệ thuật
của nhà văn Xô Viết trong văn xuôi, thơ, cũng như kịch đã được rèn giũa sắc bén để
sẵn sàn bước vào thời kỳ bão lửa thử thách quyết liệt của cả nước. Tầm sử thi hoành
tráng bao quát thực tại rộng lớn được nâng cao bao giờ hết. Khả năng đi vào “Quá
trình biện chứng tâm hồn” của con người Xô Viết được thể hiện ở những tác phẩm
thuộc thể loại khác nhau.
1.3. Tác giả Mikhail Afanasievich Bulgacov
Milkhail Afanasievich Bulgacov sinh ngày 15 tháng 5 năm 1891 tại thành
phố Kiew. Bố ông là giáo sư tiến sĩ thần học, biết nhiều thứ tiếng. Mẹ cũng là người
có học, con mục sư, trước khi đi lấy chồng đã từng dạy học. M.Bulgacov là con cả, từ
nhỏ thông minh, học hành chu đáo. Năm 1916, tốt nghiệp xuất sắc chuyên ngành y
khoa trường đại học tổng hợp Kiew, ông xin ra mặt trận của cuộc chiến tranh thế giới
thứ nhất với tư cách là người tình nguyện của hội chữ thập đỏ. Ít lâu sau ông gọi về
Moskva và được cử đi phụ trách một bệnh viện nông thôn hẻo lánh ở Sưtrev. Từ đó
bắt đầu những năm tháng chìm nổi của nhà văn tương lai qua các vùng Viazma,
Vladikavkaz, Tiflis, Batưm, Kiew. Đã từng bị bắt buộc theo bọn phỉ Petlura, đã từng
tham gia Hồng quân. Tháng 9 năm 1921, M.Bulgacov đến Moskva, sống và làm việc
tại đó cho đến cuối đời.
Trong những năm đói khát và sôi động sau nội chiến, cũng như nhiều nhà
văn khác vừa rời khỏi mặt trận đổ xô về Moskva trong đó có cả những tên tuổi về sau
là chủ sói trên văn đàn Xô Viết như A. Phadeew và M. Solokhov, M.Bulgacov phải
sức thuyết phục và tôi buộc phải chung thân im lặng ở Liên Xô, tôi đề nghị chính phủ
Xô Viết cho tôi việc làm theo nghề nghiệp ở nhà hát với tư cách đạo diễn(…) Nếu
không được làm đạo diễn, tôi xin làm diễn viên đóng vai phụ. Nếu làm diễn viên vai
phụ không được, tôi xin làm công nhân sân khấu…” [6; tr.8].
Hai mươi ngày sau, ngày 18 tháng 4 năm 1930, tức là bốn ngày sau phát
súng thiên tài thơ V. Maiakovski bắn vào đầu tự tử để lại bài thơ tuyệt mệnh và bức
chúc thư “Gửi đồng chí chính phủ”, Stalin đích thân gọi điện cho M.Bulgacov. Tổng
bí thư trung ương đảng hứa giúp đỡ nhà văn, hẹn sẽ gặp trực tiếp nói chuyện với ông.
Khẩu súng lục đã chuẩn bị sẵn trong ngăn kéo, M.Bulgacov đem vứt xuống hồ công
viên Novodevitri. Mấy ngày sau ông nhận vào làm đạo diễn ở nhà hát nghệ thuật
Moskva.
16
Quan hệ giữa M.Bulgacov và Stalin, cũng như quan hệ của Stalin với những
nhà văn Xô Viết thời đó như Solokhov, Phadeev, Akhmatova, Platonov, Mandelstam,
Pasternak… là một đề tài đặc biệt sẽ được tiếp tục làm sáng tỏ. Stalin rất quan tâm
đến sáng tác của M.Bulgacov. Theo tài liệu lưu trữ của các nhà văn nghệ thuật
Moskva, Stalin đã xem “Những ngày tháng Turbin” 15 lần, xem duyệt, “Căn hộ của
Dôia” không ít hơn 8 lần. Stalin đánh giá “Những ngày tháng của anh em Turbin” đã
chứng minh sự phá sản của phong trào bạch vệ, còn về vở “Chạy trốn” thì gợi ý có
thể được diễn nếu tác giả viết thêm một vài cảnh để làm rỏ nguyên nhân thất bại của
phe Bạch Vệ. Nhưng nhà văn giữ lập trường nghệ thuật của mình, và “Chạy trốn”
sau ba chục năm mới bắt đầu được dựng, được in thành sách, được quay phim.
