Rèn luyện kĩ năng nghị luận về vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm văn học - Pdf 33

HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN
KHU VỰC DUYÊN HẢI- ĐỒNG BẰNG BẮC BỘ

HỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VIII
Chuyên đề:
RÈN LUYỆN KĨ NĂNG NGHỊ LUẬN VỀ VẤN ĐỀ XÃ HỘI ĐẶT
RA TRONG TÁC PHẨM VĂN HỌC

1


A.MỞ ĐẦU
I. Lí do chọn đề tài
1. Ý nghĩa lí luận:
1.1. Văn học là một môn học khá đặc biệt trong nhà trường vì có tính chất
hai mặt: vừa là môn nghệ thuật, vừa là môn học. Học sinh học văn để trau dồi vốn
sống, tư duy, bồi dưỡng cách cảm thụ thẩm mĩ, mặt khác cũng là để có các kĩ năng
liên quan đến ngôn ngữ và diễn đạt, cụ thể nhất là kĩ năng tiếp nhận và tạo lập văn
bản. Hiện nay, cả kĩ năng đọc và viết văn bản đều được coi trọng ngang nhau với
mục đích thực dụng nhất là ngay cả các em học sinh sau này không theo ngành văn
chương cũng có khả năng đọc, viết tốt trong lĩnh vực công việc và nghề nghiệp của
mình. Với mục đích thiết thực đó, việc dạy-học phân môn làm văn trong nhà
trường càng được đề cao. Mà nhiệm vụ chính của phân môn làm văn là giúp học
sinh hình thành kĩ năng cần thiết để tạo lập được nhiều kiểu văn bản. Vì thế, chúng
tôi nghĩ đề tài “Rèn luyện kĩ năng nghị luận về vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm
văn học” có thể là một đóng góp trong việc hình thành phương pháp, kĩ năng viết
văn bản nghị luận cho học sinh.
1.2. Sách giáo khoa Ngữ văn THPT hiện nay được thiết kế tích hợp ba phân
môn: Đọc văn, Làm văn và Tiếng Việt. Ưu điểm của sự tích hợp này là học sinh có
thể kết nối bài học của từng phân môn: học ngữ để áp dụng vào đọc văn, viết văn,
đọc văn và ngược lại viết văn đề soi vào ngữ, vào các văn bản văn học. Theo

phú của các tác phẩm trong và ngoài sách giáo khoa, với sự đa nghĩa của văn bản
văn học và sự vận động không ngừng của văn bản trong sự tiếp nhận của người
đọc, chúng tôi nghĩ, dạng bài này sẽ luôn mới mẻ, hấp dẫn, kích thích học sinh. Vì
thế, chuyên đề này còn có mục đích nữa là giúp giáo viên và học sinh tạo ra những
đề bài và bài làm văn thực sự mới mẻ, sáng tạo.
II. Cấu trúc chuyên đề:
Ngoài phần mở đầu và kết luận, phần nội dung của chuyên đề bao gồm các mục:
I. Khái quát chung về văn nghị luận xã hội và dạng bài “Nghị luận về vấn đề
xã hội đặt ra trong tác phẩm văn học”.
II. Các kiểu đề bài “Nghị luận về vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm văn
học” và gợi ý về phương pháp làm bài.
III. Một số đề bài luyện tập.

3


B.NỘI DUNG
I. Khái quát chung về văn nghị luận xã hội và dạng bài “Nghị luận về vấn đề
xã hội đặt ra trong tác phẩm văn học”
1.Văn nghị luận xã hội
1.1. Khái niệm và đặc trưng của văn nghị luận
“Nghị luận” theo cách giải thích của Từ điển Tiếng Việt hiện hành là bàn
bạc một vấn đề nào đó cho rõ phải trái, đúng sai. Từ đó, văn nghị luận có thể hiểu
là bài văn dùng phán đoán, lí lẽ, dẫn chứng, lập luận để đánh giá, bàn luận về vấn
đề nào đó một cách thuyết phục.
Đặc trưng cơ bản của văn nghị luận có thể nói ngắn gọn: là văn nói lí, nói lẽ.
Đây là loại văn bản thiên về trình bày các ý kiến lí lẽ, tác động mạnh vào lí trí, trí
tuệ của người đọc. Phương thức biểu đạt chủ yếu của bài văn là nghị luận: người
viết chỉ nhằm bàn bạc, đánh giá một luận đề chứ không nhằm phản ánh hiện thực
hay xây dựng hình tượng… Vì thế, việc viết văn bản nghị luận giúp học sinh hình