M.Bulgacov chờ đợi và đặt nhiều hy vọng vào cuộc gặp gỡ với Stalin, nhưng
nó không bao giờ diễn ra. Ngày 30 tháng 5 năm 1931, M.Bulgacov viết tiếp một bức
thư để gửi tổng bí thư trung ương đảng Stalin. Bức thư viết: “Tôi xin thông báo rằng,
sau năm rưỡi im lặng, trong tôi có những dự định mới lại bùng lên với một sức mạnh
không thể kìm nổi, những dự định đó rộng lớn và mảnh liệt, tôi xin chính phủ tạo điều
kiện cho tôi thực hiện chúng(…) tôi có những dự định, nhưng không có sức lực,
không có những điều kiện cần thiết để làm việc” [6; tr.9]
Nhà văn tự gọi mình là “Con sói văn học duy nhất trên văn đàn Nga” (…)
nhận ảnh hưởng lớn lao của ông đối với nhiều nhà văn trên thế giới. Ông mất lúc 16
giờ 39 phút ngày 10 tháng ba năm 1940 vì bệnh xơ cúng thận và chưa qua tuổi 49.
1.4. Một vài nét về tác phẩm
1.4.1. Tóm tắt tác phẩm
Tiểu thuyết Nghệ Nhân và Maragita gồm 2 phần và phần đầu 32 chương và
kết thúc. Tác phẩm phản ánh xã hội Nga những năm 30 thế kỷ XX, một xã hội thăng
trầm và nhiều biến động. Nhân vật Nghệ Nhân là một nhà sử học sống cô đơn, không
còn họ hàng ruột thịt ở Moskva. Nghệ Nhân đã viết quyển tiểu thuyết về Iesua-Ha-
Notxri là chúa Giesu Christ và Ponti Pilat là kẻ đã hành hình chúa. Khi cuốn tiểu
thuyết này hoàn thành thì bị vùi dập và vu khống đến nỗi suy sụp tinh thần phải vào
bệnh viện tâm thần. Margarita một người phụ nữ ba mươi tuổi, không con, nàng là vợ
của một chuyên gia rất lớn. Vì sự cảm phục mà đem lòng yêu Nghệ Nhân. Cả Nghệ
Nhân và Margarita đã có một mối tình vụn trộm và hàng ngày nàng đến với ngôi nhà
dưới hầm. Khi quyển tiểu thuyết hoàn thành vào tháng tám và được gửi đến nhà biên
tập nhưng họ không đăng tác phẩm mà còn xuất hiện những bài báo vùi dập của
Latunski và N.E với nội dung một tên đồ cựu giáo gây gỗ. Chính bài báo này là một
cứu sốc lớn và nguyên nhân dẫn đến bi kịch đau lòng cho Nghệ Nhân.
18
Sau sự mất tích của Nghệ Nhân, Margarita đã đau khổ vì không biết gì về tin
tức người mình yêu. Đang trong lúc tuyệt vọng, chưa tìm được cách giúp Nghệ Nhân,
Maragita đã nhận lời mời của quỷ Satan ẩn dưới nhà hắc ảo thuật Voland mời làm nữ
hoàng do quỷ tổ chức. Nàng đã từ bỏ tất cả để trở thành phù quỷ với một hy vọng là
được tìm lại và cứu Nghệ Nhân, vì thế nàng nhận lời chứng kiến một vũ hội kinh
khủng của những linh hồn tội lỗi. Margarita đóng vai trò là một nữ hoàng nhân từ và
sẵn lòng tha thứ cho nhiều con người mang đầy tội lỗi.
Cũng trong thời gian này Quỷ Satan đã vạch trần những bộ mặt xấu xa của
người dân và quan chức tại Moskva, những đám khán giả, phơi bày sự tham lam, hám
danh và họ có đời sống trụy lạc trong buổi diễn tại nhà hát Tạp Kĩ, đó là giới văn
chương bất tài giả dối, luôn ghen gét độc địa hãm hại lẫn nhau. Với những người như
Riukhin, ban ngày viết vài câu thơ khẩu hiệu để mang danh nhà thơ vô sản, còn đêm
người dám dấn thân vào sự thật, dù sự thật đã tồn tại mấy ngàn năm trong lịch sử.
Đồng thời nhà văn muốn nhấn mạnh vào cái giá mà những con người ấy phải trả, nó
có xứng đáng cho những thành quả đã tạo dựng ra hay không? Từ nhân vật Nghệ
Nhân mà M.Bulgacov xây dựng, con người cùng sống và chết vì sự thật lịch sử tồn
tại mấy ngàn năm nhưng đã bị hội nhà văn Moskva né tránh và tàn nhẫn phủ nhận
quyển tiểu thuyết mà mình sáng tạo ra. Tất cả hội nhà văn Moskva đã không dám viết
lại lịch sử, họ thờ ơ, vô cảm với lịch sử. Nghệ Nhân dám nói lên sự thật lịch sử, tất cả
minh chứng của sự thật được phơi bày vì thế kết quả mà mình phải nhận lấy những
chuỗi ngày tháng bế tắc và chất chứa sự đau khổ.
Nghệ Nhân đã dám đấu tranh cho sự thật và phục hồi chân lý của sự thánh
thiện qua quyển tiểu thuyết. Một sự sáng tạo, tái hiện lại lịch sử đã đi vào sự lãng
quên và giá trị đạo đức được lặp lại thông qua hai hình tượng Ponti Pilat và Iesua Ha-
Notxri. Nghệ Nhân đã cống hiến quên mình, từ bỏ tất cả mọi thứ để có thể viết cuốn
tiểu thuyết về Ponti Pilat và Iesua Ha-Notxri. Vì thế ngài phải trả giá cho chính sự
thật mà mình tạo nên. Iesua, con người luôn theo quan điểm của cái thiện, xem tất cả
mọi người là con người nhân từ. Ngược lại Ponti Pilat, con người theo quan điểm của
cái ác, luôn cho rằng bản chất con người là ác, cái thiện sẽ không bao giờ chiến thắng.
Chính cuộc gặp gỡ trớ triêu, định mệnh này giữa hai nhân vật, đã tạo nên cho đời
những giá trị nhận thức vô cùng ý nghĩa.
Sự thật mà Nghệ Nhân muốn nói đến trong quyển tiểu thuyết thông qua hình
tượng Iesua là người luôn tâm niệm trên cuộc đời này không tồn tại cái ác mà chỉ có
20
những con người nhân từ. Iesua đi hành hương nhiều nơi với mục đích truyền bá về
chân lý của điều thiện, chăn dắt những con người nhân từ. Kenturion Mark, người đã
đánh đập Iesua theo lệnh của Ponti Pilat nhưng bằng chân lý của sự thánh thiện Iesua
vẫn xem hắn là con người nhân từ. Bản chất con người có thể thay đổi, được Iesua
chứng minh thông qua câu chuyện về người thu thuế Levi Matvei. Bằng sự thuyết
giáo của mình, Iesua đã làm thay đổi con người mê tiền, từ bỏ tất cả để theo chân lý
thánh thiện “Anh ta ném hết tiền xuống đường và sẽ theo tôi đi hành hương” [6;
tr.373]. Thông qua câu chuyện, Iesua muốn đánh thức Ponti Pilat, một con người khô
mình càng làm tăng thêm sự hời hợt và giả dối về sự thật “Từ khi anh ta bị những con
người nhân từ làm cho tàn tật, anh ta trở nên dữ tợn và tàn nhẫn” [6; tr.380]. Cách
nghĩ và đối xử của Iesua với Ponti Pilat cho thấy ngài là con người nhân từ, bao dung
gần với quan niệm của phật giáo. Con người dễ dàng thay đổi dưới tác động của hoàn
cảnh, dễ đánh mất đi bản chất tốt đẹp của nhân loại. Nhà văn M.Bulgacov mượn hai
hình tượng Iesua Ha-Notxri và Ponti Pilat nhằm nói lên sự bất công và áp đặt của chế
độ xã hội đối với mọi người.