văn học (nếu hiểu văn học theo nghĩa rộng). Tuy nhiên, trường hợp đặc biệt, các
em học sinh khá, giỏi khi gặp những đề bài khơi gợi hứng thú, chọn lựa những
hình thức sáng tạo để nghị luận: bức thư, trang nhật kí… thì hoàn toàn có thể coi
đó là một tác phẩm văn học nhỏ. Để đạt được mục đích là bàn bạc thuyết phục,
mỗi học sinh sẽ có cách viết khác nhau song cũng cần đặt ra một vài yêu cầu cần
đảm bảo với bài văn nghị luận xã hội đúng:
- Trước tiên, bài viết phải đảm bảo màu sắc của văn nghị luận như: có hệ
thống luận điểm, lí lẽ và cách lập luận thuyết phục, dẫn chứng xác đáng, vận dụng
đúng và linh hoạt các thao tác nghị luận, thể hiện rõ thái độ, cách đánh giá của
người viết về vấn đề.
-Sau đó, bài văn phải đảm bảo màu sắc xã hội như: thể hiện được hiểu biết
xã hội, lấy được những dẫn chứng thực tế, liên hệ với thực tế và bản thân…, từ ngữ
phải có tính xã hội, tính học thuật cao…
- Cuối cùng, bài viết phải đảm bảo được cách trình bày khoa học của một bài
văn nói chung với bố cục 3 phần: mở, thân, kết (ngay cả những bài viết sử dụng
hình thức trình bày sáng tạo như nhật kí, bức thư…).
1.4.Các dạng bài văn nghị luận xã hội:
Hiện nay nghị luận xã hội được chia thành 3 dạng nhỏ sau:

5


-Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí là bài văn bàn về một vấn đề thuộc lĩnh
vực tư tưởng, đạo đức, quan điểm nhân sinh. Các tư tưởng, đạo lí đó thường có
tính khái quát, tính quy luật cao.
-Nghị luận về một hiện tượng xã hội là kiểu bài văn bàn về một sự việc, hiện
tượng có thật trong đời sống xã hội, có vấn đề đáng suy nghĩ.
-Nghị luận về vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm văn học là bàn về một
hiện tượng xã hội hoặc một tư tưởng, đạo lí có ý nghĩa, đáng suy ngẫm được gợi
mở từ một tác phẩm văn học.

là người đọc. Trong sự tiếp nhận của người đọc, tác phẩm văn học là một quá trình
vận động, biến đổi bởi sự cảm thụ của người đọc về tác phẩm là khác nhau ở mỗi
thời kì, giai đoạn lịch sử… Người đọc không hoàn toàn “thụ nghĩa” mà còn tham
gia tạo nghĩa cho tác phẩm bằng những tưởng tượng, suy tư, liên hệ của mình… Vì
thế, ngoài những vấn đề xã hội được nhà văn “đặt ra” trong tác phẩm, người đọc
còn có thể tự đặt ra hoặc liên hệ đến các vấn đề xã hội gần gũi khi tiếp nhận tác
phẩm. Hai chữ “đặt ra” không nên hiểu chỉ là sự “đặt để” của nhà văn mà còn là
những “đặt để” hoặc liên hệ của chính người đọc khi tiếp nhận tác phẩm. Tuy
nhiên, vì tác phẩm văn học vẫn có tính xác định nên sự cảm thụ của ngươi đọc luôn
phải phù hợp, hài hòa với tác phẩm, tránh áp đặt, khiên cưỡng.
Như vậy, từ góc độ lí luận văn học, ta thấy rằng mọi tác phẩm văn học đều
có thể trở trở thành nguồn đề tài cho văn nghị luận xã hội. Tác phẩm văn học nào
cũng là cũng chứa đựng ít nhiều những vấn đề xã hội, quan trọng là vấn đề xã hội
đó phải đáng suy ngẫm, có tính thời sự, tính giáo dục và phù hợp với tâm lý lứa
tuổi học đường.
Từ cơ sở trên, chúng tôi hiểu “vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm văn học”
như sau:
-Một tư tưởng, quan niệm nhân sinh, một hiện tượng xã hội mà nhà văn đặt
ra, gửi gắm trong tác phẩm.
-Một tư tưởng, quan niệm nhân sinh, hiện tượng xã hội mà người đọc được
gợi mở hoặc có thể liên hệ khi tiếp nhận ý nghĩa của tác phẩm.
2.2. Mục đích và yêu cầu của dạng bài
Về mục đích, dạng bài này giúp học sinh:
-Tích hợp đọc-văn và làm văn, rèn cả kĩ năng đọc-hiểu văn bản văn học và
kĩ năng viết nghị luận xã hội.

7


- Hiểu sâu hơn tác phẩm văn học và liên hệ được với bản thân, với hoàn

vấn đề một cách thuyết phục.
-Nếu vấn đề xã hội là tư tưởng, đạo lí, học sinh tiến hành các thao tác sau:
+Giải thích khái niệm gắn với vấn đề (nếu cần)
+Phân tích, chứng minh biểu hiện của vấn đề (nếu cần)
+Lí giải cơ sở của tư tưởng, đạo lí cần bàn (với câu hỏi “Tại sao nói như vậy?”)
+Đánh giá tính đúng-sai, tích cực-tiêu cực và tác dụng, ý nghĩa của tư tưởng, đạo lí
với con người, với xã hội (với câu hỏi: tư tưởng, quan niệm ấy có đúng đắn, sâu
sắc không?, có ý nghĩa gì với tâm hồn, nhân cách con người, với xã hội…?).
+Mở rộng, liên hệ (đây cũng là một khâu của thao tác bình luận): xem xét tư
tưởng, đạo lí đó ở những phương diện, góc độ khác nhau (cần bổ sung gì? có mặt
nào chưa được? có thể đối chiếu với vấn đề tương đồng hoặc tương phản nào? có
thể liên hệ với thực tế nào hiện nay?...)
+Cuối cùng là rút ra bài học nhận thức và hành động cho bản thân (ta có được nhận
thức sâu sắc nào? Bản thân cần phải có những hành động thiết thực, cụ thể ra sao?)
-Nếu vấn đề là hiện tượng đời sống, học sinh tiến hành các thao tác sau:
+ Giải thích khái niệm gắn với vấn đề (nếu cần).
+ Phân tích thực trạng và biểu hiện của hiện tượng.
+Phân tích nguyên nhân của hiện tượng.
+Đánh giá ảnh hưởng của hiện tượng với cá nhân, xã hội (nếu hiện tượng tiêu cực
thì nêu hậu quả, nếu hiện tượng tích cực thì nêu vai trò, tác dụng).
+Mở rộng bằng cách nêu giải pháp cho hiện tượng.
+Rút ra bài học nhận thức và hành động cho bản thân.
Lưu ý với một số kiểu đề bài đặc biệt có sự giao thoa giữa tư tưởng, đạo lí
và hiện tượng đời sống thì sự bàn luận phải kết hợp linh hoạt cả hai cách triển khai
trên.
9


II. Các kiểu đề bài nghị luận về vấn đề xã hội trong tác phẩm văn học và gợi ý
về phương pháp làm bài

nào đấy người đọc cung cấp cho văn bản với cách kiến giải thuyết phục.
Chúng tôi xin đưa ra một số đề văn tham khảo như sau:
“Một bài học sâu sắc với anh chị sau khi đọc bài thơ “Tôi yêu em” của nhà thơ
Nga Pu-skin.”
“Suy nghĩ về những thông điệp mà nhà văn Lưu Quang Vũ gửi đến người đọc qua
đoạn trích “Hồn Trương Ba, da hàng thịt” .
“Anh chị có suy nghĩ gì về ý nghĩa của bài thơ “Tự do” của nhà thơ Pháp P.Ê-luya.
“ Suy nghĩ của anh/chị về ý nghĩa của câu chuyện “Hai hạt mầm” (Có văn bản)
“Đọc bài thơ “Dặn con” của Trần Nhuận Minh (Có văn bản). Anh/chị suy nghĩ gì
về ý nghĩa của bài thơ?”
“Anh chị suy nghĩ như thế nào về ý nghĩa được gợi ra từ bài thơ sau:
“Mùa đông đang đến gần
Những bầy chim bắt đầu thấy lạnh
Rủ nhau bay về phương Nam lẩn tránh
Dù suốt mùa hè ca ngợi quê hương