Con người càng nói sự thật thì càng nhận lấy nhiều tai họa cho mình. Iesua
đã phản ánh đúng sự thật những lý thuyết rút ra từ cuộc sống và đồng thời, ngài phải
nhận lấy những bất hạnh về mình. Iesua khẳng định với Ponti Pilat rằng “Bất kể thứ
quyền lực nào cũng là bạo lực đối với con người. Và sẽ đến một lúc không còn quyền
lực của các hoàng đế lẫn bất cứ quyền lực nào khác. Con người sẽ đến được vương
quốc của sự thật và công lý, nơi đó nói chung sẽ không cần một quyền lực nào cả”
[6; tr.385]. Nhà văn M.Bulgacov với ước mơ về một xã hội công bằng, một xã hội mà
nơi ấy không tồn tại áp bức và bóc lột con người. Mơ ước ấy được M.Bulgacov thể
hiện thông qua khao khát của Nghệ Nhân về hình tượng Iesua cùng với mong muốn
cho chỗ đứng vững chắc của người nghệ sĩ trong xã hội.
Cho dù xã hội có thiếu đi sự công bằng, bóng tối tội ác bao trùm nhưng nhân
vật Iesua vẫn không bị đánh gục. Giữa Nghệ Nhân và Iesua có sự tượng đồng khi
dám đấu tranh cho sự thật. Trong quyển tiểu thuyết của Nghệ Nhân, Ponti Pilat tức
giận khi Iesua xem tất cả mọi người là “Con người nhân từ” và kể cả tên Giuđea quê
ở Kiriaph đã phản bội bẩn thỉu, Mark Crưsoboi tên đao phủ đã đánh đập. Họ đã đối
xử tàn bạo nhưng trong lòng Iesua vẫn xem là con người nhân từ, không có cái ác tồn
tại trên đời. Sự thật sẽ được phơi bày dù những đòn roi có đau đớn đến mấy. Đối với
Nghệ Nhân, tất cả những người trong hội nhà văn Moskva đã không dám nhìn nhận
về quyển tiểu thuyết dù mình viết đúng sự thật. Bất chấp sự phản đối của nhà phê
bình, Nghệ Nhân vẫn kiên tâm hoàn thành tác phẩm của mình dù có nhận lấy sự đau
22
khổ. Chân lý của cái thiện vẫn mãi mãi tồn tại dù hình tượng Iesua trong quyển tiểu
thuyết của Nghệ Nhân đã chết, sẽ còn đó những bài học giá trị cho những con người
chúng ta cần biết cách chiến thắng cái ác, để mảnh đất lòng người là nơi ươn mầm
cho cái thiện.
Cái chết của Ieusa được định đoạt bởi Ponti Pilat, chính Pilat là con người
hèn nhát không dám nhìn thẳng vào cái thiện, trốn tránh và chối bỏ. Quan tổng trấn
toàn quyền La Mã có thể cứu lấy mạng sống, cơ hội mang đến nhiều điều tốt lành cho
Iesua nhưng rồi lại bất lực trước cái chết đó. Sự giả dối của Pilat và hội đồng thượng
thẩm, mang đầy quyền lực nhưng đằng sau hai con người đó có nhiều điều xấu, tồi tệ.
Ponti Pilat nhận định rằng “Dân chúng Giuđea biết rằng ngài căm thù họ bằng một
lòng căm thù tàn bạo và ngài sẽ mang lại cho họ nhiều tai họa đau khổ” [6; tr.397].
Bên cạnh đó hội đồng thượng thẩm cũng là người chẳng tốt sau khi có quyền lực
“Bây giờ ta sẽ gửi tín thư đi, mà không phải cho quan thổng đốc ở Antiokhia và cũng
không phải về La Mã, mà thẳng tới Kapreia cho chính hoàng đế trình báo rằng nhà
người đã che giấu những tên phiến loạn hiển nhiên ở Iersalaim khỏi cái chết như thế
nào” [6; tr.397]. Cả hai là nô lệ quyền lực, hèn nhát về lương tâm không dám đấu
tranh cho cái thiện. Ponti Pilat và hội đồng thưởng thẩm điều là những người ác. Dù
Iesua là người lương thiện nhưng ngài vẫn không thoát con người đầy mưu mô và
tham vọng. Cái chết của Iesua là sự hối hận mãi tồn tại trong lòng Ponti Pilat khi ông
không đấu tranh, đánh đổi quyền lực vì con người nhân từ. Sự thật phủ phàng đối với
Iesua khi đã quá tin tưởng vào con người nhân từ trong Ponti Pilat.