Chỉ có đại bàng vẫn ngồi im
Lặng lẽ nhìn những hàng cây trút lá
Khi quê hương gặp những ngày băng giá
Đại bàng không bỏ bay đi”
(Raxun Gam-za-tốp)

11


2.1.2. Cách thức triển khai phần thân bài
a) Bước 1: Phân tích văn bản để tìm ra những ý nghĩa xã hội sâu sắc của tác
phẩm, từ đó khái quát chính xác vấn đề xã hội cần bàn.
Với tác phẩm mới, nếu là truyện, học sinh nên tóm tắt sơ lược rồi căn cứ vào
tình huống, sự việc, các chi tiết hành động, lời nói, tâm trạng… của nhân vật, nếu

2.2.1. Nhận diện:
Kiểu bài này thường gắn nhiều hơn với các tác phẩm văn học đã học. Đề bài
nêu lên một vấn đề xã hội cụ thể xuất phát từ một ý nghĩa của tác phẩm để người
viết bàn bạc. Tính mở của đề ít hơn bởi người viết đã có sẵn vấn đề nghị luận ở đề
bài.
Chúng tôi xin đưa ra một số đề tham khảo như sau:
“Bài ca dao hài hước “Cưới nàng anh toan dẫn voi…” (SGK Ngữ văn 10-Tập 1)
gợi cho anh chị suy nghĩ gì về lối sống cần có của con người?”
“Từ đoạn trích “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia” (Thân Nhân Trung- SGK
Ngữ văn 10- tập 2), anh/chị hãy bàn về vai trò của người hiền tài với quốc gia?”
“Hãy bình luận về quan niệm “dại”, “khôn” của Nguyễn Bỉnh Khiêm qua bài thơ
“Nhàn” (SGK Ngữ văn 10, tập 2).
“Suy nghĩ về lối sống “trong bao” sau khi đọc xong truyện ngắn “Người trong
bao” (SGK Ngữ văn 11, tập 2) của Sê-khốp.”
“Từ bài thơ “Tôi yêu em” (SGK Ngữ văn 11, tập 2) của Pu-skin, hãy trình bày suy
nghĩ của anh/chị về cách ứng xử cao thượng trong tình yêu.”
“Hãy cùng Ta-go nói về những nghịch lí đầy bí ẩn của tình yêu từ “Bài thơ số 28”.
“Từ truyện ngắn “Vợ nhặt” (SGK Ngữ văn 12, Tập 2), anh/chị hãy bình luận về
sức mạnh của tình thương trong cuộc sống.”
“Suy nghĩ về giá trị của tự do sau khi đọc bài thơ “Tự do” (SGK Ngữ văn 12, tập
2) của nhà thơ Pháp P.Ê-luya.
“Đọc bài thơ “Quán hàng phù thủy” (có văn bản) và trình bày suy nghĩ về bài học:
Hạnh phúc phải do chính mình tạo ra.
“Đọc bài thơ “Dặn con” (có văn bản) của Trần Nhuận Minh và suy nghĩ về lòng
trắc ẩn trong cuộc sống.”

13


Theo chúng tôi, kiểu đề bài này có thể trích dẫn một đoạn trong tác phẩm và


sống, một hình tượng thiên nhiên, con người, một chi tiết nghệ thuật giàu ý
nghĩa…
Đây là kiểu đề bài rất mở bởi người viết không minh họa lại nội dung, ý
nghĩa nào đó của tác phẩm mà phải mở rộng, liên hệ với các vấn đề xã hội gần gũi,
có liên quan.
Điều cần lưu ý là người ra đề tránh đặt ra những vấn đề xã hội xa rời với ý
nghĩa của yếu tố mà nó xuất phát vì sẽ khiên cưỡng, áp đặt và gây cảm giác hụt
hẫng, khó hiểu với học sinh. Ví như, từ hình tượng nhân vật Chí Phèo mà yêu cầu
học sinh bàn về sức sống tiềm tàng của con người, hay từ ý nghĩa của truyện ngắn
“Người trong bao” bàn về cuộc đấu tranh giữa cái cũ và cái mới…
Đặc biệt, nếu vấn đề xã hội xuất phát từ một cảnh tượng, một hình tượng,
chi tiết…trong tác phẩm thì cần nêu cụ thể ở đề bài để học sinh có thể khoanh vùng
nguồn gốc, hoàn cảnh xuất hiện vấn đề cần bàn. Ví dụ, theo chúng tôi, đề bài sau
chưa thật sự cụ thể, khoa học: “Từ truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa” của
Nguyễn Minh Châu, anh/chị hãy bàn về nạn bạo hành gia đình”. Cách ra vấn đề
như thế tạo cảm giác khiên cưỡng, áp đặt bởi Nguyễn Minh Châu không viết
truyện này để tuyên truyền cho vấn đề bạo hành gia đình. Đề văn trên có thể sửa
lại như sau: “Từ cảm nhận về cảnh tượng người đàn bà hàng chài bị chồng đánh
trên bãi biển trong truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa” của Nguyễn Minh Châu,
anh/chị hãy bàn về nạn bạo hành gia đình”.
Chúng tôi xin đưa ra một số đề bài tham khảo như sau:
“Qua truyện cổ tích “Tấm Cám” (SGK Ngữ văn 10-Tập 1), anh/ chị có suy nghĩ gì
về cuộc đấu tranh giữa cái thiện và cái ác trong xã hội xưa và nay?”
“Qua bài thơ “Độc Tiểu Thanh kí” (SGK Ngữ văn 10- Tập 2) của Nguyễn Du, hãy
trình bày suy nghĩ của anh/chị về sự tri âm trong cuộc sống?”
“Đọc bài thơ “Tiến sĩ giấy” (có văn bản) của Nguyễn Khuyến, anh/chị có suy nghĩ
gì về mối quan hệ giữa danh và thực trong cuộc sống hôm nay?”
“Từ cảm nhận về chi tiết nước mắt của nhân vật Chí Phèo trong truyện ngắn “Chí
Phèo” (SGK Ngữ văn 11-Tập 1) của Nam Cao, anh/chị hãy viết bài văn bàn về



Bầy ong rong ruổi trăm miền
Rù rì đôi cánh nối liền mùa hoa
Nối rừng hoang với biển xa
Đất nơi đâu cũng tìm ra ngọt ngào

Chắt trong vị ngọt mùi hương
Lặng thầm thay những con đường ong bay
Trải qua mưa nắng vơi đầy
Men trời đất đủ làm say đất trời.
Bầy ong giữ hộ cho người
Những mùa hoa đã tàn phai tháng ngày
(Trích “Hành trình của bầy ong”- Nguyễn Đức Mậu)
Từ hình ảnh bầy ong trong đoạn thơ trên, em hãy viết một bài văn nghị luận nêu
suy nghĩ về những phẩm chất đáng quý của con người trong bài ca cống hiến cho
xã hội, đất nước.”
2.3.2. Cách triển khai phần thân bài:
a)Bước 1: Nêu và phân tích ý nghĩa của yếu tố trong tác phẩm gợi mở vấn đề xã
hội cần bàn (một bức tranh xã hội, một cảnh tượng, một hình tượng, một chi tiết,
nội dung của một đoạn hay của cả tác phẩm…).
Ví dụ: Với đề gắn với “Độc Tiểu Thanh kí” cần phân tích được mối tri âm của
Nguyễn Du với Tiểu Thanh và niềm khao khát được tri âm qua câu hỏi: “Bất tri
tam bách dư niên hậu/Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như? ” rồi từ đó đặt ra vấn đề sự
tri âm giữa con người với con người trong cuộc sống.
Với đề gắn với “Đàn ghi-ta của Lorca”, người viết cần phân tích, cảm nhận
chung về hình tượng tiếng đàn và ý nghĩa của hình tượng này trong bài thơ rồi từ
đó khái quát v đề: vẻ đẹp, sức mạnh của âm nhạc trong cuộc sống.
17