Iesua chết nhưng lời thuyết giảng của ngài đã in sâu vào tim tên thu thuế
Levi Matvei. Chỉ có anh mới hiểu rõ chân lý của cái thiện “Anh ta chỉ có ước một
điều làm sao để Iesua, người không hề làm cho ai một điều ác nhỏ nào, tránh khỏi
những cực hình đau đớn” [6; tr.659], là người học trò, người bảo vệ và đi theo chân
lý của Iesua. Chúng tôi nhận thấy, cho đến phút chót Iesua vẫn là con người nhân từ
và trung thành với nguyên tắc đạo đức tối cao. Đứng trước ngưỡng cửa của cái chết,
Iesua vẫn thể hiện chân lí đạo đức bằng cách đáp lại lời trách của tên cướp về sự bất
công. Iesua xin tên đao phủ hãy đưa nước ông uống, nhưng ngài lại nhường cho tên
Đismas trước khi bị tử hình, từ giã cuộc sống. Chân lý sự thánh thiện của Iesua càng
làm cho sự giày vò, đau khổ của Pilat lên cao. Cơn giông diễn ra ở ngọn núi trọc sau
cái chết bất tử của Iesua, phần nào cũng nói lên sự đau khổ của quan tổng trấn toàn
nắm rõ được những phương pháp sáng tác văn học. Họ không chấp nhận sự thật lịch
sử khi nó phơi bày theo đúng chiều hướng của xã hội đã từng tồn tại. Vì thế tác giả
M.Bulgacov thông qua nhân vật Nghệ Nhân muốn nói lên số phận bị vùi dập và nhận
lấy những bi kịch không thể tránh khỏi của các nhà văn khi nói đúng sự thật.
25
Tác phẩm của M.Bulgacov sáng tạo ra dù chảy qua số phận nghiệt ngã, thăng
trầm nhưng nhân vật Nghệ Nhân mà M.Bulgacov xây dựng là người dám nói và sống
vì sự thật. Thực tiễn chứng tỏ rằng đối với nhà văn có tài năng, trung thực, sống giữa
cuộc đời và nhân dân, thì việc nhìn thấy sự thật của đời sống không phải là điều khó
khăn. Vấn đề là nhà văn có dám nhìn thẳng vào sự thật ấy không, có dám nói lên sự
thật ấy không, coi việc nói sự thật đó là lương tâm, là thiên chức của người cầm bút
hay không. Cho nên muốn nói lên được sự thật khi chỉ nhìn thấy sự thật thì chưa đủ,
mà phải có dũng khí đi sâu vào khám phá sự thật, có đủ bản lĩnh để nói sự thật đó,
phải có con mắt biện chứng để nhìn ra bản chất và xu thế phát triển không gì đảo
ngược được cuộc sống và cả những vấn đề tồn tại quanh ta.
Trong văn học hiện thực cũng như trong cuộc sống, nói sự thật là hoàn toàn
không đơn giản. Phần vì tìm thấy cách nói thích hợp, có sức thuyết phục. Phần vì
nhiều người không thích nghe sự thật. Do trình độ nhận thức, do tính chất cá nhân, do
lo sợ đủ mọi điều, nhiều người không dám nhìn thẳng vào sự thật, lẫn tránh và thậm
chí xuyên tạc sự thật. Trong xã hội Moskva cũng không ngoại lệ. Con người là tổng
biên tập nhà văn nhưng lại hèn nhát khi nhìn thấy sự thật tồn tại một ngàn chín trăm
năm. Mà hơn thế nhân vật Nghệ Nhân tạo ra là Giesu Christ, sự thật của lịch sử vẫn
tồn tại đến ngày nay nhưng hội nhà văn Moskva không cho nhắc đến.
Dù trải qua con đường đau khổ như một con đường thập giá của mình nhưng
Nghệ Nhân không hối tiếc và tuyệt vọng. Là nhà văn chân chính thì sự thật vẫn là
điều có thể chiến thắng được độc giả và những ai chưa tin vào giá trị của nó. Dù cái
giá là những tháng ngày trong nhà thương tâm thần và tăm tối trong đau khổ nhưng
lịch sử được tạo ra thì sự cống hiến của Nghệ Nhân hoàn toàn xứng đáng. Sự đền bù
cho ngày tháng đau khổ bằng sự tĩnh mịch vô thanh, chốn yên bình cho tâm hồn đang
tàn lụi vì sự thật của mình. Như chính nhà văn là người đang chắc lọc những tư tưởng