B. Gợi ý triển khai vấn đề:
1.Giải thích ý nghĩa câu chuyện
-Hạt nhân của truyện là tình huống một con lừa vượt qua nghịch cảnh. Từ chỗ kêu
la thảm thiết khi bị rơi xuống giếng và có nguy cơ bị người chủ chôn sống, con lừa
đã ngừng kêu và tự cứu sống mình một cách dễ dàng: cứ một lớp đất đổ xuống, nó
lại dẫm lên trên và cuối cùng lên đến miệng giếng.
-Câu chuyện về con lừa ẩn chứa bài học: dù cuộc sống có đổ lên ta rất nhiều khó
khăn, có đẩy ta xuống vực thẳm của cái chết và sự tuyệt vọng thì ta vẫn có thể giải
quyết và thoát khỏi nó bằng cách thức vô cùng đơn giản là không bao giờ đầu hàng
và tìm cách biến khó khăn thành những bậc thang để vươn lên. Hàm nghĩa sâu hơn
của truyện là đề cao sức mạnh ý chí, nghị lực của con người.
2. Bàn luận:
2.1. Lí giải:
?Tại sao con người không bao giờ được phép đầu hàng trước nghịch cảnh?
-Đầu hàng đồng nghĩa với sự thất bại, với cái chết (hoặc thể xác, hoặc tinh thần). Ý
chí, nghị lực là một thứ sức mạnh tinh thần vô cùng kì diệu có thể giúp con người
“tìm ra tia sáng dưới đường hầm tăm tối”, thấy được cơ may, cơ hội trong những
hoàn cảnh ngặt nghèo nhất.
-Không có nghịch cảnh nào, khó khăn nào lại không có cách giải quyết nếu ta có
niềm tin, ý chí, nghị lực vượt qua.
2.1. Đánh giá ý nghĩa câu chuyện:
- Câu chuyện đem đến một bài học giản dị mà sâu sắc về cách thức vượt qua những
khó khăn, thử thách của cuộc sống đó là phải có niềm tin, ý chí, nghị lực.
-Câu chuyện cũng củng cố niềm tin của chúng ta vào sức mạnh tinh thần bên trong
của mỗi con người, nhất là trong hoàn cảnh xã hội hiện đại nhiều biến động, bất an
như hiện nay.
2.3. Mở rộng và liên hệ:


(Theo “Thế giới trong ta”)
20


Suy nghĩ của anh chị sau khi đọc xong câu chuyện trên?
A.Gợi ý chung:
-Vấn đề cần bàn: sức mạnh của sự cảm thông, chia sẻ trong cuộc sống.
-Thao tác nghị luận hỗn hợp: bình luận, giải thích, phân tích, chứng minh…
B.Gợi ý triển khai vấn đề:
1.Giải thích, phân tích ý nghĩa câu chuyện:
-Câu chuyện kể về một người đàn bà đang đau buồn, tuyệt vọng vì mất con trai và
bà tìm đế một nhà hiền triết để xin một câu thần chú làm con trai mình sống lại.
Xin một điều không bao giờ có thể xảy ra, điều này vừa cho thấy nỗi khổ đau tột
cùng, vừa cho thấy niềm khao khát được giải thoát khỏi nỗi đau của người mẹ.
-Nhà hiền triết mách cho người mẹ một phương thuốc thần kì có thể chữa đau
buồn: hạt giống cây mù tạc ở một gia đình chưa từng biết đến đau khổ.
-Nhưng hành trình người mẹ đi tìm hạt giống thần kì ấy chính là hành trình nhận
thức của người mẹ về một thực tế thật khắc nghiệt của đời sống: nỗi buồn đau hiện
diện ở khắp nơi, từ những căn nhà cao sang hay những căn gác xép tồi tàn. Đó
cũng là hành trình để bà xua tan nỗi đau khổ: bà quên đi câu hỏi về hạt giống thần
kì mà chỉ còn sự quan tâm, mong muốn sẻ chia nỗi bất hạnh của người khác.
-Ý nghĩa câu chuyện: Chẳng có câu thần chú, phép màu nào có thể xua tan nỗi
buồn đau. Liều thuốc chữa đau buồn tốt nhất là mở rộng lòng để sẻ chia nỗi buồn
đau với những người xung quanh và ngược lại, đồng cảm, sẻ chia với nỗi buồn đau
của họ. Truyện khẳng định sức mạnh của sự cảm thông, chia sẻ trong cuộc sống.
2. Bàn luận:
2.1. Lí giải
?Vì sao sự cảm thông, chia sẻ có thể là liều thuốc chữa đau buồn?
-Khi ta mở rộng lòng chia sẻ nỗi buồn đau của mình với người khác, ta sẽ nhận
được sự đồng cảm, nỗi buồn tự khắc vơi đi.

Ông vua ngồi trên xe đi tới,
22


kiếm cầm trong tay.
Ông nắm tay tôi và bảo
“Ta muốn thuê ngươi bằng quyền lực của ta”
Nhưng quyền lực của y thì có gì đáng kể,
và thế là y lại đi

Dưới trời trưa nóng bỏng
Những ngôi nhà đóng của đứng yên.
Tôi lang thang trên con đường nhỏ quanh co
Một ông già bước ra, mang một túi vàng.
Ông suy nghĩ rồi bảo:
“Ta sẽ thuê ngươi bằng tiền bạc của ta”.
Ông ta nhấc tiền lên, đồng này rồi đồng khác
nhưng tôi đã quay lưng.

Chiều đã xuống, khu vườn nở hoa đầy giậu.
Một cô gái xinh đẹp đến vào bảo
“Tôi sẽ thuê anh bằng một nụ cười”
Nụ cười của cô ta đã nhạt đi
và tan thành nước mắt,
và cô trở về trong bóng tối một mình

Ánh mặt trời long lanh trên cát
23



do, hành trình của một khát vọng. Từ đó, triết lí nảy ra: chỉ khi nào tâm hồn con
người được giải thoát khỏi sự cám dỗ, ràng buộc của quyền lực, tiền tài, sắc đẹp…
nghĩa là những ham muốn, dục vọng vật chất, thì mới có được sự tự do đích thực
trong tinh thần.
2.Bàn luận quan niệm về tự do của Ta-go
2.1. Giải thích khái niệm
-Tự do (của cá nhân) là trạng thái con người tự mình làm chủ mình, không lệ thuộc
vào người khác, không bị người khác chi phối và được nghĩ, được hành động theo
đúng những đòi hỏi của tâm hồn mình trên cơ sở nhận thức về lẽ phải.
-Tự do vừa là bản chất tự nhiên, vừa là khát vọng thường trực của mỗi con người.
Tìm kiếm tự do trở thành bản năng sống của mỗi người. Càng thiếu tự do, con
người càng khao khát tự do.
2.2. Lí giải quan niệm của Ta-go
?Vì sao giải thoát khỏi quyền lực, tiền bạc, sắc đẹp con người sẽ có tự do?
-Bản chất của con người khi sinh ra là tự do. Đó là quyền tự nhiên của mỗi con
người. Quyền lực, tiền bạc, sắc đẹp… là hiện thân cho những mong muốn, dụng
vọng vật chất có thể điều khiển, chi phối suy nghĩ, hành động của con người, khiến
con người không được sống đúng với mong muốn thực sự của mình, nghĩa là mất
tự do. Ngược lại, thoát khỏi cái nhà tù vô hình của dục vọng, con người sẽ có được
tự do trong tinh thần- một biểu hiện cao nhất, sâu sắc nhất của tự do.
?Vì sao tự do tinh thần là biểu hiện cao nhất, sâu sắc nhất của tự do?
-Tinh thần và thể xác của con người dù thống nhất nhưng luôn có sự độc lập tương
đối. Tự do thể xác đôi khi không đồng nghĩa với tự do tinh thần. Và tự do tinh thần
lại quyết định tự do thể xác. Tinh thần cảm thấy không tự do thì thể xác tự do cũng
vô nghĩa. Tinh thần tự do thì ngay cả khi thể xác bị cầm tù, con người vẫn thấy tự
do. Vì thế, tự do tinh thần là biểu hiện cao nhất và sâu sắc nhất của tự do.
-Tự do tinh thần đem đến sự thanh thản và cảm giác sung sướng thỏa nguyện, tức
là cảm giác hạnh phúc nên nó là thứ tự do cao nhất mà con người luôn khao khát,
kiếm tìm.
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status